Đề tài: " VAI TRÒ CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT ĐỐI VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC NƯỚC TA " - Pdf 21


Nghiên cứu triết học

Đề tài: " VAI TRÒ CỦA TƯ DUY BIỆN
CHỨNG DUY VẬT ĐỐI VỚI SINH VIÊN
ĐẠI HỌC NƯỚC TA "
VAI TRÒ CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG DUY VẬT ĐỐI VỚI SINH VIÊN
ĐẠI HỌC NƯỚC TA
Hoàng Thúc Lân
(*)

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức,
cùng với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị
trường đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói
riêng phải đào tạo được đội ngũ những công chức, những nhà khoa học,
những kĩ sư, bác sĩ… giỏi về chuyên môn, có khả năng vận dụng tri thức
khoa học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả nhất. Để
nâng cao chất lượng giáo dục đại học, cụ thể là không chỉ trang bị cho sinh
viên tri thức khoa học, mà cả năng lực kết hợp lý luận với thực tiễn, gắn học

khó khăn và dễ mắc sai lầm trong việc phân tích để tìm ra đâu là nguyên nhân
cơ bản trong vô số những nguyên nhân tác động tới một sự vật, hiện tượng,
hoặc tỏ ra lúng túng không xác định được mối quan hệ chủ yếu, bản chất của
vấn đề đang nghiên cứu để tập trung giải quyết. Nói cách khác, do ít được rèn
luyện năng lực tư duy biện chứng, hầu hết sinh viên thường rơi vào thế thụ
động; tư duy của họ chưa đi sâu vào bản chất, cũng như các mối quan hệ của
vấn đề. Trên thực tế, họ ít có khả năng nhìn nhận, đánh giá các vấn đề cả
trong học tập lẫn thực tiễn cuộc sống một cách đúng đắn, khoa học; trái lại, tư
duy của họ còn siêu hình, cứng nhắc, thường quá đề cao hoặc tuyệt đối hoá
lĩnh vực này, xem nhẹ lĩnh vực khác. Có một số sinh viên chỉ chú ý tới việc
học, không tham gia vào các hoạt động thực tiễn của đoàn thể, nhà trường
Tình trạng này dẫn đến chỗ kết quả giáo dục không toàn diện, năng lực nhận
thức và hoạt động thực tiễn mang tính sách vở, giáo điều, chỉ giỏi về lý thuyết
mà chưa biết vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống. Bên cạnh
đó, nhiều sinh viên còn nhận thức sai lệch về vai trò của các môn học, cộng
thêm tư tưởng thực dụng; chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không có chiến lược
phát triển cho tương lai, chỉ tập trung vào các môn học chuyên ngành, không
chú ý tới các môn hỗ trợ và các lĩnh vực khác nên xảy ra hiện tượng mù chữ
chức năng (nhất là tin học và ngoại ngữ) - một hiện tượng khá phổ biến hiện
nay; không ít sinh viên thờ ơ với các vấn đề chính trị, thậm chí bị kẻ xấu lợi
dụng, hoặc mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù.
Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên là do sinh viên chưa nghiêm túc
học tập, rèn luyện phương pháp tư duy biện chứng duy vật của triết học Mác -
Lênin. Kết quả điều tra từ 954 sinh viên của 4 trường đại học ở Hà Nội cho
thấy: khi chưa được trang bị tư duy biện chứng, có 50,62% số sinh viên cho
rằng, tư duy của họ lệ thuộc hoàn toàn vào các khoa học cụ thể; 35,53% sinh
viên thừa nhận còn nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách thụ động, máy móc
và theo cảm tính; 59,74% thừa nhận tư duy của họ mới chỉ dừng lại ở trình độ
mô tả, liệt kê, thiếu tính hệ thống và khái quát
[i]

sâu chuỗi vấn đề, phát hiện sự liên hệ giữa chúng chứ không đánh giá sự vật,
hiện tượng một cách rời rạc, lẻ tẻ và biệt lập khỏi các mối quan hệ đa dạng
vốn có; từ đó, tìm ra được cốt lõi, bản chất và những mối liên hệ cơ bản nhất
để tập trung giải quyết một cách có hiệu quả. Kết quả của cuộc điều tra (đã
nói ở trên) cho thấy: sau khi được trang bị tư duy biện chứng duy vật, trong
số 954 sinh viên của 4 trường đại học được hỏi, có 41,29% sinh viên cho
rằng, họ đã khắc phục được những hạn chế và có tư duy tốt hơn, đúng đắn
hơn; 53,77% sinh viên cho rằng, họ đã có thể bước đầu vận dụng phương
pháp tư duy biện chứng duy vật vào việc nhận thức và giải quyết những vấn
đề trong thực tiễn; chỉ có 4,06% sinh viên cho rằng, tư duy của họ không có
gì thay đổi
[iii]
.
Thứ hai, tư duy biện chứng duy vật giúp cho sinh viên khắc phục được tư
tưởng bảo thủ, trì trệ và thái độ định kiến với cái mới. Thiếu nguyên tắc phát
triển của tư duy biện chứng duy vật, sinh viên dễ mắc phải sai lầm khi nhận
thức các vấn đề, thường rơi vào duy tâm, siêu hình, không thấy rằng động lực
nội tại của sự phát triển chính là sự giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật
và hiện tượng. Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên còn tin vào số phận, bói
toán, mê tín dị đoan; chưa có năng lực làm chủ nhận thức và hành động nên
khi gặp phải những khó khăn trong cuộc sống, trong nghiên cứu khoa học, họ
thường rơi vào tình trạng bi quan, chán nản và đổ lỗi cho hoàn cảnh hoặc thụ
động chấp nhận hoàn cảnh. Điều này biểu hiện qua suy nghĩ và hành động
của một số sinh viên, như lười học tập, không kiên trì tích luỹ kiến thức, học
chỉ mang tính đối phó; họ không làm chủ được kiến thức nên hoang mang, lo
sợ, thậm chí có người đi lễ bái cầu mong sự che chở để vượt qua những khó
khăn đang phải đối mặt. Có những sinh viên chưa phát huy hết năng lực của
bản thân, còn có thái độ dựa dẫm, ỷ lại; suy nghĩ và hành động không thống
nhất. Kết quả điều tra 500 sinh viên năm thứ hai các khoa Sinh, Sử, Toán,
Văn, Lý của trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho thấy: có 45,37 % sinh viên

thức và hoạt động thực tiễn tiếp theo. Đa số sinh viên còn chậm đổi mới
phương pháp, thói quen cũ trong học tập ở bậc phổ thông - những phương
pháp không phù hợp với cách học và nghiên cứu ở cấp đại học. Đây cũng là
một lý do khiến nhiều sinh viên phải thi lại, thậm chí phải học lại môn học.
Nguyên tắc lịch sử cụ thể đòi hỏi chủ thể trong quá trình nhận thức và nghiên
cứu phải đi tìm nguồn gốc, nguyên nhân của quá trình vận động và phát triển
của sự vật trong những hoàn cảnh, điều kiện cụ thể; phân tích và nắm bắt
được những đặc tính vốn có, cũng như sự thay đổi của từng thuộc tính trong
những tình huống nhất định để nhận thức xu hướng vận động, biến đổi, phát
triển của sự vật một cách chính xác. Nguyên tắc này còn giúp cho sinh viên
thấy được tính lịch sử của tri thức khoa học để từ đó, có thái độ học tập,
nghiên cứu một cách khoa học, đúng đắn và nghiêm túc, tránh tuyệt đối hoá
tri thức khoa học đã có trong mọi hoàn cảnh; ngược lại, luôn bổ sung những
tri thức mới phù hợp với sự vận động của thực tiễn cuộc sống.
Thứ tư, tư duy biện chứng duy vật giúp cho sinh viên nhìn nhận sự vật, hiện
tượng một cách khách quan và khoa học, khắc phục sai lầm chủ quan. Thiếu
nguyên tắc khách quan của tư duy biện chứng duy vật, việc nhận thức trong
học tập và nghiên cứu của sinh viên sẽ gặp nhiều hạn chế. Trong học tập và
nghiên cứu, có những sinh viên mắc bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hoá
nhận thức của bản thân, xa rời thực tiễn, lấy lòng nhiệt tình thay cho sự yếu
kém về tri thức khoa học, việc học tập còn mang nặng tính kinh viện, sách vở,
học thuộc lòng câu chữ, chưa chú trọng chất lượng. Tư duy biện chứng duy
vật đòi hỏi sinh viên khi phản ánh, nhận thức đối tượng phải bảo đảm nguyên
tắc khách quan, nắm được quy luật vận động, biến đổi, phát triển của nó; phải
tôn trọng và dựa vào quy luật khách quan để rút ra những kết luận khoa học
đúng đắn, nâng cao chất lượng học tập và nghiên cứu khoa học của mình. Khi
nắm vững nguyên tắc này, sinh viên có thể đạt được sự nhận thức khoa học:
nghiên cứu và giải quyết vấn đề phải xuất phát từ bản thân sự vật, quan sát tỉ
mỉ chính xác để nắm bắt các thuộc tính của sự vật và đi sâu phân tích, khảo
sát, khái quát hoá rút ra những kết luận khoa học; đồng thời bổ sung và kiểm

. Sinh viên ít tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học, nếu
có thì chất lượng công trình cũng không cao, chủ yếu là mô tả, “tầm chương
trích cú”. Để cải thiện và nâng cao năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn
cho sinh viên, không có cách nào khác là phải bồi dưỡng cho họ phương pháp
tư duy biện chứng duy vật. Nó mang lại cho sinh viên phương pháp nhận thức
khoa học, cho phép tiếp cận và nắm bắt các tri thức một cách tinh tế, sâu sắc
và linh hoạt hơn. Qua đó, sinh viên còn được rèn luyện năng lực vận dụng
sáng tạo những tri thức khoa học để luận giải những vấn đề thực tiễn một
cách có hiệu quả, kích thích khả năng gắn lý luận với thực tiễn, hiểu sâu sắc
hơn các vấn đề đã được học tập, khắc phục tình trạng học máy móc, chỉ thuộc
lòng câu chữ.
Được học tập và trang bị phương pháp tư duy biện chứng duy vật, sinh viên
không chỉ hình thành cho mình bản lĩnh khoa học, nguyên tắc, phương pháp
nhận thức khoa học, mà còn có khả năng vận dụng tri thức chuyên môn vào
cuộc sống, biết tu dưỡng và rèn luyện bản thân để phát triển toàn diện. Đồng
thời, tư duy biện chứng duy vật còn giúp cho sinh viên chống lại quan điểm
duy tâm, siêu hình, mê tín dị đoan; có lăng kính khoa học đúng đắn để nhận
thức và giải quyết các vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đặt ra.
Người xưa đã từng nói rằng, hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí
mạnh thì đất nước thịnh, nguyên khí yếu thì đất nước suy. Nhận thức được
tầm quan trọng này, ngành giáo dục đào tạo nước ta, đặc biệt là giáo dục ở
bậc đại học, phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng để đào tạo ra
những nhà khoa học giỏi về chuyên môn, có năng lực tư duy biện chứng phát
triển ở trình độ cao. Cụ thể, chúng ta cần tập trung giải quyết một số vấn đề
quan trọng: 1) Đẩy mạnh việc giảng dạy các môn khoa học trang bị tư duy
biện chứng, như Triết học Mác - Lênin, Lôgíc học, Toán học…; 2) Thường
xuyên đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, gắn các trường đại học
với các viện nghiên cứu khoa học và các doanh nghiệp; 3) Đẩy mạnh hoạt
động nghiên cứu khoa học của sinh viên. Đó là con đường để nâng cao chất
lượng giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status