Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
3
CHƯƠNG 1: HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ
VI PHẠM HỢP ĐỒNG
1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
1.1.1 Tìm hiểu về mua bán và mua bán hàng hóa:
Theo luật thương mại Việt Nam, mua bán hàng hóa được định nghĩa: “Mua bán
hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền
sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho
bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận”.
(1)
Định nghĩa cho thấy
mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, lợi
nhuận được phát sinh sau mỗi lần mua bán.
Như chúng ta đã biết, mua bán thể hiện sự trao đổi hàng hóa của người bán chuyển
cho người mua để nhận được từ người mua tiền hay vật phẩm có giá trị như đã thỏa
thuận. Mua bán mang về lợi ích cho cả người mua lẫn người bán. Đối với người mua, lợi
ích của họ là có được hàng hóa mình muốn. Còn đối với người bán, họ có được khoản
tiền hay vật có giá trị từ việc mua bán đó. Như vậy, mua bán là phương thức chủ yếu để
dịch chuyển tài sản và quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác, tạo ra sự
lưu thông hàng hóa và tiền tệ trong đời sống kinh tế xã hội.
Trong mua bán thì hàng hóa là đối tượng được mang ra trao đổi, là sản phẩm dùng
để bán nói chung. Và theo học thuyết kinh tế chính trị Mac-Lenin thì hàng hóa cũng được
hiểu tương tự, đó là sản phẩm lao động của con người, tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn
nhu cầu của con người được thông qua trao đổi mua bán. Hiện nay, khái niệm hàng hóa
được ghi nhận trong luật pháp các quốc gia trên thế giới. Mặc dù có những khác biệt nhất
định về việc định nghĩa song, hàng hóa vẫn được hiểu là tất cả các loại động sản, kể cả
động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai
(2)
kinh tế xã hội. Mua bán hàng hóa có vai trò quan trọng khi nó thúc đẩy phát triển nền
kinh tế từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Bên bán, bên mua trong mua bán hàng
hóa vì mục tiêu lợi nhuận có thể mang hàng hóa đến tận những vùng sâu, vùng xa khơng
gần những nơi sản xuất để bán. Khơng có mua bán hàng hóa thì hoạt động sản xuất sẽ trì
trệ, sản phẩm được sản xuất ra bị tồn đọng, khó tiêu thụ. Với những lẽ trên mua bán hàng
hóa diễn ra trên lãnh thổ mỗi nước, khơng có quốc gia nào khơng diễn ra hoạt động mua
bán hàng hóa và chúng đóng vai trò đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội. Xã hội ngày càng
phát triển về kinh tế thì nhu cầu trao đổi hàng hóa của con người càng mạnh, khơng chỉ bó
hẹp phạm vi mua bán trong một nước nữa mà còn muốn trao đổi hàng hóa với nước khác,
đặt tiền đề cho việc mua bán hàng hóa quốc tế và ngày nay, MBHHQT giữ một vị trí quan
trọng trong xu thế tồn cầu hóa của thế giới, MBHHQT khơng thể thiếu đối với những
quốc gia muốn phát triển nền kinh tế đất nước.
1.1.2 Mua bán hàng hóa quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
1.1.2.1 Mua bán hàng hóa quốc tế (MBHHQT):
MBHHQT được hiểu thơng thường là việc mua bán hàng hóa có liên quan đến một
quốc gia khác. Liên quan đến quốc gia khác có thể là mua hoặc bán hàng hóa với người
thuộc một quốc gia khác hay việc xuất hàng hóa vào một nước khác hoặc mua hàng hóa
từ quốc gia khác sau đó nhập vào nước mình… Vấn đề mua bán ngày càng đa dạng và
phức tạp khi hàng hóa được lưu thơng khơng chỉ trong nước mà còn được vận chuyển
sang nước khác. Hàng hóa được xuất đi hoặc nhập vào một quốc gia phải tn thủ các qui
định của quốc gia đó và có thể những qui định này khơng giống với các qui định trong
nước. Mỗi quốc gia với những đặc điểm kinh tế xã hội riêng sẽ có những qui định riêng,
xảy ra những vấn đề phức tạp xung quanh việc mua bán là khơng thể tránh khỏi.
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
5
Đồng thời, mua bán hàng hóa và MBHHQT là nội dung trọng tâm của hoạt động
thương mại vì vai trò của chúng trong nền kinh tế đất nước. Do đó, những nguyên tắc
trong MBHHQT chắc chắn được xây dựng trong luật pháp các nước. Bên cạnh đó, trong
đồng sẽ được lập chứa đựng những nội dung như trên. Ở đây có một chú ý, hợp đồng phải
được lập dưới dạng văn bản, đây là hình thức bắt buộc theo luật Việt Nam đối với
(3)
Điều 388 Bộ luật dân sự Việt Nam
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
6
HĐMBHHQT. Mặc dù, HĐMBHH trong nước vẫn có giá trị khi: “ Hợp đồng mua bán
hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ
thể”
(4)
. Nhưng “ Mua bán hàng hóa quốc tế phải được thực hiện trên sơ sở hợp đồng
bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”
(5)
. Hiểu rằng,
HĐMBHHQT chỉ có giá trị pháp lý khi được lập thành văn bản, điện báo, telex, fax,
thông điệp dữ liệu…( các hình thức có giá trị tương đương văn bản được quy định trong
luật thương mại Việt Nam)
(6)
không chấp nhận hợp đồng miệng hoặc bằng hành vi cụ thể
mặc dù mua bán hàng hóa trong nước vẫn có giá trị và các qui ước quốc tế vẫn công nhận.
Cụ thể là tại qui định của công ước CISG thì HĐMBHHQT không nhất thiết phải được
lập dưới hình thức văn bản, hợp đồng có thể chứng minh bằng mọi cách, kể cả lời khai
của nhân chứng
(7)
. Xét về hình thức hợp đồng, công ước cho phép các nước sử dụng cả 3
loại: hình thức văn bản, hình thức miệng và hình thức mặc nhiên. Tuy nhiên, Việt Nam
chọn sự khác biệt này có nhiều ưu điểm hơn cả, so với các hình thức còn lại thì hợp đồng
- Những điều khoản chủ yếu: là những điều khoản căn bản, nhất thiết phải có trong
hợp đồng, các điều khoản này đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại của hợp đồng như tên
hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán…
- Những điều khoản thường lệ (hay còn gọi là điều khoản đương nhiên): là những
điều khoản mà nội dung của chúng đã được quy định trong các văn bản pháp luật. Những
điều khoản này có thể đưa vào hợp đồng mà cũng có thể không cần đưa vào hợp đồng. Ví
dụ như: bên mua là phía Việt Nam có thể tuyên bố là ngoài những điều khoản về chất
lượng hàng hóa đã thỏa thuận thì bên bán phải đảm bảo hàng hóa. Các bên có thể không
cần thỏa thuận hiệu lực của hợp đồng vì qui định chung là hợp đồng có hiệu lực khi bên
cui61 cùng trong hợp đồng đặt bút ký (áp dụng cho hợp đồng giao kết trực tiếp).
- Những điều khoản tùy nghi: là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết tự
ý lực chọn với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Thông qua những điều
khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định
để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn đảm bảo được quyền yêu cầu của các
bên. Ví dụ: các bên thỏa thuận khi vi phạm hợp đồng xảy ra có thể tạm ngừng, đình chỉ
thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng tùy theo tuyên bố của bên bị vi phạm.
* Phần ký kết hợp đồng: đây là phần cuối cùng của hợp đồng, các bên ký kết hợp
đồng thể hiện sự chấp thuận của mình đối với những điều khoản đã thỏa thuận trên.
Đến đây, HĐMBHHQT được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh. Như đã tìm hiểu
thì MBHHQT được phát triển từ mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT được phát
triển từ hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, các nội dung trong kết cấu hợp đồng trên
vẫn có thể tồn tại trong hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước. Vậy thì để xác định là
một HĐMBHHQT phải xét đến tính quốc tế của hợp đồng. Khi xác định về tính chất của
hợp đồng thì khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT có tính
quốc tế hay như BLDS VN đề cập là có yếu tố nước ngoài
(8)
. Yếu tố nước ngoài được thể
hiện khi có sự hiện diện của một trong ba dấu hiệu:
- Có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài,
lý
(10)
. Theo các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo ra sự di chuyển
qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giiữa hai nước. Nói các khác, hợp đồng đó
thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế. Theo tiêu chuẩn pháp lý, một hợp đồng được
coi là quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc
tịch hoặc nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh
toán…
Dù có những khác biệt nhất định về xác định tính quốc tế của hợp đồng nhưng
công ước CISG, luật Pháp hay những qui định cụ thể của luật Việt Nam, tất cả đều xoay
quanh việc có liên quan đến nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh những vấn đề xung
quanh hợp đồng. Tổng hợp những đặc điểm khi xét tính quốc tế hay yếu tố nước ngoài
của HĐMBHHQT giúp ta giải thích được những nội dung liên quan đến HĐMBHHQT
mà một hợp đồng trong nước không có, đó là những điểm:
- Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHHQT là hàng có thể chuyển qua biên giới của
một nước, tức là có thể được chuyển từ nuớc này sang nước khác; và
- Tiền tệ dùng để thanh toán giữa người mua và người bán thường là ngoại tệ đối
với một trong hai bên; và
(9)
Điều 10 công ước CISG
(10)
Các tiêu chí xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Nguyễn Vũ Hoàng - Tạp chí Nhà nước và pháp luật
số 11 – 2003
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
9
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên xung quanh việc giao kết và thực hiện hợp
đồng có thể do tòa án của một nước hoặc do một tổ chức trọng tài có thẩm quyền xét xử;
theo qui định của pháp luật”.
Qua hai hình thức trên cho thấy, trong xuất khẩu hàng hóa thì hợp đồng
xuất khẩu được xác lập giữa các bên. Hợp đồng xuất khẩu là hợp đồng
bán hàng cho nước ngoài nhằm thực hiện việc chuyển giao hàng hóa ra nước
(11)
Điều 27 Luật thương mại Việt Nam
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
10
ngoài, đồng thời di chuyển quyền sở hữu hàng hóa đó sang người mua.
Hàng hóa được làm thủ tục xuất khẩu khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu
vào một nước khác. Còn hợp đồng nhập khẩu hàng hóa được phát sinh là hợp
đồng mua hàng của nước ngoài để đưa hàng đó vào Việt Nam nhằm phục
vụ cho sản xuất, chế biến, tiêu dùng trong nước. Hàng hóa được làm thủ
tục xuất khẩu và nhập khẩu. Đây là hai hình thức mua bán nổi bật nhất trong
MBHHQT Việt Nam.
Theo điều 29 luật thương mại Việt Nam loại hợp đồng tạm nhập, tái xuất
là hợp đồng xuất khẩu chính những hàng hóa mà trước kia đã nhập từ
nước ngoài, không qua tái chế biến hay sản xuất gì ở trong nước Việt Nam.
Tạm nhập, tái xuất là việc Việt Nam mua hàng của một nước để bán cho
một nước khác, có làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam và
làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam.
Như vậy thì, tạm nhập, tái xuất được thực hiện trên cơ sở hai hợp đồng riêng biệt:
hợp đồng mua hàng do Việt Nam ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán
hàng do Việt Nam ký với thương nhân nước nhập khẩu.
Loại HĐMBHHQT tiếp theo là hợp đồng tạm xuất, tái nhập. Đây thực chất
là hợp đồng mua những hàng hóa do nước mình sản xuất mà trước kia đã
xuất ra nước ngoài. Việc tái nhập khẩu không có ý nghóa lớn trong ngoại
những vấn đề liên quan thì kết cấu hoàn chỉnh của một HĐMBHHQT theo luật Việt Nam
sẽ có yếu tố nước ngoài có tên gọi tương ứng với các hình thức MBHHQT theo điều 27
luật thương mại Việt Nam. Còn nội dung hợp đồng, trên cơ sơ nguyên tắc tôn trọng thỏa
thuận giữa các bên trong việc xác lập và thực hiện hợp đồng nên chủ thể hợp đồng thỏa
thuận điều khoản càng chi tiết thì càng đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của mình nếu có
xảy ra tranh chấp. Luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế không qui định nội dung bắt
buộc, do đó phụ thuộc vào sự thương lượng của các bên nhằm đưa ra các điều khoản, tuy
nhiên Bộ luật dân sự Việt Nam có hướng dẫn một số nội dung cần thiết trong hợp đồng ở
điều 402. Dựa vào hường dẫn này ta thấy, thông thường, một HĐMBHHQT có những nội
dung dưới đây có thể được xem là đầy đủ và chi tiết:
* Phần mở đầu:
- Tên hợp đồng mua bán hàng hóa, ngày tháng ký hợp đồng.
- Tên, địa chỉ, các số máy điện thoại, Fax, Telex, E mail của bên bán và bên mua.
- Những thông tin về người đại diện ký kết.
Bên bán có hàng hóa muốn bán và bên mua chấp nhận mua hàng của bên bán thì sẽ
đi đến việc thỏa thuận những điều khoản trong phần nội dung:
* Phần nội dung:
- Tên hàng, số lượng, chất lượng hàng hóa.
- Giá cả.
- Phương thức giao hàng.
- Hình thức thanh toán.
- Bao bì và ký hiệu mã.
- Bảo hành.
- Phạt và bồi thường thiệt hại.
- Bảo hiểm.
- Các phương thức giải quyết tranh chấp và luật áp dụng cho hợp đồng.
- Một số điều khoản khác.
* Phần ký kết:
Đến đây, HĐMBHHQT đã được hoàn chỉnh, tồn tại dưới dạng văn bản chứa đựng
các điều khoản mà các bên thỏa thuận. Văn bản hợp đồng có giá trị pháp lý bắt buộc các
gói, bảo quản và các quy đònh trong hợp đồng”.
(13)
Giao hàng là nghóa vụ cơ
bản của người bán, nghĩa vụ giao hàng của người bán thể hiện qua việc người
bán phải giao đúng hàng, giao hàng đúng đòa điểm, thời gian, đúng số lượng
và chất lượng như đã giao kết trong hợp đồng.
Kết hợp với việc giao hàng thì người bán phải giao các giấy tờ liên
quan đến hàng hóa như giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa, bảo hiểm hay
các giấy tờ hải quan nhằm đảm bảo cho việc kiểm tra hàng hóa và chuyển quyền sở
hữu cho bên mua. Tuy nhiên, người bán có thể giao trước hoặc sau khi giao hàng
tùy theo thỏa thuận các bên.
1.2.1.2 Đối với bên mua:
(13)
Điều 34 Luật thương mại Việt Nam
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
13
Trong q trình thực hiện hợp đồng, bên bán có nghĩa vụ giao hàng thì “bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng”
(14)
và thanh tốn tiền hàng. Nghĩa vụ nhận hàng của người bán
được thể hiện qua việc sẵn sàng tiếp nhận hàng và tiếp nhận hàng. Sở dĩ có hành vi sẵn
sàng tiếp nhận hàng là vì động thái này thể hiện sự đảm bảo rằng bên mua đã có chuẩn bị
cho việc tiếp nhận hàng đây là cơ sở tin rằng bên mua chắc chắn sẽ tiếp nhận hàng của
bên bán theo đúng thời hạn giao nhận hàng qui định trong hợp đồng.
Còn đối với việc thanh toán tiền hàng thì đây là nghóa vụ bắt buộc của
người mua trong mua bán hàng hóa. Do đó, người mua phải thanh toán tiền
hàng theo đúng thời gian và đòa điểm đã ghi trong hợp đồng.
đồng.
(14)
Điều 56 Luật thương mại Việt Nam
(15)
Điều 13 khoản 12 Luật thương mại Việt Nam.
(16)
Từ điển Tiếng Việt
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
14
Từ việc tìm hiểu khái niệm VPHĐ cho thấy vi phạm HĐMBHHQT xảy ra
khi một trong các bên có hành vi VPHĐ. Hành vi VPHĐ sẽ là việc một bên
có hành vi trái với thỏa thuận trong hợp đồng. Có nghóa là có hành vi trái
với nội dung của hợp đồng. Như đã đề cập, nội dung của hợp đồng là các
điều khoản chủ yếu của hợp đồng làm cơ sở để phân đònh quyền và nghóa
vụ các bên, ln tồn tại trong phần nội dung của hợp đồng. Do vậy, căn cứ xác
đònh hành vi VPHĐ dựa vào các điều khoản này. Nếu thực hiện nghóa vụ trái
với các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng thì chính là hành vi VPHĐ.
Vậy thì, hành vi VPHĐ xảy ra sau khi hợp đồng được ký kết. Khi hợp đồng đã
được hai bên thống nhất ký kết thì cơng việc hết sức quan trọng là tổ chức thực
hiện các hợp đồng đó. Khi thực hiện hợp đồng, bên bán và bên mua làm
nhiệm vụ chủ yếu của mình theo nghóa vụ qui đònh trong hợp đồng:
- Bên bán làm các việc để giao hàng và chứng từ cho người mua.
- Bên mua nhận hàng và trả tiền cho người bán theo hợp đồng.
Tuy nhiên, khi thực hiện hợp đồng các bên lại không thực hiện đúng
nghóa vụ của mình dẫn đến hành vi VPHĐ. Trong trường hợp này bên khơng thực
hiện đúng nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của họ.
1.3 Trách nhiệm các bên khi có VPHĐ:
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
15
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt
hại thực tế xảy ra.
- Có lỗi của bên vi phạm.
Các yếu tố vừa nêu sẽ liên quan trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm của các
bên nhất là bên vi phạm hợp đồng. Bên gây ra vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm nếu như
hành vi vi phạm của mình làm xuất hiện các yếu tố trên. Việc xem xét cụ thể từng yếu tố
sẽ làm sáng tỏ vai trò của chúng trong việc xác định trách nhiệm đối với bên vi phạm.
1.3.1 Yếu tố về hành vi VPHĐ:
Như đã phân tích ở phần VPHĐ thì hành vi VPHĐ là căn cứ pháp lý
quyết định để áp dụng đối với tất cả các hình thức chế tài do VPHĐ vì chỉ khi
có hành vi VPHĐ xảy ra mới xét đến trách nhiệm các bên. Hành vi vi phạm
HĐMBHHQT là xử sự của các chủ thể hợp đồng không phù hợp với nghóa
vụ theo hợp đồng. Biểu hiện cụ thể của VPHĐ là việc không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng, không đầy đủ các nghóa vụ theo hợp đồng.
Đặc biệt, trong quan hệ hợp đồng mua bán, các bên không chỉ phải
thực hiện những nghóa vụ thỏa thuận trong hợp đồng (ghi vào hợp đồng) mà
còn có thể phải thực hiện những nghóa vụ thỏa thuận theo qui đònh của pháp
luật (trong từ ngữ luật học thường gọi là nội dung thường lệ của hợp đồng
mua bán). Vì vậy, khi xem xét hành vi có vi phạm hợp đồng hay không, cần
phải căn cứ vào hợp đồng và các quy đònh về hợp đồng mua bán để việc xác
định trách nhiệm được rõ ràng, chính xác hơn.
1.3.2 Yếu tố có thiệt hại vật chất thực tế xảy ra:
HĐMBHHQT mang mục đích kinh tế, vấn đề lợi nhuận được đặt lên
hàng đầu. Có thể nói, quyền lợi của các bên chính là các quyền lợi gắn
liền với các lợi ích kinh tế, gắn liền với lợi nhuận. Khi xảy ra VPHĐ và bên
gây ra vi phạm phải chòu trách nhiệm thì việc chòu trách nhiệm thường mang
tính vật chất và việc xác đònh mức độ thiệt hại của bên bò vi phạm cũng
và công ước CISG còn có điểm chung:
- Quy đònh về khoản thiệt hại do vi phạm phải chòu bao gồm giá trò tổn
thất thực tế, trực tiếp mà bên bò vi phạm chòu do bên vi phạm gây ra và cả
khoản lợi trực tiếp mà bên bò vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có
hành vi vi phạm xảy ra.
(19)
- Nếu bên vi phạm chậm thanh toán tiền thì bên bò vi phạm có quyền
yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn
trung bình tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
(20)
1.3.3 Yếu tố có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHĐ và
thiệt hại thực tế:
Yếu tố này xác đònh nhằm xác đònh bên có hành vi VPHĐ chỉ phải
bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi
phạm hợp đồng.
Trên thực tế, một hành vi VPHĐ có thể gây ra nhiều khoản thiệt hại
và một khoản thiệt hại cũng có thể sinh ra nhiều hành vi VPHĐ. Trong khi
đó, các chủ thể hợp đồng, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh, có thể cùng
một lúc tham gia nhiều quan hệ hợp đồng khác nhau. Vì vậy, việc xác đònh
chính xác mối quan hệ nhân quả giữa hành vi VPHĐ và thiệt hại thực tế
không phải bao giờ cũng dễ dàng: sẽ rất dễ nhầm lẫn nếu chỉ dựa vào suy
đoán chủ quan. Điều này đòi hỏi bên bò vi phạm khi đòi hỏi bồi thường
thiệt hại (cũng như các cơ quan tài phán khi quyết đònh áp dụng chế tài bồi
thường thiệt hại đối với bên vi phạm) phải dựa trên những chứng cứ rõ
ràng, xác thực và hợp pháp.
1.3.4 Yếu tố có lỗi của bên vi phạm:
Lỗi của bên VPHĐ là căn cứ bắt buộc phải có để áp dụng đối với
tất cả các hình thức chế tài do VPHĐ. Trong khoa học pháp lý, lỗi được hiểu
nhiệm phải chòu. Cụ thể là
(21)
ø:
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
- Phạt vi phạm.
- Buộc bồi thường thiệt hại.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
- Huỷ bỏ hợp đồng.
1.4 Các nguồn luật điều chỉnh về hợp đồng, vi phạm và trách
nhiệm các bên trong HĐMBHHQT:
1.4.1: Các điều ước quốc tế về thương mại:
Một hợp đồng được ký kết sau đó các bên tiến hành thực hiện hợp
đồng, trong quá trình thực hiện xảy ra vi phạm dẫn đến việc chòu trách nhiệm
của các bên khi vi phạm xảy ra. Việc chòu trách nhiệm của các bên sẽ dựa
vào sự thỏa thuận trong hợp đồng để ưu tiên giải quyết. Những vấn đề
không được quy đònh hoặc quy đònh không đầy đủ trong hợp đồng, các bên
ký kết có thể dựa vào các điều ước quốc tế về thương mại. Do đó, điều
ước quốc tế về thương mại là nguồn luật đầu tiên của HĐMBHHQT.
Có hai loại điều ước quốc tế về thương mại liên quan đến việc điều
chỉnh HĐMBHHQT
(22)
:
- Loại thứ nhất đề ra những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho
hoạt động ngoại thương nói chung và mua bán xuất nhập khẩu, mua bán quốc
tế nói riêng. Những điều ước quốc tế này (có thể là song phương hoặc đa
phương, khhu vực hoặc toàn câu không điều chỉnh các vấn đề về quyền,
nghóa vụ, trách nhiệm cụ thể của các bên trong HĐMBHHQT mà chỉ nêu
những nguyên tắc pháp lý có tính chất chỉ đạo.
kiệm thời gian. Song hiện nay, đối với Việt Nam chúng ta, vì nước ta chưa ký
nhiều điều ước quốc tế nên điều ước quốc tế về thương mại với ý nghóa
là nguồn lực điều chỉnh HĐMBHHQT chưa phát huy thật sự phát huy vai trò
của nó.
1.4.2. Luật quốc gia:
Pháp luật quốc gia với tư cách là nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng
hóa của quốc gia đó. Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế trong các trường hợp sau:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng cho hợp
đồng là luật quốc gia của một nước cụ thể.
- Khi xuất phát từ ngun tắc xung đột ph1p luật. Ví dụ: các bên khơng thỏa thuận
luật áp dụng thì luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là luật của quốc gia ở nơi hợp đồng được
thực hiện hay luật có quan hệ mật thiết với hợp đồng…
Theo pháp luật Việt Nam thì các qui đònh về hợp đồng được quy định tại Bộ
luật dân sự 2005 (BLDS), Luật thương mại 2005 (LTM), Bộ luật hàng hải 2005,…
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
19
1.4.3. Tập quán quốc tế về thương mại:
Tập q quốc tế là những qui tắc xử sự phổ biến được hình thành lâu đời trong
thực tiễn hoạt đồng thương mại quốc tế. Như vậy, tập qn thương mại có các dấu hiệu
sau:
- Là những quy tắc xử sự được hình thành từ lâu đời;
- Có tính phổ biến, tức là được áp dụng rộng rãi trong những hồn cảnh tương tự.
Theo ngun tắc, bản thân của tập qn thương mại quốc tế khơng có hiệu lực
pháp lý như một quy phạm pháp luật, nó chỉ có hiệu lực trong những trường hợp cụ thể do
luật định.
Trong thực tiễn, tập qn thương mại quốc tế có hiệu lực pháp lý trong những
trường hợp sau:
nghóa vụ của người bán sẽ nặng hơn nhiều (như người bán phải thuê tàu hộ
người mua) so với nghóa vụ của người bán FOB trong Incoterms 2000. Bên cạnh
đó có những tập qn khu vực riêng biệt, chỉ có ở một địa phương và những nơi khác
khơng được áp dụng, tập qn này thường phát sinh do điều kiện thiên nhiên hay kinh tế
xã hội ở nơi đó.
1.4.4 Hợp đồng mẫu:
Trong hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, ngoại tập qn thương mại trong
nhiều trường hợp những phương tiện khác cũng được các bên áp dụng nhằm hỗ trợ cho
việc ký kết và thực hiện hợp đồng như:
- Hợp đồng mẫu;
- Những điều kiện chung của giao dịch;
- Những chỉ dẫn ký hợp đồng.
Mặc dù theo bản chất, hợp đồng mẫu hạn chế tự do của các bên trong việc xác định
điều kiện của hợp đồng, nhưng chính sự tự do của các bên trong việc xác định điều kiện
của hợp đồng là cơ sở để xây dựng các hợp đồng mẫu. Trên phiếu ghi hợp đồng mẫu có
văn bản của hợp đồng và có một số điều khoản đã được điền vào (tên gọi, địa chỉ của các
bên, giá, thời hạn giao hàng, mơ tả hàng hóa…) và hợp đồng này có hiệu lực khi các bên
ký lên phiếu
(24)
:
- Những điều kiện chung của giao dịch có thể được coi là một phần của hợp đồng
bằng cách việc dẫn đến những điều kiện chung này trong văn bản hợp đồng.
- Trong “những chỉ dẫn ký kết hợp đồng” có các phương án khác nhau của văn bản
hợp đồng, những phương án nói trên chỉ có tính chất hướng dẫn ký kết hợp đồng.
Thơng thường, hợp đồng mẫu được soạn thảo bởi những chủ thể có uy tín trong
hoạt động thương mại quốc tế, hay bởi những hiệp hội chun nghiệp của các chủ thể của
thương mại quốc tế. Hiện nay, nhiều hợp đồng mẫu và điều kiện chung của giao dịch
được Ủy ban kinh tế Châu Âu trực thuộc Liên hiệp quốc soạn thảo. Ví dụ, hợp đồng mẫu
mua bán ngũ cốc 1957, 1958, 1961; điều kiện chung của việc xuất khẩu hàng hóa đầu tư
Đây cũng là cách hiểu thống nhất trong thương mại quốc tế, vì cách lý giải
trong bộ Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC)
(25)
cũng tương tự. Theo lý
giải của PICC thì việc “không thực hiện hợp đồng” liên quan đến hai đặc tính:
- Trước tiên, việc “không thực hiện hợp đồng” được định nghĩa gồm tất cả các
hình thức có thực hiện nhưng không đúng như giao kết cũng như hoàn toàn không
thực hiện và nếu một HĐMBHHQT, một phần theo đúng hợp đồng và một phần
không theo đúng hợp đồng hoặc hoàn thành trễ thì đều bị coi là VPHĐ (không thực
hiện hợp đồng).
- Đặc tính thức hai là khái niệm “không thực hiện hợp đồng” bao gồm cả việc
không thực hiện được miễn trừ trách nhiệm hay không được miễn trừ trách nhiệm.
Nếu là do lỗi của bên vi phạm nhưng việc không thực hiện được miễn trách dẫn đến
bên kia không có quyền đòi bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu bên này phải thực hiện
một nghĩa vụ cụ thể nào. Tuy vậy, khi bên này được miễn trách về việc không thực
hiện thì bên kia vẫn có quyền chấm dứt hợp đồng.
Trong HĐMBHHQT, việc thực hiện không đúng theo hợp đồng là mấu chốt
xác định có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra. Việc xác định mấu chốt này không kém
phần phức tạp, do đó xác định như thế nào là không thực hiện đúng theo hợp đồng
luôn được qui định trong các văn bản luật về thương mại của mỗi nước đồng thời qui
định nhiều trong các điều ước về MBHHQT. Qui định phổ biến về nội dung này giúp
ta nhận thấy được đặc điểm tương đồng ở các văn bản về nội dung của hành vi vi
phạm. Điểm chung lớn nhất là khi xét hành vi VPHĐ đều liên quan nội dung của hợp
đồng, đến các điều khoản của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên khi thực hiện hợp
đồng. Và việc vi phạm chính là không thực hiện đúng với những gì đã thoả thuận trong
các điều khoản, không thực hiện đúng những nghĩa vụ mình đã cam kết. Biểu hiện ở
việc thực hiện không đúng những điều khoản của hợp đồng là thực hiện không đúng
(25)
Principles of Tnternational commercial Contracts – Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế của
cầu của mình. Do đó, việc giao hàng không đạt chất lượng sẽ là vi phạm cơ bản trong
việc thực hiện hợp đồng, bên vi phạm buộc phải chịu những trách nhiệm nặng nề. Xác
định vi phạm đối với chất lượng hàng hóa liên quan đến rất nhiều khía cạnh. Tùy từng
trường hợp các bên thỏa thuận, vi phạm chất lượng hàng hóa có thể xảy ra khi giao
hàng không đúng mẫu, không đúng tiêu chuẩn nhãn hiệu hay hàm lượng trong sản
phẩm không đạt tiêu chuẩn về an toàn…
Khi xét về vi phạm trong chất lượng chẳng những liên quan đến nhiều khía
cạnh, nhiều nội dung mà còn rất khắt khe. Cụ thể là khi việc giao hàng hoá có những
ký hiệu, hình vẽ,… đúng với nhãn hiệu đã thoả thuận nhưng ngày sản xuất, hạn sử
dụng khác với thỏa thuận vẫn bị xem là vi phạm cho dù hàng được giao vẫn còn hạn
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
24
sử dụng. Lý do ở đây là những sản phẩm được bán ở những thời điểm khác nhau có
thể có chất lượng khác nhau nên giá cả cũng khác nhau.
Ví dụ: Giao kết hợp đồng khi bên mua đặt hàng là đồ hộp có ngày sản xuất là
10.10.2009, giao hàng là 01.2010, hạn sử dụng 3 năm kể từ ngày sản xuất
(10.10.2012). Tuy nhiên, đồ hộp được giao có ngày sản xuất là 05.05.2009 có thể bị
xem là vi phạm hợp đồng nếu như bên mua không chấp nhận lô hàng này vì hạn sử
dụng bị rút ngắn thời gian (05.05.2011) ảnh hưởng đến việc tiêu thụ ra thị trường của
bên mua…
Việc giao hàng tương tự, hàng cùng loại nhưng khác công ty sản xuất nếu
không được bên mua chấp nhận vẫn bị xem là VPHĐ trong việc giao hàng không đúng
nhãn hiệu.
Tuy nhiên, bên xuất khẩu thường thỏa thuận với qui định mềm dẻo trong điều
khoản chất lượng để không quá khắt khe trong điều kiện về chất lượng, vì đôi khi có
những sai sót không thể nào tránh khỏi, ví dụ như:
- Chất lượng của hàng giao tương đương hoặc gần như hàng mẫu: Qui định này
chênh lệch mà không phải chịu vi phạm.
Ví dụ như gạo được phép chênh lệch 5% số lượng (áp dụng qui ước dung sai
đối với ngũ cốc). Thoả thuận giao 1 tấn gạo được phép chênh lệch 5% thì giao 950kg
hay 1050kg không xem là vi phạm.
Tiêu chuẩn về qui cách đóng gói cũng được đánh giá để xem xét có vi phạm
xảy ra không. Hàng hóa thường được đóng gói trong bao bì gồm hai loại bao bì là bao
bì vận chuyển và bao bì lưu thông (bao bì tiêu thụ). Bao bì không chỉ được sử dụng để
bảo vệ hàng hóa trong quá trình vận chuyển, mà trong nhiều trường hợp (đặc biệt đối
với bao bì lưu thông) còn là sự bắt buộc của pháp luật. Qui cách đóng gói có rất nhiều
qui định và chúng phù hợp với từng mặt hàng mua bán cụ thể. Vi phạm ở nội dung này
chỉ là việc xác định cách đóng gói của sản phẩm không đúng với qui định của pháp
luật hoặc không đúng với cách thức mà các bên đã thỏa thuận.
2.1.2 Vi phạm trong điều kiện giao hàng: Xác định vi phạm dựa vào điều
khoản giao hàng mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng là việc xác định vi phạm
trong các điều khoản về: thời hạn, địa điểm giao hàng, phương thức giao hàng và
thông báo giao hàng.
Thời hạn giao hàng là thời hạn mà người bán phải đem hàng đến giao và hoàn
thành nghĩa vụ trong giao hàng. Không giao hàng trong thời gian đã thoả thuận thì bị
xem là VPHĐ. Tùy theo thỏa thuận cụ thể của các bên ta có một số cách thỏa thuận
phổ biến. Đó là khi thời hạn giao hàng được xác định cụ thể:
- Hoặc vào một ngày cố định,
- Hoặc một ngày được coi là ngày cuối cùng của thời hạn giao hàng: không
chậm quá ngày tháng năm
- Hoặc bằng một khoảng thời gian tính bằng quý
- Hoặc bằng một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo sự lựa chọn của người
mua. Ví dụ: tháng 1 ký hợp đồng, thời gian giao hàng qui định từ tháng 2 đến tháng 7
tuỳ người mua chọn.
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
26
Bên cạnh đó, việc xác định địa điểm giao hàng ảnh hưởng quan trọng đến bên
nhận hàng khi nghĩa vụ của bên mua phải có hành vi sẵn sàng tiếp nhận hàng tại địa
điểm giao hàng này. Có nghĩa là bên nhận hàng phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết
để nhằm sẵn sàng tiếp nhận hàng khi hàng đến. Nguyên nhân này ít xảy ra nhưng có
trường hợp bên giao hàng tuyên bố huỷ hợp đồng do bên nhận hàng VPHĐ về điều
khoản giao nhận hàng. Tuyên bố huỷ hợp đồng này dựa vào việc bên giao hàng thấy
rằng bên nhận không có động thái gì là việc chuẩn bị nhận hàng khi hàng của mình
được mang đến địa điểm giao hàng, cụ thể như chưa chuẩn bị phương tiện vận tải để
(26)
Điều 52 khoản 1 CISG
(27)
Khoản 1 điều 37 luật thương mại
Đề tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng SVTH: Nguyễn Hồng Phát
27
bốc dỡ hàng, chưa chuẩn bị kho bãi cho việc nhập hàng. Trong trường hợp này bên
giao hàng có thể tuyên bố bên nhận hàng vi phạm hợp đồng ngay cả khi bên giao hàng
chưa đưa hàng đến hay tuyên bố sau khi bên giao hàng đến mà không thấy bên nhận
hàng đến nhận. Nội dung này là hoàn toàn phù hợp vì bên bán có những cơ sở cho
rằng quyền lợi của mình bị ảnh hưởng do bên nhận chưa sẵn sàng tiếp nhận hàng. Tuy
nhiên, qui định này chỉ được điều chỉnh ở công ước, luật Việt Nam chưa đề cập đến.
“Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một
bên sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị
hủy”
(28)
Nếu như hàng được giao đúng thời hạn và địa điểm không xảy ra vi phạm thì
việc giao nhận hàng thường sẽ được diễn ra tại địa điểm giao hàng và các bên tiến