Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HƯƠNG
TR¸CH NHIÖM DO VI PH¹M
HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA QUèC TÕ
TRONG §IÒU KIÖN HéI NHËP KINH TÕ QUèC TÕ Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 60 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN BÍNH
HÀ NỘI - 2014
Formatted: Portuguese (Brazil)


1.1.4. Luật điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 242424
1.2. Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 323232
1.2.1. Khái niệm về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm do vi phạm
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 333333
1.2.2. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế 383838
1.2.3. Các căn cứ miễn trách nhiệm và chế tài do vi phạm Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế 393939
Chương 2: TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ 414141
2.1. Căn cứ để quy trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 414141
2.1.1. Có sự vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 414141
2.1.2. Có thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm 444444
2.1.3. Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng 454545
2.1.4. Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi
phạm và thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm 474747

2.2. Các hình thức trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế 494949
2.2.1. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 494949
2.2.2. Chế tài phạt vi phạm 525252
2.2.3. Chế tài bồi thường thiệt hại 565656
2.2.4. Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng 606060
2.2.5. Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng 616161
2.2.6. Chế tài hủy bỏ hợp đồng 626262
2.3. Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế theo quy định của Công ước Viên năm 1980 và pháp luật
quốc gia 707070
2.3.1. Điểm giống nhau 707070
2.3.2. Sự khác nhau trong quy định của Công ước Viên và pháp luật quốc

do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 949494
KẾT LUẬN 101101101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103103103 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

HĐMBHHNT: Hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương
HĐMBHHVTNNN: Hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
LHĐTQ: Luật hợp đồng Trung Quốc
LTMVN: Luật thương mại Việt Nam
MBHHQT: Mua bán hàng hóa Quốc tế
UCC: Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ
UNCITRAL: Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương
mại quốc tế
WOT: Tổ chức thương mại thế giới 1
MỞ ĐẦU

dụng pháp luật còn non kém… lại phải đối mặt với các doanh nghiệp nước ngoài có
bề dày kinh nghiệm thương trường quốc tế, sắc sảo và kinh nghiệm trong đàm phán,
ký kết hợp đồng, hiểu biết và vận dụng tốt pháp luật cũng như các tập quán thương
mại quốc tế. Vì thế các doanh nghiệp Việt Nam thường bị thiệt thòi trong các tranh
chấp quốc tế.
Với việc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và hội nhập kinh tế
thế giới ngày càng sâu rộng của kinh tế Việt Nam, pháp luật về thương mại quốc tế
đã và đang là công cụ hữu hiệu và vô cùng cần thiết để bảo vệ các doanh nghiệp
Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật
Việt Nam hiện hành về thương mại nói chung và Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế), trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế nói riêng còn nhiều bất cập, hạn chế cần được khắc phục. Vì
vậy việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại nói chung và pháp luật về Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế nói riêng mang tính cấp thiết, cần được nghiên cứu nghiêm túc và điều
chỉnh kịp thời.
Luật thương mại đã đi vào cuộc sống được 8 năm, thực tiễn thi hành luật đối
với trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bộc lộ nhiều bất
cập. Việc nghiên cứu toàn diện và có hệ thống từ những vấn đề lý luận, thực tiễn về
chế độ trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được quy định
bởi pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam là một vấn đề mang tính cấp bách, có ý
nghĩa quan trọng nhằm góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
tổ chức, công dân Việt Nam trong hoạt động thương mại quốc tế. Đồng thời, việc đi
sâu nghiên cứu chế độ trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ, vận dụng có hiệu quả pháp luật và các
tập quán thương mại quốc tế trong quá trình thực hiện Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế. Từ đó đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mua bán hàng hóa quốc tế nói chung và một số khía cạnh chuyên sâu về



4
số vấn đề lý luận chung về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; Phân tích và so
sánh các căn cứ quy trách nhiệm, các chế độ trách nhiệm và các căn cứ miễn trách
nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Luật thương mại Việt
Nam năm 2005 (LTMVN) với những quy định tương ứng theo Công ước Viên năm
1980 về mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật một số nước, pháp luật khu vực;
Rút ra một số điểm còn bất cập, chưa hợp lý của LTMVN về trách nhiệm do vi
phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; Đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm
hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về chế độ trách nhiệm do vi phạm Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
4. Phạm vi nghiên cứu
Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một vấn đề
rộng và tương đối phức tạp. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sỹ luật học, khi
nghiên cứu về chế độ trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
luận văn giới hạn ở việc phân tích các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các căn cứ miễn trách nhiệm và các chế tài do vi
phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của: Một số văn bản pháp
luật quốc tế như Công ước Viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình, Bộ
nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế… Hệ thống pháp luật Việt
Nam điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế như: Bộ luật dân sự năm 2005,
Luật thương mại năm 2005 (có đối chiếu, so sánh với Luật thương mại năm 1997 đã
hết hiệu lực thi hành); Pháp luật của một số quốc gia về lĩnh vực này mà có quan hệ
thương mại thường xuyên với Việt Nam như: Trung Quốc, Mỹ, Pháp.
Ngoài ra, do hiện nay khái niệm về hàng hóa đã có nhiều thay đổi, hàng hóa
theo cách hiểu hiện nay bao gồm hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình, việc mua
bán hai loại hàng hóa này có nhiều điểm đặc thù, do đó trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng đối với hai loại hàng hóa này ngoài những điểm giống nhau cũng có nhiều
điểm khác nhau. Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn ở việc mua bán quốc


1.1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.1 . Khái niệm
Để trao đổi, mua hoặc bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế, các thương nhân
đóng trụ sở thương mại ở các nước khác nhau ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với nhau, ví dụ như: Thương nhân đóng trụ sở thương mại tại Hoa Kỳ ký hợp đồng
mua bán giầy da với thương nhân đóng trụ sở thương mại tại Việt Nam; thương
nhân có trụ sở thương mại tại Trung Quốc ký hợp đồng mua chuối của thương nhân
có trụ sở thương mại tại Philipin… Những hợp đồng này là hợp đồng mua bán hàng
hóa trong phạm vi quốc tế, được gọi ngắn gọn là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế (Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế).
Vậy Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì?
Thứ nhất, Theo Công ước La Haye năm 1964 về mua bán quốc tế những
động sản hữu hình (gọi tắt là công ước La Haye năm 1964), tại điều 1 quy định:
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa
các bên có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển từ
nước người bán sang nước người mua, hoặc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước
khác nhau. Theo công ước này, tiêu chí ký kết hợp đồng được hiểu là ký kết ở nước
người bán hoặc nước người mua hoặc nước thứ ba. Nếu các bên giao kết không có trụ
sở thương mại thì sẽ dựa vào nơi cư trú thường xuyên của họ. Yếu tố quốc tịch của
các bên không có ý nghĩa trong việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế. Như vậy theo Công ước La Haye, tiêu chí quan trọng nhất để
xác định một hợp đồng là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là tiêu chí trụ sở
thương mại của bên mua và bên bán phải đóng ở các nước khác nhau.
Thứ hai, Theo Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế năm 1980 (United Nations Convention on Contracts for International Sales
Formatted: English (United States)

7
of Goods, Vienna 1980 – CISG, gọi tắt là Công ước Viên năm 1980), tiêu chí để xác

nhau. Yếu tố quốc tịch của các bên, hay hàng hóa phải dịch chuyển qua biên giới
quốc gia, hay việc chào hàng và chấp nhận chào hàng phải được độc lập ở các nước
khác nhau… không còn là tiêu chí bắt buộc nữa. Điều này giải thích cho việc các
hợp đồng mua bán hàng hóa trong khu chế xuất, khu thương mại tự do. cũng được
coi là Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Thứ ba, Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quan điểm của Pháp:
khi xác định yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, Cộng hòa Pháp
căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý. Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp
đồng quốc tế là hợp đồng tạo nên sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi
tương ứng giữa hai nước, nói cách khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương
mại quốc tế. Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế
nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc tịch, nơi
cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán.
Thứ tư, Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật
Việt Nam:
Trong hoạt động giao thương quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa
thương nhân có trụ sở thương mại tại Việt Nam và thương nhân có trụ sở thương
mại tại nước khác được ký kết, các hợp đồng này được gọi bằng nhiều tên gọi khác
nhau như: “hợp đồng xuất nhập khẩu”, “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài”, “hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương”. Dù với tên gọi nào
thì các hợp đồng này vẫn là hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, trước khi trở thành hợp đồng mua bán hàng
hóa trong phạm vi quốc tế thì hợp đồng đó phải là hợp đồng mua bán tài sản theo
quy định tại Đạo luật gốc của Việt Nam là Bộ luật Dân sự, cụ thể tại điều 428 quy
định: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có
nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài
sản và trả tiền cho bên bán. Để hợp đồng mua bán tài sản trở thành Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế thì hợp đồng phải thêm điều kiện yếu tố quốc tế, pháp luật
Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển của đất nước lại quy định không hoàn toàn
giống nhau về khái niệm hoặc tiêu chí xác định yếu tố quốc tế của Hợp đồng mua

tiên của Việt Nam đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi

10
quốc tế với tên gọi “hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài”
(HĐMBHHVTNNN) tại điều 80 quy định: Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương
nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương
nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài [22, Điều 80]. Tiêu chí để xác
định thương nhân nước ngoài được quy định tại điều 81: Chủ thể của hợp đồng là bên
mua và bên bán phải có đủ tư cách pháp lý. Chủ thể bên nước ngoài là thương nhân
và tư cách pháp lý của họ được xác định căn cứ theo pháp luật của nước mà thương
nhân đó mang quốc tịch [22, Điều 81]. Như vậy, tiêu chí quan trọng nhất để xác định
HĐMBHHVTNNN là yếu tố quốc tịch khác nhau của bên mua và bên bán – một bên
có quốc tịch Việt Nam và một bên có quốc tịch nước ngoài.
Như phân tích ở trên, việc xác định quốc tịch của pháp nhân nước ngoài
không hề dễ dàng với quy định quốc tịch pháp nhân của các quốc gia khác nhau là
không đồng nhất. Mặt khác, trong điều kiện thực tiễn thương mại Việt Nam, ngày
càng nhiều thương nhân mang quốc tịch nước ngoài đóng trụ sở thương mại tại Việt
Nam mua bán hàng hóa với thương nhân có quốc tịch nước ngoài đóng trụ sở ở
nước ngoài. Trong trường hợp này yếu tố quốc tịch khác nhau không còn ý nghĩa
mà chỉ cần trụ sở thương mại của các bên (bên mua và bên bán) đặt tại các nước
khác nhau là đủ để xác định Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Đồng thời, sự
hình thành các khu chế xuất với việc mua bán hàng hóa giữa thương nhân ngoài khu
chế xuất với thương nhân trong khu chế xuất thì quy định yếu tố quốc tịch khác
nhau của các bên là tiêu chí xác định tính chất quốc tế của Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế không còn phù hợp.
Ba là Luật thương mại Việt Nam năm 2005: đạo luật hiện hành về thương
mại của Việt Nam không đưa ra khái niệm hay định nghĩa thế nào là Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế, cũng không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ liệt kê ra các hình thức và cũng là các
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại điều 27, bao gồm: xuất khẩu, nhập khẩu,

khái niệm về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau: Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp
nước ngoài, theo đó một bên gọi là bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền
sở hữu hàng hóa cho một bên gọi là bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và

12
thanh toán tiền hàng cho bên bán.
1.1.2 . Đặc điểm của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trước hết cũng có những đặc điểm của
hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung, đó là: Là sự thỏa thuận giữa các bên, thể
hiện sự tự nguyện, thống nhất ý chí của bên mua và bên bán; Đối tượng của hợp
đồng là hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường theo quy định pháp luật; Chủ
thể tham gia hợp đồng bình đẳng với nhau trong quan hệ mua bán hàng hóa; Là hợp
đồng song vụ, có đền bù và là hợp đồng ưng thuận.
Ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa, Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế còn có những đặc điểm riêng mang tính chất đặc trưng,
những đặc điểm này là căn cứ để phân biệt Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với
hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, cụ thể:
Thứ nhất, Chủ thể của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên có
trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau: bên mua và bên bán trong Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế phải có trụ sở thương mại đóng tại các nước khác nhau,
không được cùng đóng trên phạm vi một nước.
Thông thường doanh nghiệp đóng trụ sở thương mại ở quốc gia nào thì mang
quốc tịch của quốc gia đó, vì vậy trong phần lớn Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế thì các bên tham gia hợp đồng có quốc tịch khác nhau. Quốc tịch của các bên
trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có ý nghĩa quan trọng vì việc xác định
năng lực pháp luật, tư cách pháp lý của doanh nghiệp tham gia hợp Hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế được xác định theo pháp luật mà doanh nghiệp mang quốc
tịch. Trước khi các bên giao kết hợp đồng, các bên phải quan tâm đến quốc tịch của
đối tác để xác định đối tác có đủ tư cách pháp lý theo pháp luật mà đối tác mang

hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung là hàng hóa.
Theo Từ điển Tiếng việt định nghĩa hàng hóa là “sản phẩm do lao động làm
ra được mua bán trên thị trường” [37, tr.1125].
Điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, Điều ước quốc tế và pháp
luật các nước trên thế giới cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hàng hóa là
đối tượng của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

14
Công ước Viên năm 1980 không đưa ra khái niệm về hàng hóa mà dùng biện
pháp loại trừ những hàng hóa không thuộc đối tượng điều chỉnh của Công ước Viên
tại Điều 2 quy định: Công ước này không áp dụng vào việc mua bán: Các hàng hóa
dùng cho cá nhân, gia đình hoặc nội trợ, ngoại trừ khi người bán, vào bất cứ lúc nào
trong thời gian trước hoặc vào thời điểm ký kết hợp đồng, không biết hoặc không
cần phải biết rằng hàng hóa đã được mua để sử dụng như thế; Bán đấu giá; Ðể thi
hành luật hoặc văn kiện uỷ thác khác theo luật; Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán
đầu tư, các chứng từ lưu thông hoặc tiền tệ; Tàu thủy, máy bay và các phương tiện
chạy trên đệm không khí; Ðiện năng.
Theo pháp luật Hoa Kỳ, Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ đưa ra khái
niệm hàng hóa với tư cách là đối tượng của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là:
Hàng hóa là một vật (bao gồm cả những hàng hóa được sản xuất đặc biệt) được đưa
vào trong hợp đồng bán hàng tại thời điểm xác định chứ không phải là khoản tiền sẽ
được thanh toán trong hợp đồng, không phải là cổ phiếu đầu tư và những vật khác.
Quy định này cho phép hiểu rằng, hàng hóa là đối tượng của Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phải là vật đang tồn tại và di chuyển được vào thời điểm diễn ra
quan hệ mua bán.
Pháp luật Việt Nam cũng không có định nghĩa hàng hóa là đối tượng của
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong đó pháp luật chuyên ngành của Việt
Nam về lĩnh vực thương mại là Luật thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm
về hàng hóa là đối tượng của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ liệt kê
những hàng hóa là đối tượng điều chỉnh của luật tại Điều 3, khoản 2: Hàng hóa bao

quốc tế để tránh những hậu quả không đáng có.
Thứ ba, đồng tiền dùng để thanh toán trong Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế: đồng tiền dùng để thanh toán giữa bên mua và bên bán rất đa dạng, phụ
thuộc vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. Quy định về đồng tiền thanh
toán là không thể bỏ qua giữa các bên trong thương lượng và thỏa thuận hợp đồng,
đồng tiền dùng trong thanh toán có thể là đồng tiền của một trong các bên tham gia
hợp đồng tức là có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên tham gia hợp đồng,
có thể là đồng tiền của một nước thứ ba, có thể là đồng tiền được sử dụng trong khu

16
vực, cũng có thể là đồng tiền được dùng trên phạm vi toàn thế giới. Ví dụ: hợp đồng
mua bán vải thiều giữa bên bán là thương nhân Việt Nam và bên mua là thương
nhân Trung Quốc, đồng tiền dùng để thanh toán là đồng nhân dân tệ - trong trường
hợp này đồng nhân dân tệ là nội tệ của bên thương nhân Trung Quốc và là ngoại tệ
đối với thương nhân Việt Nam. Trong hợp đồng mua bán gạo giữa bên bán là
thương nhân Thái Lan và bên mua là thương nhân Pháp, thỏa thuận đồng tiền dùng
để thanh toán là đô la Mỹ - trường hợp này, đồng đô la Mỹ là ngoại tệ đối với cả
bên mua và bên bán. Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân Hi Lạp và
thương nhân Bỉ, thỏa thuận đồng tiền dùng để thanh toán là đồng Euro, trong trường
hợp này đồng tiền dùng để thanh toán là nội tệ đối với cả hai bên.
Thứ tư, ngôn ngữ của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: ngôn ngữ của
hợp đồng cũng đa dạng: có thể ngôn ngữ mẹ đẻ đối với cả hai bên, có thể là ngoại
ngữ đối với một hoặc cả hai bên. Thực tế giao dịch thương mại quốc tế cho thấy,
thông thường hợp đồng được làm bằng hai ngôn ngữ: một ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ
đối với một bên và một ngôn ngữ quốc tế, thường là tiếng Anh; công việc soạn thảo
hợp đồng có thể làm bằng hai cách: có thể lập thành hai hợp đồng mỗi hợp đồng
dùng một ngôn ngữ hoặc dùng cả hai ngôn ngữ trong cùng một hợp đồng. Ngôn ngữ
dùng để soạn thảo hợp đồng rất quan trọng, nhất là trường hợp dùng hai ngôn ngữ
để soạn thảo, trong đó có một ngôn ngữ chính thì hợp đồng bằng ngôn ngữ chính
này sẽ là hợp đồng gốc và là cơ sở xác định thỏa thuận của các bên trong trường

kết bởi các bên có trụ sở thương mại tại các nước khác nhau nên nếu hai bên đàm
phán ký kết ở nước người bán thì việc ký kết hợp đồng diễn ra ở nước ngoài đối với
người mua và ngược lại, nếu hợp đồng được ký kết ở nước thứ ba thì việc ký kết hợp
đồng được thực hiện tại nước ngoài đối với cả hai bên tham gia hợp đồng.
Thứ bảy, luật điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: pháp luật
dùng để điều chỉnh Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế rất phong phú, xuất phát từ
nguyên tắc chung của Tư pháp quốc tế trong mua bán hàng hóa quốc tế, theo đó các
bên có quyền tự do thỏa thuận nguồn luật điều chỉnh quan hệ mua bán và Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế. Theo đó, nguồn luật điều chỉnh hợp đồng có thể là luật
quốc gia, điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế, thậm chí là án lệ.

18
Luật quốc gia: các bên tham gia Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có
quyền tự do thỏa thuận và thống nhất với nhau trong hợp đồng lựa chọn luật quốc
gia để điều chỉnh hợp đồng, đó có thể là luật nước người bán, có thể là luật nước
người mua, có thể là luật nước thứ ba hoặc bất kỳ pháp luật quốc gia nào có liên
quan đến Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như: luật nơi ký kết hợp đồng, luật
nơi thực hiện hợp đồng… Khi luật quốc gia trở thành nguồn luật điều chỉnh Hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế thì luật quốc gia đó sẽ trở thành pháp luật nước
ngoài đối với một hoặc cả hai bên tham gia hợp đồng.
1.1.3 . Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hiệu lực của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là vấn đề quan trọng mà
các bên tham gia hợp đồng phải quan tâm khi giao kết hợp đồng, tuy nhiên thực tế
cho thấy các bên của hợp đồng thường không quan tâm đến vấn đề này ở mức độ
xứng đáng. Mua bán hàng hóa quốc tế ngày nay đòi hỏi chủ thể của hợp đồng phải
hiểu biết và nắm được những quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng để hạn chế những rắc rối và thiệt hại không cần thiết có thể xảy ra. Hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực phải đáp ứng những điều kiện sau:
Thứ nhất, chủ thể của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là bên mua và
bên bán phải có đủ tư cách pháp lý (chủ thể của hợp đồng phải hợp pháp):

Nam có quy định khác. Trong trường hợp người nước ngoài xác lập, thực hiện các
giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của người nước ngoài
được xác định theo pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại điều 18 và
điều 19 Bộ luật dân sự quy định công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên mới có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Pháp luật các nước cũng đều có quy định rõ ràng
vấn đề năng lực hành vi của tự nhiên nhân, ví dụ Bộ luật dân sự của Pháp quy định:
Tất cả mọi người tròn 18 tuổi là những người có năng lực hành vi và có thể trở
thành thương nhân.
Đối với chủ thể của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là pháp nhân: vấn
đề chủ thể của hợp đồng là một trong những vấn đề mà bên mua và bên bán rất cần
phải hiểu biết bởi trong thực tế không ít trường hợp khi có tranh chấp xảy ra, tòa án
giải quyết tranh chấp tuyên hợp đồng vô hiệu do người ký kết hợp đồng không đủ

Trích đoạn Các yếu tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán Các căn cứ miễn trách nhiệm và chế tài do vi phạm Hợp đồng Có sự vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 41 Có thiệt hại về tài sản của bên bị vi phạm 44 Có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng của bên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status