Nghiên cứu triết học "
Đề tài: TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LỊCH SỬ TRIẾT
HỌC (HỘI NGHỊ BÀN TRÒN VỀ CUỐN SÁCH CỦA
V.V.XÔCÔLỐP “NHẬP MÔN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC”) "
TRIẾT HỌC VỚI TƯ CÁCH LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
(HỘI NGHỊ BÀN TRÒN VỀ CUỐN SÁCH CỦA V.V.XÔCÔLỐP “NHẬP
MÔN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC”)
tôi dẫn từ ngữ đó ra đây với hy vọng là nó được đọc đúng trọng âm. Vả lại, tôi
cũng không thể nói được việc mình đã hiểu apêirôn đến mức độ nào. Niềm vui
được cảm nhận có thể rồi sẽ thoảng qua, song cái sâu thẳm vẫn còn lưu lại mãi.
Tôi tự đặt câu hỏi: vào một thời điểm nào đó, liệu có một ai đó sẽ lại giải mã bí
ẩn của Anaximanđơrơ chăng? Và, liệu bí ẩn có phải nằm ở chỗ để người đời
cứ luôn phải theo đuổi việc giải mã nó hay không? Trong khi đó, điều liên
quan đến đoạn trích nổi tiếng của Anaximanđơrơ lại không dính dáng gì đến
toàn bộ triết học mà công dụng và ý nghĩa của nó không phải chỉ nằm ở chỗ để
người ta biết được cái gì đó, mà là để người ta không thể dừng việc suy nghĩ
của mình lại.
Đương nhiên, không phải những ấn tượng của riêng tôi đã đủ để xác định quan
điểm rộng rãi về cuốn sách đang được thảo luận. Điều đó còn được quy định
bởi đặc trưng của cuốn sách, bởi cái không bình thường của nó. Chính Giáo sư
V.V.Xôcôlốp đã đưa ra một quan điểm rộng rãi, toàn vẹn và chỉnh thể (xem
xét đến tận Cantơ) về triết học trong sự phát triển của nó. Cái ý định đó có thể
dễ dàng dẫn người ta tới chỗ bỏ cuộc. Nếu đó không phải là nhà tài tử không
hiểu gì về triết học, hoặc nếu đó không phải là người liều lĩnh không dưới một
lần trong đời, thì tôi tin rằng không ai dám làm như vậy. Tôi hiểu rằng, đằng
sau cuốn sách này là cả một quá trình hơn 60 năm sống trong triết học, sống
bằng triết học và tác giả có bản quyền của mình, bởi ông đã dày công lao động,
đã say sưa nghiên cứu nhiều năm. Tôi thực sự cảm phục tinh thần dũng cảm
của tác giả. Theo tôi, dù thế nào đi nữa, thì đây vẫn cứ là cú nhảy xuống vực
thẳm. Chẳng lẽ, một người quyết định làm việc đó lại có thể hy vọng vào điều
gì đó hơn là sự đổ vỡ? Điều tôi có thể nói được là, cho đến nay, ý định làm
một công việc như vậy đã chỉ có ở Hêghen. Có một điều gì đó khá giống với ý
định này là hệ vấn đề lịch sử triết học của V.Vinđenbanđơ, là những nỗ lực của
giới triết học mácxít Xô viết khi họ cố hạ lịch sử triết học xuống thành “xiên
thịt nướng” của cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm,
giữa phép biện chứng và phép siêu hình. Thế nhưng, họ đã không đạt tới trình
độ của Hêghen. Còn ở đây, Giáo sư V.V.Xôcôlốp đã cố gắng làm chính việc
là tất cả. Tôi quả quyết rằng, ít ai nhận thức được cái nghĩa đương nhiên, cái
chân lý hiển nhiên: Triết học chính là lịch sử triết học.
Ngay ở trang đầu cuốn sách của V.V.Xôcôlốp, chúng ta đã đọc thấy rằng, việc
giải thích vấn đề triết học “hoàn toàn không thể thực hiện được nếu thiếu tri
thức về toàn bộ lịch sử trước đó của nó”; rằng sự thống nhất giữa cái chính trị
và cái lịch sử không phải trong phạm vi một lĩnh vực tri thức, trong đó có lĩnh
vực tri thức nhân văn, thường không biểu hiện một cách đầy đủ như trong triết
học. Những từ đó phản ánh một tín niệm sâu sắc của tác giả mà trong trường
hợp này, ông cũng có suy nghĩ như một sử gia triết học nổi tiếng - Viện sĩ
T.I.Ôiderơman, người mà với những nghiên cứu của mình đã chứng minh triết
học chính là lịch sử triết học. Nhưng, nếu quả là như vậy (và đúng là như vậy),
nếu học thuyết triết học không thể không là lịch sử của nó, thì từ đó có thể suy
ra rằng, cả lịch sử triết học cũng không thể không là học thuyết của nó. Tuy
nhiên, trên thực tế, trong đời sống triết học của chúng ta – trong đào tạo và
thực tiễn nghiên cứu –, lịch sử và học thuyết luôn bị tách rời nhau, cùng lắm
cũng chỉ là được xếp cạnh nhau. Cũng đã có một số tổ bộ môn lịch sử triết học
và triết học lý luận độc lập công bố các công trình khoa học của mình. Sự chia
tách như vậy, theo tôi, là hậu quả từ thời Xô viết. Khi đó, lịch sử triết học chỉ
được xem như là phần nhập môn, là giai đoạn dự bị để đến với một thứ triết
học tin cậy duy nhất là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Sự khác nhau giữa lịch
sử và lý luận trong triết học, theo tôi, đều chỉ liên quan đến cách thức trình bày
như thế nào cho đúng và điều này, đương nhiên không phải dễ. Theo nghĩa căn
bản thì chúng trùng hợp nhau. Chẳng hạn, tôi không thể hình dung được việc
làm thế nào để hiểu triết học không chỉ của Xôcrát hay của Êpiquya, mà cả của
những nhà tư tưởng tiền triết học Hy Lạp, khi đặt các học thuyết triết học này
ngoài văn cảnh của lý thuyết đạo đức về tính thiện trong đời sống con người.
Và, sẽ càng khó khăn hơn khi một học thuyết đạo đức chưa được toàn bộ lịch
sử triết học khái quát, tổng hợp, tức là chưa đưa ra được một chương trình
chuẩn cho việc nghiên cứu để từ đó, tìm ra một lối sống hoàn thiện hơn. Giáo
sư V.V.Xôcôlốp đặt tên cho cuốn sách của mình là “Nhập môn Lịch sử triết
hàng trăm hệ thống triết học mới và quá trình xây dựng các nền triết học mới
đó hoàn toàn không bao giờ kết thúc. Thế kỷ XX cũng đã sản sinh ra hàng
chục nền triết học danh tiếng, nếu không muốn nói là nhiều hơn thế nữa. Các
nền triết học đó đã được hình thành với những tầm cỡ hoàn chỉnh khác nhau
(không phải tất cả các nền triết học đều đạt được mục đích xây dựng nên các
hệ thống có khả năng giải đáp tất cả mọi vấn đề, đồng thời dùng “khoá” để
đóng vũ trụ lại, chẳng hạn như Plôtin hay Hêghen đã làm). Song, tất cả các nền
triết học đó đều không có ngoại lệ trong việc tuyên bố chân lý mà mình đưa ra
là duy nhất và về thực chất, có thể coi đó là nhận thức triết học cuối cùng về
thế giới. Theo nghĩa đó thì mỗi một nền triết học đều ngang bằng với chính nó.
Người thì thích một số nhà triết học, một số truyền thống triết học này; người
khác lại thích một số nhà triết học, một số truyền thống triết học khác. Song,
không một ai làm được cái việc là sắp xếp các nền triết học đó theo tiêu chuẩn
chân lý cả. Bằng chứng căn bản, mặc dù bằng chứng này làm cho người ta
chán nản và làm cho những người không phải là những nhà triết học khó hiểu,
là ở chỗ, tất cả các hệ thống triết học, tất cả các nền triết học được hình thành
trong nhiều thế kỷ lại có thể so đọ được với nhau theo tiêu chuẩn chân lý. Tính
vô cùng vô tận mà nghịch lý này đưa vào nhận thức triết học là như vậy.
Chừng nào chân lý triết học chỉ có thể tồn tại với tư cách chân lý chỉnh thể -
hoàn chỉnh và mỗi nền triết học đều tự tuyên bố chân lý đó là hiện thân của
mình, thì nó còn phủ nhận (không thể không phủ nhận) các nền triết học cùng
thời hoặc trước đó (đặc biệt là đối với các nền triết học gần gũi với nó), thậm
chí còn phủ nhận một cách mạnh mẽ và thẳng thừng. Mỗi nền triết học, công
khai hoặc không công khai, đều xuất phát từ giả định rằng, các nền triết học
khác là sai, sai không phải trong những phán đoán này hay những phán đoán
khác, hoặc phủ nhận cả các học thuyết đáng lẽ được thừa nhận và đánh giá cao
(thí dụ, những người theo trường phái Xtôit đã từng đối xử như vậy với người
đối lập với mình về tư tưởng là Êpiquya). Họ cho sự sai lầm đó nằm trong thực
chất của các nền triết học ấy. Nói ra chắc là thừa, rằng trong trường hợp này,
không phải nói về tính hiếu danh của các nhà triết học - những người luôn tỏ ra
mỗi lần giải quyết chúng phải có những kiến giải mới phù hợp với nhận thức mới
của khoa học và những nhu cầu mới của xã hội. Những cái đó đều do triết học
nghiên cứu. Để tìm cho được nhận thức mới phù hợp với thời đại của mình và đưa
ra được giải pháp cho những vấn đề vĩnh hằng, triết học phải biết cách hiểu và
cách giải quyết trước đây đối với những vấn đề đó.
Lịch sử triết học với tư cách bộ môn lịch sử mang tính đa dạng, tức là lịch sử
các nền triết học, đồng thời cũng là lịch sử toàn vẹn, thống nhất nội tại dường
như cũng là học thuyết thống nhất về biên niên sử một cách rất cặn kẽ và bao
trùm về mặt không gian. Có thể nói một cách giản đơn và mộc mạc là, vô số
cái được quan niệm trong lịch sử các nền triết học cũng chỉ là những biến
tướng của chính một nền triết học mà thôi. Công trình của V.V.Xôcôlốp (và ở
chính phương diện này mà nó trở nên có giá trị đặc biệt) đã chứng minh cho
chân lý đó. Phát minh chủ yếu của cuốn sách này là ở tư tưởng, ở nhận thức
triết học về các quan hệ chủ – khách thể. Tác giả lấy khái niệm chủ thể và
khách thể không phải ở nội dung triết học đặc biệt nào đó (ông đã thận trọng
định hình lịch sử các thuật ngữ quan trọng mà lịch sử của chúng không hiểu tại
sao lại rơi vào quên lãng), mà ở ý nghĩa rất gần gũi với việc sử dụng các từ đó
trong ngôn từ của tiếng Nga. Đối với tác giả, chủ thể là con người trong sự nỗ
lực hoạt động nhận thức của nó; còn khách thể là những gì mà sự hoạt động đó
hướng tới, đó là thế giới tự nhiên và xã hội, kể cả chính con người với tư cách
một bộ phận của thế giới đó. Thoạt nhìn, chúng ta có cảm giác là, trong trường
hợp này, tác giả đã trình bày một cách chặt chẽ hơn quan niệm đã trở nên quen
thuộc và về thực chất, là sáo rỗng về đối tượng của triết học như là về mối
quan hệ của con người với thế giới. Song, trên thực tế, nếu như tôi hiểu đúng
giáo sư V.V.Xôcôlốp, thì ông đã đề cập đến cái gì đó mới mẻ và hoàn toàn có
nội dung. Ông không chỉ giản đơn là chia tách, phân định chủ thể và khách thể,
mà còn liên kết chúng với nhau. Sự trình bày của ông đã đem lại một vấn đề
quan trọng là, khái niệm chủ thể và khách thể được xem xét trong sự khác biệt
và đối lập của chúng, song quan trọng hơn cả là hai khái niệm đó được thể hiện
trong cách trình bày bằng dấu gạch nối “phân – hợp”. Giáo sư V.V.Xôcôlốp đã
mang tính mệnh đề của B.Rátxen về triết học với tư cách “mảnh đất trống”
nằm giữa tôn giáo và khoa học. Khi nằm giữa khoa học và tôn giáo, khi một
bên được chủ quan hoá đến mức tối đa trong tôn giáo và bên kia được khách
quan hoá cũng đến mức tối đa trong bức tranh (hình ảnh) khoa học về thế giới,
triết học sẽ lựa chọn cho mình cả niềm tin với tư cách phương thức nhận thức
thế giới mang đặc thù tôn giáo lẫn tri thức với tư cách phương thức nhận thức
thế giới mang tính đặc thù của khoa học, hoà trộn chúng vào nhau thành một
cái gì đó mới mẻ. Khiếm khuyết duy nhất của thuật ngữ “tri tín”, theo tôi, là ở
tính phái sinh của nó, là với nó thì dường như triết học không có cơ sở nhận
thức luận riêng của mình. Điều này, không phải ngẫu nhiên, đã khiến tôi liên
tưởng tới vị thế địa – văn hoá của đất nước chúng ta, một nước nằm giữa châu
Âu và châu Á. Do chịu ảnh hưởng của cả hai phía, bởi nó vốn là một phần của
châu Âu, một phần của châu Á, nên nước ta thường được gọi là lục địa Á-Âu.
Khi mang danh lục địa Á - Âu, theo tôi, tính độc đáo và tính hoàn chỉnh của nó
bị giảm đi. Cảm giác này cũng xuất hiện trong suy nghĩ của tôi khi nói đến
thuật ngữ tri tín. Phải chăng, cùng với thời gian, chúng ta sẽ quên đi tính phái
sinh (phối thuộc) của thuật ngữ này để rồi lại cảm nhận nó như một từ độc lập
tương tự như những từ “hình học”, “hớt tóc”, “hạnh phúc” và nhiều từ khác
nữa. Song, có lẽ điều đó chỉ diễn ra trong trường hợp thuật ngữ này mang một
nội dung riêng và được khẳng định một cách đầy đủ cụ thể, được cuộc sống
chấp nhận một cách thông dụng. Có thể nói một cách chắc chắn rằng, đối với
triết học, chúng ta phải có niềm tin. Để có thái độ trách nhiệm đối với những
khái niệm thuộc dạng đơn tử hoặc thế giới của những “vật tự nó”, chúng ta
cần phải đặt
niềm tin vào chúng với sức mạnh không kém gì tín đồ Thiên Chúa giáo tin vào
ngày phán xét và sự huyền bí của Chúa (tin hoàn toàn theo nghĩa của thánh
tông đồ Phaolô). Điều dễ dàng nhận thấy là, triết học cũng có quan hệ họ hàng
với tri thức. Để làm việc có hiệu quả với những khái niệm đó như là tiêu chuẩn
chân lý hoặc tính thiện, chúng ta cần phải có cả một nền văn hoá tri thức với
đúng nghĩa của nó và cả tính chính xác của những phán đoán được áp dụng
mẻ. Trên thực tế, có rất nhiều vấn đề như vậy. Nhìn chung, cuốn sách này đòi
hỏi nhiều cuộc thảo luận. Điều đó có liên quan đến những cách tiếp cận mới,
như việc trình bày khái niệm và thuật ngữ đối với quá trình lịch sử triết học nói
chung, đối với việc giải thích “các thời đại triết học” nói riêng (theo thuật ngữ
của tác giả) và đối với cả việc giới thiệu các nhà tư tưởng cụ thể. Nhìn chung,
cần phải nói rằng, đây là một cuốn sách rất bề thế, rất trí tuệ và có lượng thông
tin rất phong phú. Triết học Nga, như chúng ta đều biết, nổi lên nhờ tính cởi
mở. Giáo sư V.V.Xôcôlốp đã chỉ ra rằng, nền triết học đó có thể khác: nghiêm
túc trong tư duy, tiết kiệm trong lời nói.
Tôi xin được chúc mừng Giáo sư và toàn thể chúng ta nhân sự xuất hiện của
cuốn sách này.r
(Còn nữa)
Người dịch: PGS.TS. TRẦN NGUYÊN VIỆT
Người hiệu đính: PGS.TS. ĐẶNG HỮU TOÀN
(Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam)