Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa - nghiên cứu điển hình tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Quang Trung - Pdf 26

TÓM LƯỢC
Trong một vài năm trở lại đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới cơ chế
kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh. Quá trình đổi
mới kinh tế ở nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu nổi bật. Nhưng quá trình
đó càng đi vào chiều sâu và bề rộng thì càng bộc lộ rõ những vấn đề mới cần giải
quyết. Tự do, năng động, sáng táo, nhạy bén là thuộc tính khách quan và là yêu cầu
của nền kinh tế thị trường, nhưng gắn liền với nó là nguy cơ tự do về Chính phủ, gian
lận kinh doanh, thương mại… Hơn nữa, trong giai đoạn này nước ta đã thực sự hội
nhập vào nền kinh tế quốc tế (gia nhập WTO) thì càng cần thiết đòi hỏi Nhà nước phải
có một khung pháp lý Thương mại hoàn chỉnh để điều chỉnh các hoạt động đó đúng
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Hoạt động thương mại luôn luôn đi đôi với việc ký kết và thực hiện hợp đồng.
Việc trao đổi và mua bán hàng hóa trên thị trường, muốn có được một thỏa thuận
chung, hợp lý và thỏa mãn mong muốn của cả hai bên thì việc đi tới ký kết một bản
hợp đồng là đương nhiên. Nhưng để thực hiện đúng được bản hợp đồng đó còn có
nhiều yếu tố tác động tới, vì thế, không thể tránh khỏi việc vi phạm cũng như làm trái
hợp đồng, kể cả là cố ý hay vô tình. Pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy
phạm pháp luật để xử phạt những hành vi vi phạm đó, cụ thể gồm: phạt vi phạm, bồi
thường thiệt hại, buộc thực hiện hợp đồng và chế tài hủy hợp đồng. Tuy nhiên, các chế
tài phát sinh nhiều bất cập trong việc thực thi, áp dụng nó vào thực tế.
Là một sinh viên chuyên ngành luật thương mại cùng những kết quả thu được
trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Quang Trung, em quyết
định lựa chọn đề tài: “ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa - nghiên
cứu điển hình tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Quang Trung.” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp.
1
1
LỜI CẢM ƠN.
Em xin chân thành cảm ơn Th.s Phùng Bích Ngọc, giảng viên bộ môn luật
chuyên ngành, khoa kinh tế - luật, trường Đại học Thương Mại trong thời gian qua đã
tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Các chế tài trong thương mại là những quy định ảnh hưởng trực tiếp đến việc
thực hiện hợp đồng thương mại, bởi thông qua đó, chúng ta có thể điều tiết hành vi của
các thương nhân trong quá trình thực hiện hợp đồng, tạo ra sự ổn định tương đối cho
sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng
thương mại trong thời gian qua vẫn còn một số vấn đề gây tranh cãi, gây khó khăn cho
các cơ quan giải quyết tranh chấp và các bên trong việc xác định hình thức xử lý đối
với bên có hành vi vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này phần lớn xuất phát từ sự bất
cập của các quy định về chế tài trong thương mại. Đi sâu phân tích về một số bất cập
của chế tài thương mại để nghiên cứu sửa đổi đạt được hiệu quả cao hơn trong quá
trình điều chỉnh các vấn đề hoạt động thương mại.
Khi tranh chấp hợp đồng xảy ra giữa các bên, theo quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự hiện hành thì bên đưa ra yêu cầu có nghĩa vụ đưa ra các chứng cứ chứng minh
cho yêu cầu của mình. Đối với cả yêu cầu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, bên
đưa ra yêu cầu đều phải chứng minh được hành vi vi phạm của bên kia trước Tòa án.
Sau khi xác định được là có hành vi vi phạm, đối với yêu cầu phạt vi phạm các bên chỉ
cần căn cứ vào mức phạt đã được thỏa thuận trong Hợp đồng để xác định.
Tuy nhiên đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại, trên thực tế bên đưa ra yêu cầu
thường gặp khó khăn trong việc xác định thực tế thiệt hại xảy ra để có thể đưa ra mức
tiền yêu cầu bồi thường hợp lý.
Với những bất cập cũng như điều luật sửa đổi hiện nay vẫn có những điều chưa
thực sự phù hợp trong việc áp dụng các chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua
bán hàng hóa tại các doanh nghiệp. Để hiểu rõ hơn cũng như tìm ra được sai sót và biện
pháp khắc phục những yếu điểm đó đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu cần thiết.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan.
4
4
Chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là vấn đề thu hút
được sự quan tâm của nhiều người. Trong những năm qua, giới nghiên cứu khoa học
pháp lý đã có một số công trình, bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này với những
phạm vi và mức độ khác nhau như:

phạm hợp đồng mua bán hàng hóa – nghiên cứu điển hình tại công ty cổ phần đầu tư
xây dựng Quang Trung.”
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu.
Quan hệ mua bán hàng hóa là một quan hệ quan trọng trong giao lưu thương
mại. Trong quan hệ này các chủ thể chịu sự ràng buộc với nhau về mặt pháp lý thông
5
5
qua một hợp đồng, đó chính là hợp đồng mua bán hàng hóa. Để điều chỉnh hợp đồng
này, hiện nay ở Việt Nam có nhiều văn bản luật khác nhau nhưng quan trọng và chủ
yếu nhất là Luật Thương mại 2005. Tuy nhiên qua một thời gian dài áp dụng, Luật
Thương mại đã bộc lộ một số điểm còn hạn chế, thiếu sót.
Bên cạnh đó, trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay, để theo kịp tiến trình
phát triển của nền kinh tế thế giới, đòi hỏi chúng ta phải có một nền kinh tế thị trường
tự do, năng động, sáng tạo và nhạy bén. Trên cơ sở đó, vấn đề nghiên cứu, hoàn thiện
pháp luật để tạo khung pháp lý về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
là một điều hết sức cần thiết.
Nghiên cứu đề tài : “Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa -
nghiên cứu điển hình tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Quang Trung” nhằm
góp phần làm sáng tỏ những quy định của Luật Thương mại năm 2005 về trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa và đưa ra một số phân tích, bình luận về vấn
đề này. Đây là một đề tài khóa luận có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận
cũng như thực tiễn.
Khóa luận nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về chế
định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa. Phân tích, đánh giá một
cách khách quan thực trạng áp dụng Luật Thương mại năm 2005 về chế định trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng
Quang Trung, từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, đặc biệt những điểm không tương
thích với thực tiễn cũng như pháp luật thương mại quốc tế. Khóa luận đã đề xuất
phương hướng và những giải pháp cụ thể để tiếp tục hoàn thiện các quy định của Luật
Thương mại Việt Nam năm 2005 về chế định trách nhiệm hợp đồng mua bán hàng

hàng hóa.
− Đề xuất phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy
định của Luật Thương mại Việt Nam về chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
mua bán hàng hóa.
4.3. Phạm vi nghiên cứu.
Ở phạm vi hẹp trong bài khóa luận này, em nghiên cứu những quy định có liên
quan của Luật Thương mại năm 2005 về các chế định trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng mua bán hàng hóa được áp dụng như thế nào tại Công ty cổ phần đầu tư xây
dựng Quang Trung.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả khóa luận sử dụng phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mac – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm chủ trương đường lối của
Đảng và Nhà nước về pháp luật. Đặc biệt, khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận
dụng những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta trong sự
nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, như: phương
pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học,
phương pháp logic và lịch sử… Trong đó, phương pháp tổng hợp và phân tích là phương
pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu hoàn thành khóa luận này.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, nội dung của đề tài được phân bổ
thành ba chương:
7
7
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh chế định trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh chế định trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng mua bán hàng hóa.

Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt
động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Ngoài chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân
cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Khác với bên là thương
nhân, bên không phải là thương nhân có thể là mọi chủ thể có đủ năng lực hành vi để
tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp
luật. Hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích
sinh lợi trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo luật thương mại khi chủ thể
này lựa chọn áp dụng luật thương mại.
• Đối tượng của hợp đồng.
Theo quy định của Luật Thương mại, đối tượng của hợp đồng mua bán hàng
hóa là hàng hóa. Hàng hóa là những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra
9
9
nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của con người. Hàng hóa có thể là vật, là
sức lao động của con người, là các quyền tài sản. Dưới góc độ kinh tế, hàng hóa được
phân thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình; dưới góc độ pháp luật, hàng hóa được
phân thành động sản và bất động sản.
Khoản 2 – Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 đã mở rộng quy định hàng hóa.
Theo đó, hàng hóa bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương
lai; và các vật gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, khái niệm về hàng hóa vẫn còn có sự
hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy hàng hóa chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình.
Như vậy, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuê…
chưa được thừa nhận là hàng hóa. Như vậy, không phải mọi loại hàng hóa đều được
coi là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại mà chỉ những hàng
hóa bằng hiện vật theo quy định của Luật Thương mại và được phép kinh doanh mới
là đối tượng của hợp đồng.
• Nội dung của hợp đồng.
Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc
xác lập quyền và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán. Do đó, nội dung của hợp đồng

hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định
của Luật Thương mại.
Bên vi phạm hợp đồng kinh tế phải chịu trách nhiệm tài sản khi việc vi phạm
hội đủ các căn cứ mà pháp luật quy định: có hành vi trái pháp luật, hành vi vi phạm là
có lỗi, việc vi phạm hợp đồng đã gây ra thiệt hại cho bên bị vi phạm,…
− Có hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế: Đó là hành vi vi phạm thỏa thuận trong hợp
đồng. Các hành vi này thông thường là không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện
không đầy đủ, không đúng với các cam kết trong hợp đồng.
− Có thiệt hại xảy ra những thiệt hại này phải là thiệt hại vật chất tính toán được và thiệt
hại phải có thực. Nội dung thiệt hại vật chất bao gồm: những khoản mất mát hao hụt
về mặt vật chất; những khoản chi phí bên bị thiệt hại bỏ ra ngăn ngừa, hạn chế thiệt
hại; những khoản thất thu. Bên bị vi phạm phải chứng minh được bên vi phạm đã gây
thiệt hại cho mình.
− Bên vi phạm có lỗi: lỗi là thái độ chủ quan của bên vi phạm hợp đồng kinh tế, thể hiện
ở sự vô ý hoặc cố ý trong việc thực hiện hành vi vi phạm. Bên bị vi phạm phải chứng
minh được bên vi phạm có lỗi. Nếu hành vi vi phạm hoàn toàn do nguyên nhân khách
quan thì bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của
mình.
− Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra: Đây là mối quan hệ
biện chứng giữa hành vi vi phạm với thiệt hại xảy ra. Thiệt hại xảy ra phải là hậu quả
của hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.2.1. Cơ sở ban hành.
Các văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc
phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong
đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực
hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Để tạo một môi trường pháp lý ổn định và đón đầu sự phát triển của nền kinh tế,
Nhà nước ta đã tiến hành rất nhiều cải cách và đổi mới về pháp luật. Hệ thống pháp

chính đáng.
Yếu tố “hợp đồng” được hiểu bao gồm “thỏa thuận” và “quy định” của pháp
luật gắn liền với hợp đồng. Điều này có nghĩa trong quan hệ hợp đồng mua bán thì các
bên không chỉ phải thực hiện những nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng (ghi vào hợp
đồng) mà còn có thể phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Vi
phạm hợp đồng tức là không thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng hoặc quy định
của pháp luật liên quan đến hợp đồng.
• Có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra.
Thiệt hại vật chất thực tế do vi phạm hợp đồng mua bán gây ra là yếu tố cần
thiết, đặc biệt trong trường hợp muốn quy trách nhiệm đòi bồi thường thiệt hại thì đây
12
12
là căn cứ bắt buộc phải có. Đối với các chế tài khác, thiệt hại thực tế có thể được coi là
tình tiết để xác định mức độ nặng nhẹ của chế tài được áp dụng. Thông thường, thiệt
hại mà bên bị vi phạm phải gánh chịu có thể là thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần.
Song, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng như luật các nước thường chỉ thừa
nhận những thiệt hại tài sản (thiệt hại về vật chất) mới là yếu tố để quy trách nhiệm.
Thiệt hại thực tế là những thiệt hại có thể tính được thành tiền mà bên bị vi
phạm hợp đồng phải gánh chịu. Thiệt hại thực tế được chia làm hai loại là thiệt hại
trực tiếp và thiệt hại gián tiếp. Trong đó thiệt hại trực tiếp là những thiệt hại đã xảy ra
trên thực tế, có thể tính toán một cách dễ dàng và chính xác.
Thiệt hại gián tiếp là những thiệt hại phải dựa trên sự suy đoán khoa học (trên
cơ sở những chứng cứ, tài liệu) mới có thể xác định được. Biểu hiện cụ thể của thiệt
hại gián tiếp là thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút, khoản lợi đáng lẽ được hưởng mà
bên có quyền lợi bị vi phạm phải chịu. Đây chính là những khoản lợi mà khi ký kết
hợp đồng, các bên đều mong đợi. Những khoản lợi này dù trên thực tế nếu không có vi
phạm hợp đồng, bên bị vi phạm có nhận được hay không không quan trọng mà cứ có
vi phạm gây thiệt hại làm mất khoản lợi dự ước đó, bên bị vi phạm vẫn được quyền
đòi bên vi phạm.
• Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế.

Khi một bên trong hợp đồng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ quy định trong hợp đồng thì bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền yêu cầu
bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc áp dụng biện pháp khác để hợp đồng được
thực hiện và bên vi phạm phải chịu phí tổn phát sinh (Điều 297 – Luật Thương mại).
Thông thường, đây là biện pháp được ưu tiên áp dụng trước khi áp dụng các biện pháp
khác. Chế tài này áp dụng trong trường hợp:
− Khi bên vi phạm giao thiếu hàng thì phải giao đủ hàng theo đúng thỏa thuận trong hợp
đồng. Trường hợp bên vi phạm giao hàng hóa kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết
tất của hàng hóa hoặc giao hàng khác thay thế theo đúng hợp đồng. Bên vi phạm
không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại để thay thế nếu không được sự chấp
nhận của bên bị vi phạm.
− Khi bên vi phạm không thực hiện theo quy định nêu trên thì bên bị vi phạm có quyền
mua hàng của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa ghi trong hợp đồng và
bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền
tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.
− Bên bị vi phạm phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng nếu bên vi phạm đã thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Cụ thể hơn, buộc thực hiện đúng hợp đồng trong kinh doanh thương mại là hình
thức chế tài, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong kinh doanh, thương mại
phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm. Căn cứ để áp dụng
chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là: có hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của
bên vi phạm. Những trường hợp bên bị vi phạm và bên vi phạm thỏa thuận gia hạn
thực hiện nghĩa vụ hoặc thỏa thuận thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác, không
được coi là áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Theo Điều 297 Luật
Thương mại, khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể
14
14
lựa chọn hoặc yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc lựa chọn các biện
pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Luật Thương mại được đặt ra khi có vi

quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều
266 Luật Thương mại năm 2005.
• Bồi thường thiệt hại.
Bồi thường thiệt hại là việc buộc bên vi phạm trả tiền bồi thường những tổn thất
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn
15
15
thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi
trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm (Điều
300 và Điều 301 – Luật Thương mại).
Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm:
− Có hành vi vi phạm hợp đồng.
− Có thiệt hại thực tế.
− Mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng của một bên và thiệt hại vật chất
của bên kia.
Nội dung của chế tài bồi thường thiệt hại là bên vi phạm phải trả cho bên bị vi
phạm giá trị vật chất bị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng của mình gây ra.
Khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại, cần lưu ý một số điểm sau đây:
− Chỉ buộc bên vi phạm phải bồi thường các thiệt hại mà bên bị vi phạm yêu cầu khi bên
bị vi phạm có đầy đủ các căn cứ để chứng minh cho các tổn thất do hành vi vi phạm
hợp đồng gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu
không có hành vi vi phạm hợp đồng. Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng
minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà
mình đãng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm hợp đồng.
− Phải xem xét bên bị vi phạm đã áp dụng các biện pháp hợp lý để ngăn chặn hạn chế
tổn thất xảy ra hay không. Nếu bên bị vi phạm không áp dụng biện pháp hạn chế mà
để mặc cho tổn thất xảy ra thì bên vi phạm có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi
thường thiệt hại bằng mức tổn thất đãng lẽ có thể hạn chế được nếu bên bị vi phạm đã
áp dụng biện pháp khắc phục.
− Khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại cũng cần lưu ý mối quan hệ giữa phạt hợp

đồng. Khi hợp đồng thương mại bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực
từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh
toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
Chế tài đình chỉ hợp đồng được áp dụng khi có một trong các điều kiện sau:
− Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng.
− Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.
• Hủy bỏ hợp đồng.
Điều 312 – Luật Thương mại quy định, bên có quyền lợi bị vi phạm có quyền
tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc vi phạm của bên kia là điều kiện để hủy hợp đồng mà
các bên đã thỏa thuận. Chế tài hủy hợp đồng mua bán hàng hóa do các bên thỏa thuận
và cần phải ghi vào hợp đồng trong điều khoản: “điều kiện hủy hợp đồng”. Chế tài hủy
hợp đồng còn được áp dụng trong các trường hợp một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ
hợp đồng.
Hủy bỏ hợp đồng là sự kiện pháp lý mà hậu quả của nó làm cho nội dung hợp
đồng bị hủy bỏ không có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Hủy bỏ hợp đồng có thể là
hủy bỏ một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ hợp đồng.
− Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các
phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
− Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ
của hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Khi một hợp đồng trong thương mại bị hủy bỏ
toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Các bên
không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về
các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
Một bên có quyền tuyên bố hủy bỏ hợp đồng khi xảy ra hành vi vi phạm mà các
bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bản nghĩa
vụ hợp đồng. Kể từ thời điểm đó, các bên chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với nhau
17
17
theo hợp đồng và trở về trạng thái ban đầu như trước khi ký hợp đồng. Đồng thời bên

Khi một bên do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà
khi giao kết hợp đồng các bên không thể biết được dẫn đến hành vi vi phạm hợp đồng
thì cũng có thể được miễn trách nhiệm hợp đồng. Tuy nhiên, quy định này của Luật
Thương mại (2005) cũng cần được bàn định, bởi không phải trong mọi trường hợp
hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền mà khi giao kết hợp đồng các bên không thể biết trước được đều được miễn
trách nhiệm hợp đồng.
18
18
Khi áp dụng các trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng, việc chứng minh các
trường hợp được miễn trách nhiệm thuộc nghĩa vụ của bên có hành vi vi phạm hợp
đồng. Ngoài ra, khi xảy ra trường hợp được miễn trách nhiệm hợp đồng, bên vi phạm
hợp đồng còn phải thông báo ngay (bằng văn bản) cho bên kia về trường hợp được
miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra. Nếu bên vi phạm không thông báo
hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.
1.3. Yêu cầu về pháp luật điều chỉnh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hóa.
Luật Thương mại 2005 và Bộ luật Dân sự 2005 đã có hiệu lực nhưng trên thực
tế chưa thực sự được các doanh nghiệp quan tâm. Nguyên nhân một phần do thói quen
chủ quan của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hiện đang thực hiện theo các văn
bản cũ nếu sửa đổi, bổ sung theo luật mới thì sẽ phải thay đổi cả một hệ thống các văn
bản, đồng thời để tìm hiểu được đầy đủ quy định mới của pháp luật cũng mất nhiều
công sức. Mặt khác, các doanh nghiệp cũng cho rằng Luật Thương mại 2005 so với
Luật Thương mại 1997 không có khác nhau gì nhiều nên vẫn tiến hành áp dụng theo
luật cũ. Một nguyên nhân khác cũng là do nhà nước cũng chư có sự tuyên truyền rộng
rãi pháp luật cho nhân dân.
Vì vậy, để phát huy hơn nữa từ những lợi ích của việc đổi mới, cải cách pháp
luật, nhà nước ta cần phổ biến sâu rộng kiến thức pháp luật đến mọi người, nhất là đối
với các doanh nghiệp, không chỉ về pháp luật Việt Nam mà cả pháp luật quốc tế thông
qua các hội thảo, chuyên đề…

khi áp dụng luật sẽ ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành nhưng như thế cũng tạo ra một
môi trường pháp lý không hòa đồng. Vấn đề quy định mức phạt vi phạm trong Luật
thương mại chưa phù hợp với thực tế áp dụng tại các doanh nghiệp. Chế định phạt vi
phạm này được sử dụng với hai mục đích đồng thời: răn đe, ngăn chặn vi phạm hợp
đồng (trong trường hợp có vi phạm thì bên vi phạm sẽ phải nộp phạt không phụ thuộc
vào việc thực tế vi phạm đó có gây ra thiệt hại cho bên kia không); bồi thường thiệt hại
theo mức định trước (tức là nếu có vi phạm gây thiệt hại thì bên bị thiệt hại không
được quyền đòi bồi thường thiệt hại theo mức thiệt hại thực tế mà chỉ được đòi khoản
tiền đã xác định mặc dù thực tế không có thiệt hại hoặc thiệt hại có thể là thấp hơn
hoặc cao hơn mức tiền phạt này). Quy định về “giới hạn trên” của mức phạt (8%) là
không hợp lý vì nó nếu một bên thấy mức thiệt hại mà họ phải chịu nếu thực hiện hợp
đồng còn cao hơn mức thiệt hại do nộp phạt thì họ sẽ “cố ý” vi phạm. Mục đích răn đe
do đó sẽ không thực hiện được. Hơn nữa quy định này cũng can thiệp vào quyền tự do
thỏa thuận của các bên. Quy định này trong Luật thương mại (2005) gây ra nhiều bất
cập trong việc thi hành và ảnh hưởng đến quyền lợi của bên bị vi phạm.
2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng.
2.1.2.1. Đối tượng của hợp đồng.
Trong mua bán hàng hóa, đối tượng của hợp đồng là một hàng hóa nhất định
đây là điều khoản cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hóa, mà khi thiếu nó hợp
đồng mua bán hàng hóa không thể hình thành được do người ta không thể hình dung
được các bên tham gia hợp đồng nhằm mục đích gì, trao đổi cái gì, đối tượng của hợp
đồng mua bán hàng hóa được xác định thông qua tên gọi của hàng hóa. Trong hợp
20
20
đồng mua bán hàng hóa các bên có thể ghi rõ tên hàng bằng tên thông thường, tên
thương mại … để tránh có sự hiểu sai lệch về đối tượng hợp đồng.
2.1.2.2. Số lượng hàng hóa.
Điều khoản về số lượng hàng hóa xác định về mặt lượng đối với đối tượng của
hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận và ghi trong hợp đồng về một số lượng hàng hóa
cụ thể hoặc số lượng được xác định bằng đơn vị đo lường theo tập quán thương mại

hai bên thỏa thuận, phù hợp với điều kiện thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên.
21
21
Khi thỏa thuận cần thỏa thuận cụ thể địa chỉ giao hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp
với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện.
Trong mua bán hàng hóa, việc giao nhận hàng hóa có thể được thực hiện trực
tiếp đối với người mua hoặc thông qua người thứ ba. Vì vậy các bên phải thỏa thuận rõ
thời hạn và địa điểm, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ mỗi bên cũng như xác định rủi
ro mà mỗi bên phải gánh chịu.
2.1.2.7. Nội dung của hợp đồng.
Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan hệ
hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bên không chỉ
chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà còn chịu sự ràng buộc
bởi những quy định của pháp luật. Như vậy, nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
không chỉ là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn có thể bao gồm những điều
khoản do các bên không thỏa thuận nhưng theo quy định của pháp luật các bên có
nghĩa vụ phải thực hiện.
2.1.2.8. Quyền và nghĩa vụ của bên bán.
• Nghĩa vụ của bên bán
Bên bán phải giao hàng hóa phù hợp với quy định của hợp đồng về số lượng,
chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng. Điều
35 – Luật Thương mại quy định bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng
đã thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa
thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu có thỏa thuận khác (Điều
38 – Luật Thương mại).
Nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa được quy định tại Điều 42 –
Luật Thương mại. Trường hợp có thỏa thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có
nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hóa cho bên mua vào thời hạn, tại địa điểm
và bằng hình thức đã thỏa thuận.
Một trong các nghĩa vụ của bên bán là phải kiểm tra hàng hóa trước khi giao

đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.
− Thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan
đến hàng hóa; bên mua vẫn phải thanh toán tiền hàng trong trường hợp hàng hóa mất
mát hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường
hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.
Ngoài ra, bên mua mất quyền sở hữu đối với hàng hóa, quyền sở hữu trí tuệ đối
với hàng hóa nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ
ba đối với hàng hóa được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó,
trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba (Điều 45, Điều
46 – Khoản 1 – Luật Thương mại)
• Quyền của bên mua
Bên mua có quyền ngừng thanh toán tiền mua hàng trong các trường hợp:
− Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh
toán.
− Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền
tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết.
− Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì
có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục được sự không phù
hợp đó.
2.2. Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng mua bán hàng hóa.
Khi vi phạm hợp đồng trong hoạt động mua bán hàng hóa, bên vi phạm phải
chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm thông qua các hình thức trách nhiệm gọi là chế
23
23
tài. Theo pháp luật thương mại Việt Nam, các chế tài thương mại được hiểu là những
biện pháp pháp lý mang tính tài sản do bên bị vi phạm lựa chọn để áp dụng đối với bên
vi phạm nhằm mục đích ngăn ngừa, trừng trị và giáo dục. Như vậy, các chế tài thương
mại được áp dụng là để khôi phục về mặt vật chất cho bên bị vi phạm hoặc là để ngăn
ngừa thiệt hại hay có ý nghĩa trừng phạt về mặt vật chất đối với bên vi phạm hợp đồng.

khác để thay thế theo đúng loại hàng hóa ghi trong hợp đồng. Khi đó, bên vi phạm
phải bù chênh lệch nếu có. Đây cũng là giải pháp mà Công ước viên 1980 đưa ra khi
24
24
bên bán không giao hàng hoặc giao thiếu hàng. Ví dụ khi bên vi phạm giao hàng thiếu,
bên bị vi phạm không nhất thiết phải chờ bên vi pham giao hàng đủ mà có thể mua
ngay hàng khác cùng chủng loại của người cung cấp khác để không mất thời cơ kinh
doanh của mình. Tất nhiên, để đảm bảo cho quyền lợi của bên bị vi phạm, bên vi phạm
phải có trách nhiệm đền bù chi phí phát sinh.
Nếu bên có quyền lợi bị vi phạm tự sửa chữa khuyết tật, thiếu sót của hàng hóa
thì bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý. Rõ ràng là giải pháp này vừa giúp
các bên tiếp tục quan hệ hợp đồng, vừa hạn chế các thiệt hại.
Để cho bên vi phạm có thể thực hiện được các nghĩa vụ nói trên, Luật thương
mại còn cho phép bên có quyền lợi bị vi phạm phải gia hạn một thời gian hợp lý (Điều
224). Song việc gia hạn này không có nghĩa là thay đổi điều khoản về thời hạn giao
hàng. Thời hạn giao hàng nếu có sự thay đổi là do hai bên thỏa thuận, còn việc gia hạn
chỉ là quyết định đơn phương của bên bị vi phạm nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Nếu
hết thời hạn ấn định mà bên vi phạm vẫn không thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng
hợp đồng, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ lợi ích chính đáng
của mình (Khoản 2, Điều 225). Tuy nhiên, Khoản 1, Điều 225 của Luật thương mại lại
quy định rõ ràng: “Trong trường hợp không có thỏa thuận khác thì trong thời gian áp
dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bến có quyền lợi bị vi phạm không được
áp dụng các chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, hủy hợp đồng.”
Như vậy, buộc thực hiện đúng hợp đồng là chế tài nhẹ nhất trong các chế tài và
là tiền đề để thực hiện các chế tài khác.
2.2.2. Phạt vi phạm.
Đây là một chế tài rất hay được sử dụng trong việc giải quyết các tranh chấp
phát sinh trong hợp đồng kinh tế. Từ định nghĩa trên có thể thấy, phạt vi phạm chỉ
được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định sẽ áp dụng
loại chế tài này cho những vi phạm nhất định và không phụ thuộc vào bên bị vi pham


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status