Đề tài triết học MỐI QUAN HỆ TAM GIÁO TRONG SỰ
NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ
QUỐC GIA ĐỘC LẬP THỜI LÝ - TRẦN
MỐI QUAN HỆ TAM GIÁO TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO
VỆ QUỐC GIA ĐỘC LẬP THỜI LÝ - TRẦN BÙI THANH PHƯƠNG*
Bài viết góp phần luận chứng một hiện tượng độc đáo, có một không hai trong
lịch sử của dân tộc, đó là mối quan hệ tam giáo trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ quốc gia độc lập dưới thời Lý – Trần. Theo tác giả, cả Phật giáo, Nho
giáo và Đạo giáo đều được Nhà nước phong kiến sử dụng và khuyến khích phát
triển; tam giáo này không chỉ ảnh hưởng và tác động lẫn nhau, mà còn cạnh
tranh với nhau để giành vị trí hàng đầu.
Sau hơn một nghìn năm bị phong kiến phương Bắc đô hộ, với chiến thắng Bạch
lần xuống chiếu viết kinh Tam Tạng, cho in lại các sách Phật giáo phổ biến
trong thiên hạ và cấp độ điệp cho nhân dân trong nước làm tăng(2). Chính nhờ
sự quan tâm lớn của nhà nước phong kiến nên các dòng Thiền vào Việt Nam lúc
này được dịp phát triển độc lập và mang bản sắc riêng của Việt Nam, đóng vai
trò quan trọng trong hệ tư tưởng của các triều đại, như phái Thảo Đường thời
Lý, phái Trúc Lâm thời Trần. Tuy nhiên, việc đề cao Phật giáo quá mức cũng
dẫn đến những hệ quả khôn lường: "Phật giáo tràn lan khắp nơi, bên cạnh cái tốt
cái hay, đã xuất hiện cái dở cái xấu"(3). Năm 1344 là năm mất mùa đói kém
nhưng nhiều người lại đi tu, thậm chí "số sư sãi ngang gần với số phu dịch"(4).
Những vấn đề trên đã ảnh hưởng đến sức sản xuất và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
cũng như sự phát triển của xã hội. Bởi vậy, nhà nước phong kiến lúc đó đã buộc
phải đưa ra nhiều biện pháp hạn chế: sa thải các tăng đạo chưa đến năm mươi
tuổi, bắt phải hoàn tục v.v Ngoài những nguyên nhân chủ quan như trên,
nguyên nhân quan trọng nhất làm suy yếu Phật giáo là hệ thống giáo lý của Phật
giáo đã không đáp ứng được yêu cầu xây dựng nhà nước phong kiến trung ương
tập quyền ở nước ta thời kỳ đó.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo, nền giáo dục Nho học đã dần
dần đi vào nề nếp và phát triển, "có ý nghĩa rất to lớn đối với sinh hoạt văn hoá
và tư tưởng của nước Đại Việt"(5) sau này. Tại sao vậy? Vì Phật giáo là học
thuyết về giải thoát con người nhưng lại chưa đáp ứng được yêu cầu xây dựng
một nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh. Trong khi đó, Nho giáo với các
tư tưởng "trung quân”, “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" dường như đáp
ứng được yêu cầu này. Mặt khác, Nho giáo lúc bấy giờ ở phương Bắc tuy có
những hạn chế, nhưng đối với nước ta thì nó vẫn có ý nghĩa tích cực nhất định
trong việc xây dựng đạo đức, lối sống và sự phát triển văn hoá của người Việt.
Vì vậy, sau khi xây dựng Văn Miếu, năm 1075, triều đình phong kiến đã mở
khoa thi Minh Kinh bác học. Sang tới triều Trần, các khoa thi được mở 7 năm
một lần để chọn nhân tài.
Tình hình trên làm cho nền văn hoá Đại Việt có bước phát triển về chất so với
thời kỳ trước đó. Nếu như văn hóa, tư tưởng thời Lý còn chịu ảnh hưởng lớn
đại đã có chính sách mở rộng nhằm tiếp thu những yếu tố thích hợp của Nho
giáo, biến nó thành công cụ điều hành, quản lý nhà nước và bảo vệ đất nước.
Mặt khác, học thuyết của đạo Lão ở phương diện uyên áo, thần bí vẫn phát huy
tác dụng trong hoàn cảnh niềm tin của nhân dân ta vốn cởi mở do tín ngưỡng đa
thần truyền thống; vì vậy, nó trở thành yếu tố "phụ" trong các mục đích khác
nhau của nhà nước. Có thể nói, mối quan hệ tam giáo trong thời kỳ này được thể
hiện trên tất cả các lĩnh vực, góp phần làm nên bản sắc riêng của văn hoá Đại
Việt, nhất là trong công cuộc bảo vệ đất nước.
Sau khi đất nước giành được độc lập năm 938, một vấn đề quan trọng đặt ra là
cần phải có một chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh. Đây là một yêu
cầu khách quan, một xu hướng tất yếu của lịch sử, bởi trong điều kiện cụ thể lúc
đó, chỉ có nhà nước tập quyền mới có khả năng thống nhất được quốc gia, lãnh
đạo việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Thời kỳ này, Phật giáo vẫn chiếm ưu thế
và được nhà nước phong kiến đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, với thế giới quan,
nhân sinh quan yếm thế, Phật giáo tỏ ra không phù hợp với yêu cầu xây dựng
nhà nước phong kiến trung ương tập quyền. Chỉ trong vòng mấy chục năm đầu
thời kỳ độc lập, đã có tới ba triều đại liên tiếp thay đổi. Đương nhiên, điều này
không phải là do Phật giáo và Đạo giáo được chú trọng, còn Nho giáo thì
không. Vấn đề là ở chỗ, các triều đại lúng túng trước sự lựa chọn mô hình nhà
nước và kèm theo đó là hệ tư tưởng thích hợp với nó. Vì vậy, sang thời kỳ Lý -
Trần, việc vận dụng những tư tưởng của Nho giáo nhằm xây dựng và củng cố
chính quyền nhà nước là một yêu cầu quan trọng. "Ngay từ thời Lý, nhà vua đã
nhiều lần nhấn mạnh trong lời phát ngôn của mình về một khuôn mẫu lý tưởng
của nhà nước phong kiến. Khuôn mẫu đó là cái nhà nước “Tam đại”, “Thang
Võ”, “Đường Ngu Nghiêu Thuấn”"(7). Đào Cam Mộc coi việc lên ngôi của Lý
Công Uẩn là: " trên thuận lòng trời, dưới theo lòng dân". Chiếu dời đô của Lý
Công Uẩn nói lên ý nguyện " mưu chọn ở chính giữa làm kế cho con cháu
muôn đời"(8). Theo tư tưởng Nho giáo, chỉ có đóng đô ở trung tâm mới quản lý
được sự thống nhất của đất nước. Việc củng cố vương quyền của nhà vua cũng
được khẳng định, "vì ngôi chí tôn và quyền hạn tối thượng của nhà vua có ý
gian giác", thì các dòng thiền khi vào Việt Nam đã thể hiện tính nhập thế mãnh
liệt hơn, tích cực hơn do hoàn cảnh thực tiễn của đất nước đòi hỏi. Khi đánh giá
tinh thần nhập thế của các thiền sư thời Lý - Trần, các tác giả cuốn Lịch sử tư
tưởng triết học Việt Nam, tập 1, viết: "Có một sự gắn bó huyết thống, một sự
thâm nhập vào nhau hết sức chặt chẽ giữa thế lực cầm quyền và thế lực Phật
giáo… Không có thời nào mà sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tôn giáo lại được
sự tham gia rộng khắp, hăm hở tinh thần nhập thế đến như vậy của các thiền
sư"(13).
Thời kỳ này, nhiều nhà sư đã tham gia công việc của chính quyền; thậm chí họ
còn liên quan đến hưng và phế của cả một triều đại. Trước cuộc xâm lược lần
thứ nhất của nhà Tống, với tư cách "quốc quân của triều đình" Tiền Lê, nhà sư
Khuông Việt đã thay mặt nhà vua đến ngôi đền mà ông lập thờ người gặp trong
mộng là Tỳ Sa Môn để cầu xin thần phù hộ. Như vậy, yếu tố đạo giáo phù thuỷ
thần linh cũng được sử dụng như một yếu tố tinh thần để chống giặc ngoại xâm.
Sư Đa Bảo dùng tư tưởng "mệnh Trời" để nói với Lý Công Uẩn thuở còn hàn vi
rằng, mệnh Trời đã định như thế dù trốn tránh cũng không được. Sư Vạn Hạnh,
người có công lớn trong việc đưa thân vệ Lý Công Uẩn lên ngôi, đã được vua
Lý Nhân Tông truy tán: "chống gậy trấn kinh kỳ". Câu chuyện Lý Thần Tông
lên ngôi rất ly kỳ, đầy rẫy những yếu tố ma thuật, mê tín. Nhưng nếu tách bỏ
những yếu tố ma thuật huyền bí đó thì sư Từ Đạo Hạnh là người có công lớn
trong việc đưa Lý Thần Tông lên ngôi. Thực tế cho thấy, trong thời kỳ này,
nhiều nhà sư đã kết hợp tư tưởng Nho, Lão để góp phần vào sự nghiệp xây dựng
và củng cố chính quyền vững mạnh. Khi trả lời vua Lý Nhân Tông hỏi về kế
"hưng vong trị loạn", quốc sư Viên Thông đã khuyên vua phải "hành xử đức
hiếu sinh cho hợp lòng dân", có vậy thì thiên hạ mới được yên và nhà vua sẽ
được "dân kính yêu như cha mẹ, ngưỡng mộ như mặt trăng mặt trời"(14). "Đức
hiếu sinh" của Viên Thông là sự kết hợp tinh thần của tam giáo; trong đó, tư
tưởng đức trị của Nho giáo, nguyên tắc thuận theo tự nhiên của Lão giáo và tinh
thần cứu khổ cứu nạn của Phật giáo được thể hiện. Đề cập đến việc trị loạn, nhà
sư Viên Thông nhấn mạnh: "Trị hay loạn là ở dân, quan lại được lòng dân thì trị,
tiện cứu giúp chúng sinh mà thôi nên "phải kính nhận nó""(18). Như vậy, có thể
nói, "đức hạnh" của Nho giáo được kết hợp với "sức định tuệ" để cứu giúp
chúng sinh. Sự kết hợp Nho, Phật ở đây thật là nhuần nhuyễn. Điều đó chứng tỏ
rằng, sức lan toả của Phật giáo tới giới trí thức ở Giao Châu lúc bấy giờ là rất
lớn.
Tăng phó Nguyễn Thường còn dùng chính điển tích trong Kinh Thi của Nho
giáo để can gián vua đừng có chơi bời quá độ. Ông nói: "Ta nghe bài tựa Kinh
Thi nói rằng: Âm thanh của nước loạn ai oán và bực tức, nay dân loạn, nước
nguy, chúa thượng chơi bời không điều độ hiểu biết về, chính sự của triều đình
thì rối loạn, lòng dân trái lìa, đó là triệu chứng bại vong"(19). Những lời nói trên
chứng tỏ sự am hiểu của nhà sư về Nho giáo hết sức uyên thâm. Lời khuyên của
quốc sư triều đình đối với vị vua đầu tiên của nhà Trần rất cụ thể và thấm đậm
màu sắc Nho giáo: "Phàm là người làm vua thì lấy tâm của thiên hạ làm tâm của
mình, lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình"(20). Đó là tư tưởng "dĩ thiên
hạ chi dục vi dục dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm" của Nho giáo được thiền sư phát
biểu. Phải chăng đây chính là lý do khiến "Phật giáo thời Lý - Trần mang một
tinh thần tiến bộ, vì nước, vì dân, quên thân phục vụ, hay cũng chính là tinh thần
vô ngã vị tha của nhà Phật"(21). Nhờ thấm nhuần tư tưởng đó, trước họa xâm
lăng của kẻ thù và nguy cơ mất nước, các nhà sư đã vượt lên trên giới luật của
Phật giáo để tham gia công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, như sư Khuông
Việt, Vạn Hạnh. Không những vậy, các ông còn là những nhà tham mưu quân
sự kiệt xuất, có khả năng dự đoán thế thắng thua của kẻ thù. Với "tinh thần vô
ngã vị tha", khi luận về vận nước dài, ngắn, nhà sư Pháp Thuận đã đáp lại vua
Lê Đại Hành:
"Ngôi nước như mây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trên điện các
Chốn chốn tắt đao binh"(22).
Ở đây, khái niệm "vô vi" được vận dụng vào công cuộc trị nước. "Vô vi" chính
là chính sách trị nước của Lão Tử (vô vô vi, tắc vô bất trị), có nghĩa là để cho
(3) Nguyễn Hùng Hậu. Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam. Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997, tr.29.
(4) Thơ văn Lý - Trần, t.1. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.526.
(5) Nguyễn Tài Thư (chủ biên). Lịch sử tư tưởng Việt Nam. Sđd., t.1. tr.155.
(6) Nguyễn Hùng Hậu. Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam. Sđd.,
tr.31.
(7) Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần. Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội,1981, tr.579.
(8) Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., t.1, tr.186, 190.
(9) Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần. Sđd., tr.580.
(10) Thơ văn Lý - Trần. Sđd., t.1, tr.321.
(11) Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., t.2, tr.161.
(12) Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., t.2. tr.134.
(13) Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên). Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam (Từ
đầu Công nguyên đến thời Trần - Hồ), t.1. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006,
tr.122.
(14) Phân viện Nghiên cứu Phật học. Thiền uyển tập anh (Ngô Đức Thọ,
Nguyễn Thuý Nga dịch và chú giải). Nxb Văn học, Hà Nội, 1990, tr.192, 240.
(15) Phân viện Nghiên cứu Phật học. Thiền uyển tập anh. Sđd., tr.240.
(16) Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., t.2. tr.89.
(17) Phân viện Nghiên cứu Phật học. Thiền uyển tập anh. Sđd., tr.240.
(18) Phân viện Nghiên cứu Phật học. Thiền uyển tập anh. Sđd., tr.43.
(19) Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd., t.1, tr.299.
(20) Thơ văn Lý - Trần. Sđd., t.2. tr.114.
(21) Nguyễn Hùng Hậu. Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam. Sđd.,
tr.34.
(22) Phân viện Nghiên cứu Phật học. Thiền uyển tập anh. Sđd., tr.181.
(23) Nguyễn Hiến Lê. Lão Tử. Nxb Văn hoá, Hà Nội, tr.165-166.
(24) Phân viện Nghiên cứu Phật học. Thiền uyển tập anh. Sđd., tr.106.