MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là một nội dung cơ bản của phương pháp
biện chứng cách mạng được Hồ Chí Minh quán triệt trong suốt đời hoạt
động cách mạng của mình. Hồ Chí Minh đã không nói cụ thể “dĩ bất biến,
ứng vạn biến” là gì, song chính bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của
Người là câu trả lời sinh động và đầy thuyết phục cho phương pháp đó. Đối
với thực tiễn cách mạng, đó là sự kết hợp giữa tính kiên định về nguyên
tắc, lập trường quan điểm với sự linh hoạt về phương pháp và cách xử trí
trước mọi tình huống. Phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được xem
là phương kế giữ nước hiệu quả nhất, có sức tác động mạnh mẽ nhất kể cả
ở thời bình cũng như khi thế nước “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trước muôn vàn khó
khăn, thử thách, vận dụng phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ
chủ tịch, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi trở ngại,
nhìn rõ sai lầm, khuyết điểm, đưa đất nước vào thời kỳ đổi mới và tiến
bước theo con đường xã hội chủ nghĩa, xây dựng một đất nước Việt Nam
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Cũng theo
phương châm này, Đảng ta kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, dựa vào dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới, chủ động
và tích cực hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là triết lý có ý nghĩa vô cùng to lớn và
quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại trong hệ thống lý luận cho toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân ta. Vì vậy, chúng ta cần phải luôn gắn lý luận với thực tiễn,
từ phương châm đi đến hành động theo tấm gương Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ
1
2
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: tác giả sử dụng phương pháp luận macxit là chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa MácLênin.
- Phương pháp chung: loogic – lịch sử, phân tích hệ thống
- Phương pháp cụ thể: tổng hợp, đánh giá...
6. Kết cấu tiểu luận
Tiểu luận gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận
Phần nội dung gồm 2 chương 4 tiết và phần danh mục tài liệu tham
khảo.
3
NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN
TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1 Quan điểm về triết lý “Dĩ bất biến ứng vạn biến”
“Dĩ bất biến, ứng vạn biến” - là câu nói nổi tiếng của Hồ Chí Minh
vào thời điểm ngày 31 tháng 5 năm 1946 khi chính quyền cách mạng non
trẻ vừa mới ra đời đã phải đối mặt với thù trong giặc ngoài. Trước khi lên
đường sang nước Pháp để cứu vãn nền hòa bình, Người giao cho cụ Huỳnh
Thúc Kháng đảm trách quyền chủ tịch nước với lời dặn dò: “mong cụ ở
nhà: dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Có thể nói rằng: cái gọi là thế giới quan và
phép biện chứng của Hồ Chí Minh quy tụ ở câu nói nổi tiếng trên đã trở
thành nguyên tắc chỉ đạo tư tưởng và phương châm ứng xử trong hành
động của Người cũng như các thế hệ cách mạng sau này.
chúng được hạnh phúc. Lô-gíc đó tất yếu dẫn đến tư tưởng của Người
là gắn giải phóng dân tộc (nước độc lập) với chủ nghĩa xã hội (dân
được hưởng tự do, hạnh phúc, dân chủ) - tư tưởng trung tâm, cốt lõi
của Người.
Cái vạn biến ở Hồ Chí Minh vô cùng phong phú, đa dạng, muôn hình
muôn vẻ, đó là toàn bộ sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân. Trừ những cái bất biến nói trên, còn tất cả là cái vạn biến. Cái vạn biến
này phản ánh sự phong phú đa dạng của thực tiễn cách mạng đang biến đổi
từng giây, từng phút, từng ngày, từng tháng. Đó còn là đường lối, sách lược
cụ thể cho từng thời kỳ, từng giai đoạn. Trong cái vạn biến đó lại xuất hiện
những cái bất biến ở cấp, mức độ thấp hơn, ở phạm vi hẹp hơn, nhưng tất cả
những cái bất biến ở cấp thấp hơn này đều phải hướng đến bốn cái bất biến
lớn nhất được chỉ ra ở trên. Ví dụ, trong mỗi lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính
trị, ngoại giao...trong mỗi thời kỳ cụ thể lại có những cái bất biến của nó.
Những cái bất biến này là bất biến trong một lĩnh vực cụ thể ở mỗi giai đoạn
nhất định, nhưng lại là cái vạn biến so với bốn cái bất biến nói trên.
5
Như vậy, triết lý "dĩ bất biến, ứng vạn biến" có nghĩa là lấy cái
bất biến (cái không thay đổi) ứng phó với cái vạn biến (cái thay đổi),
ứng phó với cái vạn biến nhưng không xa rời, vứt bỏ, đánh mất cái bất
biến, tuyệt đối không thể đem cái bất biến ấy ra mua bán, đổi chác.
Hoàn cảnh luôn thay đổi, cuộc sống cũng như sự nghiệp cách mạng
luôn thay đổi, phát triển, bởi vậy, sách lược trong từng lĩnh vực cụ thể
cũng phải mềm dẻo, uyển chuyển, thay đổi (cái vạn biến). Nhưng dù có
mềm dẻo, uyển chuyển, thay đổi như thế nào đi chăng nữa cũng không
được quên mục đích cuối cùng (cái bất biến).
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” là một “cẩm nang”, là sự kết tinh lý luận
và phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh, là một bước triển khai sâu
hạnh phúc cho nhân dân. Cái “một” ấy là “bất biến” ở Hồ Chí Minh.
Những lúc Người phải ẩn nấp nơi núi non, hay ra vào chốn tù tội, là “một
chiến sĩ vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận” hay “Chủ tịch nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, là người lãnh đạo hay là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân...thì cũng đều vì cái “một”, cái “bất biến” ấy. Sự
kiên định lập trường, mục tiêu, lý tưởng xuyên qua cuộc đời đầy sự kiện
sinh động của Hồ Chí Minh chính là sự thể hiện quan điểm “dĩ bất biến,
ứng vạn biến”. “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” thực sự là một hạt ngọc quý
khảm trong tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, trong lý luận và phương
pháp biện chứng của Hồ Chí Minh nói riêng. Tóm lại, “biến” là phạm trù
triết học có vị trí đặc biệt quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh và có nội
hàm rất phong phú, vừa bao hàm phương diện khách quan (biến đổi), vừa
bao hàm phương diện chủ quan (tích cực hành động, cải tạo). Sự triển khai
phạm trù “biến” thành bộ ba “thiên biến vạn hoá” - “tuỳ cơ ứng biến” - “dĩ
bất biến, ứng vạn biến” đã cấu thành những nội dung quan trọng trong
phương pháp luận triết học của Hồ Chí Minh. Đặc điểm của cơ bản của
toàn bộ phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh chính là nhận thức “biến”,
chế ngự “biến” và thúc đẩy “biến”, hay nói theo ngôn ngữ của phép biện
chứng duy vật là nhận thức đối tượng (tự nhiên, xã hội và con người) trong
trạng thái vận động theo quy luật nội tại, từ đó điều chỉnh hoạt động nhận
7
thức và hoạt động thực tiễn của chủ thể, thúc đẩy quá trình biến đổi của đối
tượng phù hợp với quy luật nội tại của nó như đã được nhận thức. Xuyên
qua toàn bộ các quan điểm biện chứng nói trên là sự khẳng định và đề cao
tính chủ thể năng động của con người. Được thể hiện dưới hình thức ngôn
ngữ triết học truyền thống phương Đông, song trong các quan điểm quan
trọng nói trên, ta thấy rõ sự kết hợp giữa “chất” biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác, “chất” biện chứng nhân văn của triết học truyền thống phương
cái đó quyện chặt vào nhau, gắn liền mật thiết, chặt chẽ với nhau,
không tách rời nhau, triết lý hướng đến hành động, hành động nói lên
triết lý, trong triết lý đã bao hàm xu thế hành động, trong hành động
có triết lý, triết lý và hành động gắn chặt với nhau tạo nên triết lý hành
động Hồ Chí Minh mà không phải vĩ nhân nào cũng có được.
Ý nghĩa sâu xa của triết lý này là trong cuộc sống nên nắm giữ
cái lớn lao, đừng có sa vào những cái vụn vặt nhất thời, nên đứng ở
chốt (cái bất biến) mà quan sát, từ đó dung hòa, quân bình vạn vật.
Những bậc thánh nhân luôn đứng ở cái bất biến mà quan sát cái vạn
biến, dùng bất biến ứng phó với vạn biến, do đó mà thánh nhân trường
cửu (bất biến). Không nắm được cái bất biến mà suốt đời cứ chạy theo
cái vạn biến thì cả đời mỏi mệt. Nói cụ thể, trong cuộc đời mỗi người nên
nhìn ra cái lớn, chứ đừng nên sa vào những cái vụn vặt, tầm thường; phải
nhận ra đâu là bản thể trong cái hiện tượng, đâu là cái vĩnh hằng trong cái
tạm thời, đâu là cái không thay đổi trong cái thay đổi, đâu là cái toàn thể
trong cái cục bộ, đâu là cái bất biến trong cái vạn biến, còn nếu không,
ta rất dễ lạc vào cái mê cung, lạc vào rừng rậm của những sự kiện lẻ tẻ,
vụn vặt mà không biết đường ra.
1.2 Tiếp cận tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh
dưới góc độ triết học
Có thể nói, cái cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng
tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin thích ứng với thực tiễn cách mạng
nước ta và bối cảnh quốc tế. Tư tưởng của Người về “dĩ bất biến, ứng vạn
biến” có thể hiểu lấy cái bất biến - cái không thay đổi, để ứng phó với cái
9
vạn biến - cái thay đổi nhưng không được xa rời cái bất biến. Nói một cách
cụ thể hơn đó là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc,
tính kiên định, tính vững chắc với tính linh hoạt, tính uyển chuyển của sách
tính cương nghị về nguyên tắc với tính mềm dẻo, linh hoạt về sách lược,
lấy cái đại đồng để khắc phục cái tiểu dị, đi từ dân tộc đến giai cấp, nhằm
mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phân hoá và cô lập kẻ thù chính, giành thắng
lợi cho độc lập dân tộc để từng bước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Và, cả cuộc
đời của Người là cả một quá trình phấn đấu không mệt mỏi để thực hiện
được cái lý tưởng lớn lao đó.
Ý nghĩa nhân sinh sâu xa của triết lý này còn là ở chỗ trong cuộc
sống nên nắm giữ nắm lấy cái đại cục, cái lớn lao, nên đứng ở cái bất biến
mà quan sát cái vạn biến; từ đó dung hòa, quân bình vạn vật. Nói theo
Vedanta, “phải nhận ra đâu là bản thể trong cái hiện tượng, đâu là cái vĩnh
hằng trong cái tạm thời, đâu là cái không thay đổi trong cái thay đổi, đâu là
cái toàn thể trong cái cục bộ, đâu là cái bất biến trong cái vạn biến”.
Thật vậy, cuộc sống luôn thay đổi cũng như sự nghiệp cách mạng
từng bước phát triển, bởi vậy sách lược trong từng thời kỳ cụ thể cũng
phải mềm dẻo, uyển chuyển (cái vạn biến). Nhưng dù có mềm dẻo, uyển
chuyển như thế nào đi chăng nữa cũng không được quên mục đích cuối
cùng (cái bất biến). Như vậy, Hồ Chí Minh dù không có ý định trở thành
nhà triết học, nhưng một trong những giá trị mà Người để lại cho nhân
loại là tư tưởng về “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đã thấm đượm và toát lên
một triết lý hành động sâu sắc, trở thành kim chỉ nam dẫn đường cho các
thế hệ sau này.
12
Chương 2
VẬN DỤNG TRIẾT LÝ DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN VÀO THỰC
TIỄN Ở VIỆT NAM
2.1 Sự vận dụng triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong thực tiễn cách
mạng Việt Nam
hành động cụ thể của từng tên đối với chính quyền cách mạng, Đảng và Bác
chủ trương thực hiện sách lược hòa với Tưởng để kháng chiến chống Pháp.
Về phía ta, đồng ý cho một số tên tay sai của Tưởng tham gia chính phủ liên
hiệp lâm thời và sau đó mặc dù bọn Quốc Dân Đảng không cử người ra ứng
cử Quốc hội, nhưng ta vẫn nhường cho chúng 72 ghế trong Quốc hội đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là giải pháp thêm bạn bớt
thù có lợi cho cách mạng, là sự “ứng vạn biến” trong tình thế đất nước đang
lâm nguy, là sự tích lũy dần dần về “lượng” để đạt đến “bước nhảy” đưa đất
nước thoát khỏi vòng vây của kẻ thù, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Và sau ngày
ta giành chính quyền về tay nhân dân, một bộ phận đáng kể trong tầng lớp
trung gian, tầng lớp trên, tầng lớp trí thức còn chưa hiểu và e ngại Đảng
Cộng sản. Để thu phục nhân tâm, đoàn kết toàn dân, tháng 11 năm 1945
Đảng ta tuyên bố "tự giải tán", nhưng sự thật là Đảng rút vào hoạt động bí
mật. Và dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân. Đó là cái
“bất biến” trong cái “vạn biến”.
Cho đến Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2-1951), khi cuộc kháng chiến
của nhân dân ta ngày càng lớn mạnh, tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi,
Đảng và Bác chủ trương đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên mới Đảng
Lao Động Việt Nam. Như vậy, dù hoạt động bí mật hay công khai, dù mang
tên Đảng Cộng sản, Đảng Lao động hay Đảng nhân dân cách mạng, dù "vạn
biến" như thế nào, nhưng bản chất "bất biến" là Đảng ta vẫn là Đảng của giai
cấp công nhân Việt Nam trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta, lấy chủ
14
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng làm kim
chỉ nam cho mọi hoạt động.
Trong quá tình kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm
lược, Người luôn khẳng định chân lý: không có gì quý hơn độc lập tự do chân lý đó ngàn đời “bất biến”. Đó là thời điểm giữa những năm 60, giặc
Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại ra miền bắc để ngăn chặn chi viện
khu vực…là một xu thế tất yếu, trong đó các đối tác vừa hợp tác vừa cạnh
tranh với nhau một cách gay gắt. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước
không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội đối
với đất nước ta thông qua kinh tế thị trường và trao đổi giao lưu văn hóa.
Trong điều kiện đó, làm sao để phát triển kinh tế mà vẫn giữ được độc lập,
không đi chệch mục tiêu, bản chất chủ nghĩa xã hội? Muốn thế, chúng ta
phải tạo ra được năng lực nội sinh làm nền tảng cho sự phát triển của đất
nước trên cơ sở kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
kim chỉ nam cho hành động.
Như vậy, qua tìm hiểu tư tưởng của Hồ Chí Minh về “dĩ bất biến, ứng
vạn biến” chúng ta không chỉ thấy được những giá trị nhiều mặt của nó: một
triết lý hành động, một phương pháp biện chứng và là một triết lý nhân sinh
sâu sắc, mà còn thấy được một con người “Người vượt lên nhiều người
đương thời để trở thành người kế tục hiếm hoi những nhà sáng lập chủ nghĩa
duy vật biện chứng trong thời đại mới, trước một phương Đông đầy những
mâu thuẫn, đầy biến cố phức tạp”. Một con người mà “bất kỳ bao giờ, bất kỳ
ở đâu, tôi chỉ theo đuổi một mục đích làm cho ích quốc lợi nhà”. Đặc biệt
qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, chúng ta thấy tư tưởng “dĩ bất biến, ứng
vạn biến” của Người đã, đang và sẽ mãi trở thành hành trang trong nhận
thức và hành động của các thế hệ hôm nay và mai sau.
16
2.2 “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong công cuộc đổi mới và hội nhập
quốc tế hiện nay
Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đổi mới là yêu cầu bức thiết, quá trình tất yếu có ý nghĩa sống còn đối với
cách mạng Việt Nam., được đánh dấu bằng những mốc quan trọng đó là Hội
mà vẫn giữ được độc lập tự chủ. Trong thời gian hội nhập vừa qua, tuy còn
một số mặt cần bổ sung hoàn thiện, phát triển nhưng nhìn chung chúng ta đã
làm tốt vấn đề này. Khi tham gia hội nhập quốc tế ta mới thấy rõ mặt mạnh
cũng như mặt yếu của ta, từ đó xuất hiện nhiều cơ hội, thời cơ, nhưng đồng
thời cũng xuất hiện những nguy cơ, thách thức mới buộc chúng ta phải vượt
qua ví dụ như khi chúng ta gia nhập WTO.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là
mô hình kinh tế mới mẻ chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Nhận thức và
lựa chọn mô hình kinh tế đó không phải là sự gán ghép chủ quan kinh tế thị
trường với chủ nghĩa xã hội, mà là kết quả sáng tạo của Đảng ta trong việc
vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quy luật phát
triển. Đó là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, thử nghiệm, suy tư, đấu
tranh tư tưởng gian khổ, kết tinh trí tuệ và công sức của toàn Đảng, toàn dân
ta trong nhiều thập kỷ. Đồng thời, nó là kết quả của sự nắm bắt và nhận thức
đúng quy luật phát triển, tính thời đại, có sự khái quát, đúc kết kinh nghiệm
phát triển kinh tế thị trường trên thế giới. đặc biệt là thực tiễn cải cách và
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và Trung Quốc, Có thể nói, sự
nghiệp đổi mới trong hơn 20 năm qua đánh dấu giai đoạn phát triển mới về
trình độ phát triển tư duy lý luận của Đảng ta và khẳng định được con đường
18
và mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình quốc tế diễn biến hết sức
phức tạp và có nhiều bất lợi.
Như vậy, cái bất biến lâu dài là tiến tới xây dựng cho được một xã hội
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là cái bất biến
mang tính mục đích. Nhưng để tiến tới cái bất biến này thì chúng ta phải
thực hiện tốt những cái bất biến mà ta đã phân tích ở trên, chẳng hạn như giữ
vững độc lập tự chủ, xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Thành Duy: “Một số vấn đề cơ bản về triết lý phát triển trong tư
tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Khoa học xã hội, HN – 2010.
2.GS.TS Nguyễn Hùng Hậu: Triết lý “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
trong phương châm xử thế và hành động của Hồ Chí Minh. Tạp chí lý luận
chính trị, số 5 – 2005.
3.GS. TS Nguyễn Hùng Hậu: “Triết lý Dĩ bất biến, ứng vạn biến”
trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị quốc gia, HN – 2012.
4. Phạm Xuân Nam: “Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt
yếu”, Nxb Khoa học xã hội, HN – 2008.
5. PGS. TS Bùi Đình Phong: “Triết lý Hồ Chí Minh về phát triển Việt
Nam”, Nxb Thanh niên, HN – 2010.
6. Trần Văn Riễn: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”- nét đặc sắc trong
phương pháp biện chứng Hồ Chí Minh. Tạp chí giáo dục lý luận,
số 8 – 2004.
21
MỤC LỤC
22