Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
Tính cấp thiết của đề tài 6
Phạm vi nghiên cứu 7
Phương pháp nghiên cứu 7
Kết cấu của khóa luận 8
Chương 1: 9
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 9
Trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng – khái niệm và mối liên hệ 9
Khái niệm về trách nhiệm pháp lý 9
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 11
Tiến trình phát triển của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt nam
trước khi có Luật thương mại năm 2005 13
TNVPHĐ trong cơ chế tập trung bao cấp: 13
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 1995, Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế năm 1989 và Luật thương mại năm 1997 14
Những vấn đề thuộc nội dung của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
15
Các căn cứ phát sinh trách nhiệm 16
Có hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm 16
Bên bị vi phạm có thiệt hại xảy ra trong thực tế 16
Bên vi phạm có lỗi 16
Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm và
thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm 17
Các căn cứ miễn trách do vi phạm hợp đồng 17
Chế tài do vi phạm hợp đồng 17
Chương 2: 18
Thực trạng các quy định của pháp luật Việt nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
19
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng và trường hợp bất khả kháng 52
Thời gian tạm ngừng thực hiện hợp đồng 52
Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng 53
Chế tài hủy hợp đồng 53
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt nam về trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng trong LTM 2005 55
Những thuận lợi khi áp dụng các quy định của pháp luật Việt nam về trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng trong LTM 2005 55
Về các căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 55
Về căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 56
Về các chế tài 57
Những khó khăn khi áp dụng các quy định của pháp luật Việt nam về trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng trong LTM 2005 57
Những khó khăn khi áp dụng các quy định của pháp luật về các căn cứ áp dụng trách
nhiệm 57
Những khó khăn khi áp dụng các căn cứ miễn trách 58
Miễn trách nhiệm do lỗi một phần của bên có quyền 58
Miễn trách do lỗi của người thứ ba 59
Những khó khăn khi áp dụng các quy định về chế tài 59
Đối với chế tài buộc bồi thường thiệt hại: 59
Đối với chế tài phạt vi phạm: 60
Đối với chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng: 61
Đối với chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy
bỏ hợp đồng 61
Chương 3: 63
Về chính sách lập pháp 63
Nhận xét chung 63
Kiến nghị 63
Về nội dung lập pháp 64
Định hướng chung 64
những người luôn ở bên và động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
khóa luận này.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Văn Đạt
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
4
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
Luật thương mại năm 1997 LTM 1997
Luật thương mại năm 2005 LTM 2005
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng TNVPHĐ
Trách nhiệm pháp lý TNPL
Quy phạm pháp luật QPPL
Bộ luật dân sự năm 2005 BLDS
5
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Về tổng quát, cuộc sống của con người được xây đắp nên bởi các hợp
đồng và hầu hết các nhu cầu sống của con người được đáp ứng thông qua
mối quan hệ với người khác. Có thể khẳng định rằng hợp đồng là một trong
những chế định lâu đời nhất và quan trọng nhất của pháp luật. Ngay từ xa
xưa, khi có sự trao đổi hàng hóa, hợp đồng đã xuất hiện. Và ngày nay, trong
nền kinh tế thị trường, sự đa dạng trong quan hệ thương mại kéo theo sự
phong phú của các dạng hợp đồng. Vì vậy, chế định hợp đồng càng ngày
càng chiếm một địa vị quan trọng trong quan hệ luật tư. Hợp đồng sinh ra là
nghiệp của mình, nhằm phân tích các cơ sở lý luận và thực tiễn về các biện
pháp (chế tài) trên, chỉ ra những đặc trưng của từng biện pháp. Thông qua
đó, tác giả cũng đưa ra những đánh giá, chỉ ra đề xuất, kiến nghị về những
phương hướng nhằm hoàn thiện các quy định về trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng trong Luật thương mại 2005
2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu bản chất, đặc trưng của các biện pháp; phạm
vi áp dụng của mỗi biện pháp; mối quan hệ của các biện pháp đó với nhau,
thực trạng áp dụng pháp luật về các biện pháp đó. Từ đó, đề xuất những kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong
kinh doanh thương mại
3. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sự của chủ nghĩa Mác – Lênin, áp dụng vào tình hình nước ta
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
7
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
Ngoài ra, khóa luận cũng áp dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống
trong khoa học pháp lý như : phương pháp phân tích, tổng hợp các kiến thức
từ pháp luật thực định và phân tích thực tiễn để nhận thức và đánh giá thực
trạng điều chỉnh pháp luật và thực thi pháp luật; phương pháp so sánh luật
học, phương pháp đối chiếu, diễn giải, quy nạp… để giải quyết các vấn đề
khóa luận
4. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, khóa
luận được kết cấu với 3 chương:
CHƯƠNG I: Khái quát chung về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
CHƯƠNG II: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt nam về trách
nhiệm hợp đồng trong Luật thương mại 2005
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
làm phát sinh một trách nhiệm, trách nhiệm “ bồi thường thiệt hại” do hành
vi vi phạm nghĩa vụ của mình).
Việc thực hiện hoặc không thực hiện công việc đó không nhất thiết cần
phải có sự bảo đảm của Nhà nước bằng pháp luật. Nhưng khi các loại trách
nhiệm đó được Nhà nước điều chỉnh bằng các QPPL thì trách nhiệm đó trở
thành bắt buộc hay còn gọi là trách nhiệm pháp lý.
Theo định nghĩa trong giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật của Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội năm 2007 thì “ trách nhiệm
pháp lý là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật và được thể hiện trong
việc cơ quan Nhà nước (người có chức vụ) có thẩm quyền áp dụng đối với
người đã có lỗi trong việc vi phạm pháp luật một hoặc nhiều biện pháp
cưỡng chế (chế tài xử lý) của Nhà nước do ngành luật tương ứng quy định”
( tr.550). Vì vậy, trách nhiệm pháp lý chỉ được áp dụng khi xảy ra hành vi
vi phạm pháp luật, hay nói cách khác, trách nhiệm pháp lý là hậu quả của
hành vi vi phạm pháp luật. Việc truy cứu trách nhiệm pháp lý của cơ quan
nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền thực chất là việc áp dụng
những biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp
luật. Tuy nhiên, bản thân trách nhiệm pháp lý không phải là sự cưỡng chế
Nhà nước mà chỉ là nghĩa vụ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế
nhà nước do pháp luật quy định.
Từ khái niệm trên, có thể thấy trách nhiệm pháp lý có những đặc điểm
cơ bản:
- Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật
- Trách nhiệm pháp lý phải do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp
dụng
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
10
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
Nội
11
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
theo quy định của pháp luật. Nếu không tự dàn xếp được với nhau, các bên
có thể giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải hoặc tại Trọng tài thương
mại mà không nhất thiết phải giải quyết tại Tòa án.
+ Thứ hai, về hình thức áp dụng: được áp dụng trong quá trình ký kết
và thực hiện hợp đồng khi có hành vi vi phạm hợp đồng. Hợp đồng vô hiệu
cũng có thể làm phát sinh trách nhiệm nhưng đó là trách nhiệm ngoài hợp
đồng vì thực tế các bên không tồn tại quan hệ hợp đồng, nên trách nhiệm
này không phát sinh từ các nghĩa vụ do các bên thỏa thuận với nhau
+ Thứ ba, về tính chất của TNVPHĐ: mang tính vật chất hay tính tài
sản. Đặc điểm chung của bất kỳ loại trách nhiệm pháp lý nào cũng đều là
sự tước đoạt hay hạn chế các quyền về tài sản hay phi tài sản của chủ thể
có hành vi vi phạm. Khác biệt với đặc điểm chung này, TNVPHĐ chỉ buộc
bên có hành vi vi phạm hợp đồng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về
tài sản.
+ Thứ tư, về mục đích áp dụng các chế tài: không chỉ nhằm mục đích
giáo dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật như trách nhiệm pháp lý nói
chung mà mục đích chính của việc áp dụng các chế tài TNVPHĐ là khôi
phục lợi ích vật chất, bù đắp những tổn thất cho bên bị vi phạm. Việc áp
dụng các chế tài này không chỉ mang tính trừng phạt đối với bên vi phạm
mà còn tính toán để bảo đảm lợi ích chính đáng của bên họ, đảm bảo cân
bằng lợi ích giữa các bên, điều này thể hiện ở các quy định về miễn giảm
trách nhiệm. Thêm nữa, nghĩa vụ chứng minh tổn thất, nghĩa vụ hạn chế
thiệt hại là của bên bị vi phạm. Đặc điểm này xuất phát từ bản chất của
quan hệ hợp đồng là quan hệ mang tính chất đền bù ngang giá; khi hợp
đồng bị vi phạm, điều mà các bên quan tâm đến nhiều chính là lợi ích vật
chất của mình sẽ được đáp ứng như thế nào thông qua việc thực hiện các
chế tài do vi phạm hợp đồng
phạm với hai hình thức là phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại.
1
Nguyễn Thị Dung, “áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh”, NXB Chính trị Quốc Gia Hà Nội,
2001, tr.18
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
13
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
1.1.2.2. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm
1995, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 và Luật thương
mại năm 1997
Sau kỳ đại hội Đảng lần thứ VI diễn ra cuối năm1986, Nhà nước ta đã
có một quyết định quan trọng: Xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ
sự thay đổi lớn trong đường lối chính trị, chúng ta cũng đã có những thay
đổi đáng kể trong hoạt động lập pháp. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 và
Luật thương mại 1997 là những cơ sở pháp lý chủ yếu cụ thể hóa quyền tự
do kinh doanh, tự do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh, từ đó từng
bước chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp, sang nền kinh tế thị
trường có định hướng. Với vai trò đảm bảo pháp lý cho quyền tự do hợp
đồng, chế định TNVPHĐ cũng có những điểm mới so với TNVPHĐ trong
cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Theo quy định tại Pháp lệnh hợp đồng và LTM 1997, khi có sự vi
phạm hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại, trách nhiệm hợp đồng có
thể được áp dụng dưới các hình thức:
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Bồi thường thiệt hại
- Hủy hợp đồng
Thực ra, chế tài hủy hợp đồng chỉ được xem là một hình thức trách
trong quá trình thực thi luật. Phải đến khi được thống nhất trong một văn
bản - Luật thương mại 2005, vấn đề này mới được giải quyết.
1.1.3. Những vấn đề thuộc nội dung của trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng theo LTM 2005
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
15
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
Trong phần nội dung của trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả sẽ đi
vào nghiên cứu các quy định về các căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng; các căn cứ miễn trách nhiệm và các chế tài áp dụng
1.1.3.1. Các căn cứ phát sinh trách nhiệm
a. Có hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm: Đây là yếu tố đầu
tiên phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, thể hiện dưới dạng
hành động ( thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng )
hoặc không hành động ( không thực hiện ). Tuy nhiên, chỉ được coi là
hành vi vi phạm hợp đồng nếu hành vi đó xảy ra từ khi hợp đồng có hiệu
lực pháp luật.
b. Bên bị vi phạm có thiệt hại xảy ra trong thực tế: Thiệt hại là sự
mất mát hoặc giảm sút về lợi ích vật chất hoặc tinh thần được pháp luật
bảo vệ. Trước đây, LTM 1997 yêu cầu phải “ có thiệt hại vật chất”. Như
vậy có thể suy luận là chỉ tổn thất vật chất mới được bồi thường. LTM
2005 đã có sự thay đổi và yêu cầu “ có thiệt hại thực tế” (khoản 2 Điều
303) nhưng không thể hiện rõ là tổn thất về tinh thần có được bồi thường
hay không. Nhiều luật gia hiện nay cho rằng thiệt hại thực tế ở đây phải
là thiệt hại vật chất. Theo tác giả, thiệt hại thực tế ở đây bao gồm cả thiệt
hại về tinh thần. Đối với thương nhân, đó chính là thiệt hại do giảm sút
uy tín kinh doanh hay giảm sút thương hiệu. Vấn đề này sẽ được phân
tích kỹ ở phần thực trạng.
c. Bên vi phạm có lỗi: Lỗi được hiểu là thái độ chủ quan của một chủ
Đó là trường hợp do lỗi của người thứ ba, mà người thứ ba không thực
hiện nghĩa vụ của mình do gặp phải các trường hợp bất khả kháng
1.1.3.3. Chế tài do vi phạm hợp đồng
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
17
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
Chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng được thể hiện qua các chế
tài cụ thể. Đây là các chế tài mang tính tài sản. Tuy nhiên, luật pháp của
các nước khác nhau quy định các chế tài cụ thể khác nhau
Luật thương mại Việt nam năm 1997 quy định 4 chế tài: Buộc thực
hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm và hủy hợp đồng
Ngoài 4 chế tài trên, luật thương mại Việt nam năm 2005 bổ sung
thêm 2 chế tài cụ thể nữa. Đó là: tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đình
chỉ thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, luật cũng cho phép các bên được thỏa
thuận các biện pháp khác nhưng không trái với các nguyên tắc cơ bản của
pháp luật Việt nam, điều ước quốc tế mà Việt nam là thành viên và tập
quán thương mại quốc tế.
Việc áp dụng chế tài nào trong các chế tài nói trên trước hết phụ thuộc
vào sự lựa chọn của bên bị vi phạm, tuy nhiên pháp luật cũng có quy định
nhằm hạn chế quyền lựa chọn của các bên. Điều 293 Luật thương mại “ trừ
trường hợp có thỏa thuận khác, bên bị vi phạm không được áp dụng chế tài
tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ
hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản”
Chương 2:
THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
19
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
Các nhà làm luật đã đưa quy định về vi phạm cơ bản và vi phạm
không cơ bản vào LTM 2005 nhằm đảm bảo công bằng trong hoạt động
kinh doanh thương mại, tránh trường hợp một bên lấy lý do có hành vi vi
phạm hợp đồng để áp dụng những chế tài nặng trong những trường hợp mà
sự vi phạm được coi là không đáng kể. Theo khoản 13 Điều 3 LTM 2005
thì “ vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho
bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao
kết hợp đồng”. Tuy nhiên, tính đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn,
giải thích rõ nội hàm của khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng nói trên.
Nhiều câu hỏi xoay quanh khái niệm này vẫn chưa có lời giải đáp: thiệt hại
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra đến mức nào thì được coi là vi phạm
cơ bản hợp đồng? Mục đích của các bên khi giao kết hợp đồng là gì?
1
Điều
này gây khó khăn cho việc áp dụng.
Công ước Viên 1980 cũng đưa ra khái niệm về vi phạm cơ bản. Theo
đó, “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự
vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một
chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp
đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người
có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn
cảnh tương tự”
Như vậy, theo Công ước Viên, một sự vi phạm hợp đồng là vi phạm cơ
bản nếu nó gây ra thiệt hại đáng kể cho bên bị vi phạm, làm cho bên bị vi
phạm mất đi cái mà họ chờ đợi từ hợp đồng và bên vi phạm phải tiên liệu
được hoặc lẽ ra phải tiên liệu được hậu quả đó.
Tuy nhiên, thuật ngữ “thiệt hại” ở đây được hiểu như thế nào? Trong
định nghĩa khái niệm “vi phạm cơ bản” ở LTM 2005 có thuật ngữ “thiệt
tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ
sau đó, với điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian
1
Xem thêm Đỗ Văn Đại, Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt
nam, NXB Chính trị Quốc Gia Hà nội, 2010, tr.162
2
Xem Đỗ Văn Đại, Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 9-
9/2004. Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do bị vi phạm trong Bộ luật dân sự Việt nam, Tạp chí Khoa học
pháp lý, sô 3(22)-2004
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
21
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
hợp lý”. LTM 2005 mới chỉ đề cập đến vấn đề vi phạm trước thời hạn đối
với nghĩa vụ giao hàng và cung ứng dịch vụ nhiều lần chứ chưa nêu lên
được quy tắc tổng quát đối với những nghĩa vụ khác. Cụ thể, có thể áp
dụng quy tắc về vi phạm trước thời hạn cho tất cả các hợp đồng song vụ.
Tiến bộ hơn LTM 2005, BLDS 2005 đã có quy định tổng quát liên quan
đến vấn đề này tại mục 7 về Hợp đồng dân sự, cụ thể tại Điều 415 “ 1. Bên
phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài
sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện
được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện
được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh. 2. Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau
có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ
trước chưa thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến hạn”. Tuy nhiên, nếu quy
định của BLDS chỉ dừng lại ở đó thì bản chất của vấn đề vẫn chưa được
giải quyết, bởi vì nếu chờ đợi đến khi bên kia có khả năng thực hiện nghĩa
vụ thì rất có thể thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều và vì vậy, điều này có phải là
không tuân thủ một quy định khác của luật – nghĩa vụ hạn chế tổn thất
1
đoạn chờ đợi, có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ của mình. Họ có thể hủy
bỏ hợp đồng nếu những biện pháp bảo đảm trên không được cung cấp
trong khoảng thời gian hợp lý”. Tại Điều 2-609 Bộ luật Thương mại Thống
nhất của Hoa kỳ cũng có quy định tương tự “ nếu người mua có cơ sở để
nghi ngờ người bán sẽ không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình thì
người mua có quyền yêu cầu người bán bằng văn bản bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ khi chưa nhận được sự trả lời của người bán về sự bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ của mình. Nếu trong thời hạn 30 ngày sau khi nhận được yêu
cầu có cơ sở của người mua mà người bán không đưa ra bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng, người mua có quyền hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn
và yêu cầu bồi thường thiệt hại”
Từ những phân tích trên, sẽ là bất hợp lý khi không cho phép một bên
hủy hay chấm dứt hợp đồng trong khi biết chắc là bên kia sẽ không thực
hiện hợp đồng nếu đến hạn thực hiện. Mặt khác, cũng sẽ có lợi về kinh tế
khi cho phép một bên hủy, hay đình chỉ hợp đồng trong trường hợp bên kia
sẽ vi phạm hợp đồng. Ví dụ: nếu cho phép người mua hủy hợp đồng khi
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
23
Chế định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo LTM 2005
biết chắc người bán sẽ không thực hiện hợp đồng, sẽ giúp người mua chủ
động tìm người bán khác để có được số lượng hàng cần mua đáp ứng được
nhu cầu của mình….Thiết nghĩ, từ những phân tích trên, pháp luật ta cũng
nên có những quy định như vậy, nhằm bù đắp những khiếm khuyết trong
pháp luật Việt nam cũng như phù hợp với pháp luật quốc tế.
2.1.1.2. Thực trạng các quy định của pháp luật về yếu tố thứ hai: có
thiệt hại thực tế
Nhìn chung, pháp luật Việt nam cũng như pháp luật các nước Châu Âu
và văn bản pháp luật thương mại quốc tế đều có quy định mang tính
nguyên tắc chung: có thiệt hại thì mới bồi thường. Nếu có hành vi vi phạm
quyền có quyền đòi bồi thường toàn bộ những thiệt hại mà mình đã phải
chịu từ việc không thực hiện. Thiệt hại bao gồm những tổn thất mà bên
này đã phải gánh chịu và những lợi ích đã mất đi, có tính đến mọi khoản
lợi cho bên có quyền từ một khoản chi phí hay tổn thất tránh được”
Ngoài ra, thiệt hại được quy định trong LTM 2005 phải là những thiệt
hại thực tế, trực tiếp. Thiệt hại đó phải tồn tại trên thực tế. Bên bị vi phạm
không thể yêu cầu bên vi phạm bồi thường những thiệt hại mang tính giả
định hoặc có thể xảy ra. Bộ nguyên tắc Unidroit cũng có những quy định
tương tự (Điều 7.4.3).
Ví dụ: Công ty A ký kết hợp đồng mua máy dệt của Công ty B, thỏa thuận
giao hàng vào ngày 15/3/2005. Việc giao máy dệt cho Công ty A bị chậm 3
tháng so với thời hạn giao hàng quy định trong hợp đồng. Công ty B có
nghĩa vụ bồi thường cho Công ty A những lợi nhuận bị mất do hành vi
giao hàng muộn này vì phải dự đoán trước được máy dệt sẽ được đưa vào
sử dụng ngay khi nhận hàng. Công ty B sẽ không bị buộc phải bồi thường
thiệt hại do mất 1 hợp đồng lẽ ra được ký kết vào ngày 20/5/2005 vì thiệt
hại này không thể dự đoán trước được.
Ví dụ trên cho thấy rằng, thiệt hại mang tính giả định sẽ không thể được
bồi thường, bên bị vi phạm muốn được bồi thường phải chứng minh được
thiệt hại xảy ra là thiệt hại thực tế
Nguyễn Văn Đạt – K53 Luật Kinh Doanh – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà
Nội
25