(1) Điều 3 khoản 8 Luật thưomg mại
hẹp phạm vi mua bán trong một nước nữa mà còn muốn trao đổi hàng hóa với nước khác,
đặt tiền đề cho việc mua bán hàng hóa quốc tế và ngày nay, MBHHQT giữ một vị trí quan
trọng trong xu thế toàn cầu hóa của thế giới, MBHHQT không thể thiếu đối với những
quốc gia muốn phát triển nền kinh tế đất nước.
l.li Mua bán hàng hóa quốc tế và họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
l.li.l
Mua baùn haeng hoùa quoác teá (MBHHQT):
MBHHQT được hiểu thông thường là việc mua bán hàng hóa có hên quan đến một
quốc gia khác. Liên quan đến quốc gia khác có thể là mua hoặc bán hàng hóa với người
thuộc một quốc gia khác hay việc xuất hàng hóa vào một nước khác hoặc mua hàng hóa
từ quốc gia khác sau đó nhập vào nước mình... vấn đề mua bán ngày càng đa dạng và
phức tạp khi hàng hóa được lưu thông không chỉ trong nước mà còn được vận chuyển
sang nước khác. Hàng hóa được xuất đi hoặc nhập vào một quốc gia phải tuân thủ các qui
định của quốc gia đó và có thể những qui định này không giống với các qui định trong
nước. Mỗi quốc gia với những đặc điểm kinh tế xã hội riêng sẽ có những qui định riêng,
xảy
ra những
vấn đề
phứcDũng
tạp xung quanh việc mua bán lả không
thể tránh
khỏi.
SVTH:
Nguyền
Hồng Phát
GVHD:
Th.s Diệp
Ngọc
3
SVTH: Nguyền Hồng Phát
một tài sản nhất định gọi là hàng hóa, còn nguời mua có quyền nhận hàng và nghĩa vụ
phải trả một số tiền theo thỏa thuận. Vậy thì, nguời bán, nguời mua đuợc gọi là chủ thể
của họp đồng. Nội dung của họp đồng hên quan đến quyền và nghĩa vụ của nguời bán và
nguời mua xung quanh việc nguời bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho nguời mua và
nhận thanh toán.
HĐMBHHQT đuợc hình thảnh khi chủ thể của họp đồng tiến hành giao kết. Họp
đồng sẽ đuợc lập chứa đựng những nội dung nhu trên. Ở đây có một chú ý, họp đồng phải
đuợc lập duới dạng vãn bản, đây là hình thức bắt buộc theo luật Việt Nam đối với
(3) Điều 388 Bộ luật dân sự Việt Nam
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Nguyền Hồng Phát
huơng mại Việt Nam
ó
SVTH: Nguyền Hồng Phát
Đe tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
- Những điêu khoản chủ yêu: là những điêu khoản căn bản, nhât thiêt phải có
trong
họp đồng, các điều khoản này đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại của họp đồng như tên
hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, phưong thức thanh toán...
- Những điều khoản thường lệ (hay còn gọi là điều khoản đưong nhiên): là những
điều khoản mà nội dung của chúng đã được quy định trong các vãn bản pháp luật. Những
điều khoản này có thể đưa vào họp đồng mà cũng có thể không càn đưa vào họp đồng. Ví
dụ như: bên mua là phía Việt Nam có thể tuyên bố là ngoài những điều khoản về chất
lượng hàng hóa đã thỏa thuận thì bên bán phải đảm bảo hàng hóa. Các bên có thể không
càn thỏa thuận hiệu lực của họp đồng vì qui định chung là họp đồng có hiệu lực khi bên
CUĨ61 cùng trong họp đồng đặt bút ký (áp dụng cho họp đồng giao kết trực tiếp).
- Những điều khoản tùy nghi: là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết
tự
ý lực chọn với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Thông qua những điều
khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định
để thực hiện họp đồng, sao cho thuận lợi mà vẫn đảm bảo được quyền yêu cầu của các
bên. Ví dụ: các bên thỏa thuận khi vi phạm họp đồng xảy ra có thể tạm ngừng, đình chỉ
thực hiện họp đồng hoặc hủy bỏ họp đồng tùy theo tuyên bố của bên bị vi phạm.
* Phần kỷ kết hợp đồng: đây là phần cuối cùng của họp đồng, các bên ký kết họp
đồng thể hiện sự chấp thuận của mình đối với những điều khoản đã thỏa thuận trên.
Đến đây, HĐMBHHQT được hình thành nhưng chưa hoàn chỉnh. Như đã tìm hiểu
thì MBHHQT được phát triển từ mua bán hàng hóa trong nước, HĐMBHHQT được phát
triển từ họp đồng mua bán hàng hóa trong nước, các nội dung trong kết cấu họp đồng trên
vẫn có thể tồn tại trong họp đồng mua bán hàng hóa trong nước. Vậy thì để xác định là
là cụ thể, chặt chẽ nhất. Ở công ước CISG, một công ước điều chỉnh về HĐMBHHQT chỉ
đề cập tính quốc tế là các bên ký hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác
nhau, “nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lẩy nơi cư trú thường xuyên của
họ ”(9). Theo công ước thì vấn đề quốc tịch của các bên không có ý nghĩa quan trọng
trong
việc xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng, trong khi vấn đề quốc tịch lại hên quan
trực tiếp đến quốc gia khác, chịu sự chi phối nhiều từ pháp luật nước ngoài. Còn ở Pháp,
việc xác định tính quốc tế của họp đồng rất chung chung, người ta căn cứ vào hai tiêu
chuẩn mà không chỉ ra những dấu hiệu cụ thể, chỉ là dựa trên tiêu chuẩn kinh tế và pháp
Ịý(i0) Pheo các tiêu chuẩn kinh tế, một họp đồng quốc tế là họp đồng tạo ra sự di chuyển
qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giiữa hai nước. Nói các khác, họp đồng đó
thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế. Theo tiêu chuẩn pháp lý, một họp đồng được
coi là quốc tế nếu nó bị chi phối bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như quốc
tịch hoặc nơi cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ họp đồng, nguồn vốn tha nh
toán...
Dù có những khác biệt nhất định về xác định tính quốc tế của hợp đồng nhưng
công ước CISG, luật Pháp hay những qui định cụ thể của luật Việt Nam, tất cả đều xoay
quanh việc có hên quan đến nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh những vấn đề xung
quanh họp đồng. Tổng họp những đặc điểm khi xét tính quốc tế hay yếu tố nước ngoài
của HĐMBHHQT giúp ta giải thích được những nội dung liên quan đến HĐMBHHQT
mà một họp đồng trong nước không có, đó là những điểm:
- Hàng hóa là đối tượng của HĐMBHHQT là hàng có thể chuyển qua biên giới
của
một nước, tức là có thể được chuyển từ nuớc này sang nước khác; và
- Tiền tệ dùng để thanh toán giữa người mua và người bán thường là ngoại tệ đối
số 11 2003
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
s
tên gọi của họp đồng đồng thời phân định rõ quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong
họp đồng.
Theo điều 28 luật thương mại Việt Nam thì hình thức xuất khẩu “là việc hàng hóa
được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ
Việt Nam được coi là khu vực hai quan riêng theo qui định của pháp luật”. Còn hình thức
nhập khẩu hàng hóa là việc “hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài
hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng
theo qui định của pháp luật”.
Qua hai hình thức trên cho thấy, trong xuaát khaảu haong hoùa thì hôĩp noàng
(11) Điều 27 Luật thương mại Việt Nam
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Nguyền Hồng Phát
(12) Điều 30 Luật thương mại Việt Nam____
Đe tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
ngoa0Ì, nồng thƠ0Ì di chuyeản quyền sơũ hõõu ha0ng hóa nó sang ngõƠ0Ì mua.
Ha0ng hóa nõơỉc la0m thuũ tuĩc xuất khaảu khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khãảu
vào một nước khác. Còn hơĩp nồng nhaăp khaảu haong hóa nõơĩc phát sinh lao hơĩp
nồng mua haong cuũa nõớc ngoaoi neả nõa haong nó vaoo Vieẳt Nam nhằm phuĩc
vui' cho saũn xuất, chế biến, tiêu duong ừong nõớc. Haong hóa nõơĩc laom thuũ
tuỉc xuất khaảu vao nhaẳp khaảu. Đây là hai hình thức mua bán nổi bật nhất trong
MBHHQT Việt Nam
Theo niều 29 luật thương mại Việt Nam loan hơĩp nồng taĩm nhầp, tái xuất
lao hơỉp nồng xuất khaảu chính nhõõng haong hóa mao trõớc kia nã nhaẳp tồo
nõớc ngoaoi, khống qua tái chế biến hay saũn xuất gì ơũ trong nõớc Viềt Nam.
Taỉm nhaẳp, tái xuất lao vieẳc Vieăt Nam mua haong cuũa moẳt nõớc neả bán cho
moẳt nõớc khác, có laom thuũ tuỉc nhẫp khaảu haong hóa vaoo Viềt Nam vao
Đe tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
là HĐMBHHQT. Có thê khăng định răng HĐMBHHQT giữ vai trò chủ đạo và là điêu
kiện tiên quyết để diễn ra MBHHQT. HĐMBHHQT đóng vai trị quan trọng nhung đồng
thời tính rủi ro trong khi thực hiện họp đồng cũng rất lớn, để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro,
các chủ thể càn xây dụng một họp đồng họp pháp với đầy đủ chi tiết. Qua việc tìm hiểu
những vấn đề liên quan thì kết cấu hoàn chỉnh của một HĐMBHHQT theo luật Việt Nam
sẽ có yếu tố nuớc ngoài có tên gọi tuơng ứng với các hình thức MBHHQT theo điều 27
luật thuơng mại Việt Nam. Còn nội dung họp đồng, trên cơ sơ nguyên tắc tôn trọng thỏa
thuận giữa các bên trong việc xác lập và thực hiện họp đồng nên chủ thể họp đồng thỏa
thuận điều khoản càng chi tiết thì càng đảm bảo đuợc quyền và nghĩa vụ của mình nếu có
xảy ra tranh chấp. Luật Việt Nam cũng nhu pháp luật quốc tế không qui định nội dung bắt
buộc, do đó phụ thuộc vào sự thuơng luợng của các bên nhằm đua ra các điều khoản, tuy
nhiên Bộ luật dân sự Việt Nam có huớng dẫn một số nội dung cần thiết trong họp đồng ở
điều 402. Dựa vào huờng dẫn này ta thấy, thông thuờng, một HĐMBHHQT có những nội
dung duới đây có thể đuợc xem là đầy đủ và chi tiết:
* Phần mở đầu :
- Tên họp đồng mua bán hàng hóa, ngày tháng ký họp đồng.
- Tên, địa chỉ, các số máy điện thoại, Fax, Telex, E mail của bên bán và bên mua.
- Những thông tin về nguời đại diện ký kết.
Bên bán có hàng hóa muốn bán và bên mua chấp nhận mua hàng của bên bán thì
sẽ
đi đến việc thỏa thuận những điều khoản trong phàn nội dung:
* Phần nội dung:
- Tên hàng, số luợng, chất luợng hàng hóa.
- Giá cả.
- Phuơng thức giao hàng.
- Hình thức thanh toán.
- Bao bì và ký hiệu mã.
đồng thời sử dụng quyền để u cầu đối tác thực hiện nghĩa vụ khi có dấu hiệu vi phạm từ
phía họ.
Quyền và nghĩa vụ các bên được phát sinh sau khi các bên ký họp đồng. Nội dung
của họp đồng là tồn bộ nghĩa vụ của họ xung quanh việc chuyển giao quyền sở hữu về
hàng hóa từ người bán sang người mua, xung quanh việc làm thế nào để người bán lấy
được tiền và người mua nhận được hàng..., phần nội dung của họp đồng chính là phàn
thể hiện rõ nhất. Họp đồng được ký kết sẽ xác định được bên bán và bên mua, mỗi bên sẽ
thực hiện những nghĩa vụ của mình như đã thỏa thuận ở phàn nội dung.
1.2 Quyền, nghĩa vụ của các bên trong HĐMBHHQT và căn cứ xác định vi
phạm họp đồng:
1.2.1: Quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các bền trong họp đồng:
Hơỉp nồng nỉc ký kết, quyền vaơ nghóa vui' cuũa các bên nỉc xác
laap,
tõ0 nó các bên thõĩc hiễn núng quyền vao nghóa vui' cuũa mình. Ý nghóa cuũa
vieẳc thõĩc hiễn núng quyền vaơ nghóa vui' cuũa các bên tất caũ nều nhằm muĩc
ních hoaon tất vieẳc mua bán. Do vaảy, luaẳt Việt Nam cũng nhu các nõớc nều có
chung nhõõng qui nònh về quyền vao nghóa vui' chuũ yếu cuũa các bên trong hơĩp
nồng.
1.2.1.1 Đối với bên bán:
Luaat thõơng maĩi Vieẳt Nam qui định “ỏn bán phaũi gmo haeng, chõùng tÕ0
theo thoủa thuẫn trong hâĩp hồng về số lõơĩng, chất ỉòơĩng, cách thõùc hóng
gói, baũo quaũn vae các quy hònh trong hơĩp hồng” Giao hàng là nghóa vui' cơ
bản của người bán, nghĩa vụ giao haơng cuũa ngỏơơi bán theả hieẳn qua vieẳc ngõơơi
bán phaũi giao núng haơng, giao haong núng nòa nieảm, thơoi gian, núng số lõơmg
vao chất lõơỉng nhỏ nã giao kết trong hơĩp nồng.
Kết hơĩp với vieẳc giao haong thì ngõơoi bán phaũi giao các giấy tƠ0 liên
quan nến haong hóa nhõ giấy chõùng nhẫn xuất xõù haong hóa, baũo hieảm hay
các giấy tƠ0 haũi quan nhằm đảm bảo cho việc kiểm tra hàng hóa và chuyển quyền sở
hữu cho bên mua. Tuy nhiên, ngõơoi bán có theả giao trỏớc hoaẽc sau khi giao haong
tuoy theo thoũa thuẫn các bên.
naẽt muĩc tiêu lơĩi nhuẫn lên haơng iĩầu. Vì vaăy, xaũy ra nhõõng tình huống thõĩc
hieẳn khống núng theo hơĩp nồng do niều kiễn khách quan hoaẽc do ý chí chuũ
quan cuũa các bên lao khó tránh khoũi. HNMBHHQT lao moẳt hơĩp nồng song vui,
có bồi hoaơn vaơ lao hơĩp nồng õớc hem nên quyền cuũa ngõơơi naơy chính lao
nghóa vui' cuũa ngõơơi kia. Khi hoi' thõĩc hiễn các nghóa vui' cuũa mình theo nhõ nã
thoũa thuaan trong hơ'ip nồng cng lao hoi' nang góp phần vaơo vieẳc có nõơĩc
quyền lơĩi cuũa mình. Ngược lại, khi họ khơng thực hiện đúng nghĩa vụ của mình sẽ ảnh
hưởng đến quyền lợi của bên kia. Nếu xaũy ra vieẳc thõĩc hiễn khống theo núng nhõ
hơĩp nồng thoũa thuẫn ban nầu cuũa các bên nều có theả dẫn nến viềc vi
phaĩm hơỉp nồng.
1.2.2 Căn cứ xác định vi phạm họp đồng:
Vi phaĩm hơỉp nồng theo luaẳt Vieẳt Nam ‘7ữ0 vieảc moảt bên khống thỏĩc
hiễn, thõĩc hiễn khống hầy huủ hoaẽc thõĩc hiễn khống húng nghóa vui' theo
thoũa thuẫn giõõa các bên”(ị5\ Vi phaỉm lao vieẳc khống tuân theo hoaẽc laơm
trái laĩi moẳt niều nã nõơĩc qui õớc trỏớc(16), suy ra, vieẳc khống thõic hiễn,
thõĩc
hiễn khống nầy nuũ hoaẽc thõĩc hiễn khống núng nghóa vui' theo thoũa thuẫn
cuũa
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
SVTH: Nguyền Hồng Phát
(17) Giáo ừình Luật thương mại - Trường Đại Học cần Tha Th.s. Dương Kim Thế Ngun
Đe tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
Tõo vieảc tìm hieảu khái nieẳm VPHN cho thấy vi phaĩm HNMBHHQT xaũy
ra
khi moẳt trong các bên có haonh vi VPHN. Haonh vi VPHN sẽ la0 vieẳc moẳt bên
- Noẳi dung gắn liền với vieẳc thõĩc hiễn các nghóa vui' theo hơĩp nồng
hoaẽc trách nhieẳm về taoi saũn.
- Do cơ quan, toả chõùc có thaảm quyền áp duỉng hoaẽc do bên bò vi phaỉm
áp dumg ừên cơ sơũ pháp luaăt.
Vấn nề chòu trách nhieẳm chac xaũy ra khi có VPHN xaũy ra. Vốn tính chất
lao moẳt loaĩi trách nhieẳm pháp lý, trách nhiễm do vi phaĩm HNMBHHQT nõơĩc
áp duỉng khi có nhõõng căn cõù do pháp luaẳt qui nònh, chúng trở thành một loại
chế
tài vao nõơỉc áp duỉng khi có các yếu tố sau:(l7)
- Có haonh vi vi phaỉm hơip nồng.
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
^
SVTH: Nguyễn Hồng Phát
(18) Điều 305 luật Thưtmg mại Việt Nam, khoản 2 điều 307 Bộ luật Dân sự Việt Nam
Đe tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
- Có mối quan heẳ nhân quaũ giõõa haonh vi vi phaĩm hơĩp nồng va0 ửiieẳt
haĩi thõĩc tế xaũy ra.
- Có lỗi cuũa bên vi phaỉm.
Các yếu tố vừa nêu sẽ liên quan trực tiếp đến việc xác định trách nhiệm của các
bên nhất là bên vi phạm họp đồng. Bên gây ra vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm nếu nhu
hành vi vi phạm của mình làm xuất hiện các yếu tố trên. Việc xem xét cụ thể từng yếu tố
sẽ làm sáng tỏ vai trò của chúng trong việc xác định trách nhiệm đối với bên vi phạm.
1.3.1 Yếu tố về haonh vi VPHN:
Nhõ nã phân tích ơũ phần VPHN thì haonh vi VPHN lao căn cõù pháp lý
quyết định nê áp duỉng nối với tất caũ các hình thõùc chế taoi do VPHN vì chỉ khi
- Thiễt haỉi gián tiếp lao thieăt haĩi dơỉa trên suy noán khoa hoĩc (trên cơ
sơũ
nhõõng chõùng cõù, taoi lieẳu) mới có theả xác nònh nõơĩc. Bieảu hiền cui' theả
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
^
SVTH: Nguyễn Hồng Phát
SVTH: Nguyễn Hồng Phát
Đe tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
Hiện nay có xu thê chung là có sự hài hòa giữa hai hệ thông pháp luật, ơ các nuớc
thụôc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đã bắt đầu tham khảo án lệ khi giải quyết tranh
chấp họp đồng”.
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
7T
SVTH: Nguyền Hồng Phát
Tntemational
commercial
Contracts De tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên Nguyên tắc hợp
đồng
thương mại
quốc tế của CHƯƠNG 2: CÁC HÀNH VI VI PHẠM HỢP ĐÒNG VÀ VIỆC CHỊU TRÁCH
UNIDROIT
NHIỆM ĐỐI VỚI CÁC BÊN:
2.1 Các hành vi vi phạm hạp đồng:
Như đã tìm hiểu những nội dung về vi phạm họp đồng, hành vi vi phạm họp
đồng đều liên quan đến việc không thực hiện họp đồng của các bên trong
HĐMBHHQT. Bên vi phạm là bên không hoàn thành một hay nhiều nghĩa vụ của
minh trong họp đồng, kể cả việc thực hiện không đúng quy cách, thực hiện chậm hoặc
hoàn toàn không thực hiện họp đồng dẫn đến hậu quả là vi phạm họp đồng xảy ra.
SVTH: Nguyễn Hồng Phát
De tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
những nghĩa vụ đôi với đôi tượng của hợp đông, điêu kiện giao hàng hay phương thức
thanh toán.
2.1.1 Vi phạm đối vói đối tượng của hợp đồng:
Nhóm đối tượng của hợp đồng liên quan đến các điều khoản tên hàng, số lượng,
chất lượng... của hàng hoá mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Trong mua bán hàng hóa quốc tế, mỗi một loại sản phẩm đều có tên gọi riêng,
cỏ chất lượng xác định với một số lượng nhất định. Mua bán hàng hóa quốc tế khác
với việc mua bán nhỏ lẻ bình thường trong nước. Hàng hóa trong mua bán quốc tế
thường với số lượng lớn và phải thông qua một quá trình vận chuyển. Do vậy, sai sót ở
điều khoản này rất dễ xảy ra. Sai sót dẫn đến vi phạm ở nhóm điều khoản về đối tượng
là việc giao hàng không đúng tên gọi, không đúng số lượng hay không đúng chất
lượng hàng hóa đã thỏa thuận.
Giao hàng không đúng tên gọi được xác định là vi phạm hợp đồng, khi đó hàng
được giao không đúng với tên hàng đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Tên hàng
được thỏa thuận có thể gồm nhiều vấn đề như thỏa thuận tên thông thường, tên thương
mại, tên khoa học (thường áp dụng cho các loại hóa chất, giống cây...), tùy từng
trường hợp các bên có thể đưa ra tên hàng kèm theo các đặc điểm về mẫu mã, đẳng
cấp, loại, thương hiệu,.. .Thậm chí, khi bên mua muốn loại hàng hóa được sản xuất ở
một địa phương, một nhà sản xuất cụ thế nào đó nên nêu rõ cả chúng vào đây. Bên bán
giao hàng không đúng với một trong những thỏa thuận trên đều bị xem là vi phạm hợp
đồng.
Chất lượng là điều khoản nói lên mặt “chất” của hàng hóa mua bán, qui định
tính năng, qui cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất... của hàng hoá đó. Xác
định cụ thể phẩm chất của sản phẩm là cơ sở để xác định giá cả. Do vậy, xác định điều
kiện phẩm chất tốt, dẫn đến xác định giá cả tốt, đúng và mua được hàng hóa đúng yêu
cầu của mình. Do đó, việc giao hàng không đạt chất lượng sẽ là vi phạm cơ bản trong
những sai sót không thể nào tránh khỏi, ví dụ như:
- Chất lượng của hàng giao tương đương hoặc gần như hàng mẫu: Qui định này
có thể giúp cho bên xuất khẩu tránh được ừách nhiệm khi hàng giao có chất lượng
khác với hàng mẫu một chút.
- Sai số chất lượng cho phép: Tùy từng loại hàng hóa các bên có thể thỏa thuận
mức sai số. Tất cả các hàng hóa thuộc phạm vi sai số chất lượng, bên nhập khẩu không
được từ chối nhận hoặc yêu cầu điều chỉnh giá.
Một khi các bên đã thỏa thuận những tiêu chuẩn chất lượng tương đối và cho
phép xảy ra những sai sót nhỏ thì bên bán sẽ tránh được những vi phạm mà thực tế
không phải họ muốn, như vậy sẽ công bằng hơn cho các bên.
Còn đối với việc xem xét giao hàng không đúng số lượng thì đây là hành vi vi
phạm dễ nhận thấy nhất. Bất kỳ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nào cũng đều xác
định rõ số lượng hàng hóa được mua bán. số lượng nhằm nói lên mặt “lượng” của
hàng hoá được giao dịch, vấn đề vi phạm sẽ xảy ra khi giao hàng không đúng số
lượng đã thoả thuận, số lượng xác định cụ thể, rõ ràng theo đơn vị đo lường quốc tế.
Đơn vị tính số lượng có thể là mét, lít, tấn..., tuỳ theo loại hàng hoá. Rất dễ nhận thấy
vi phạm trong trường hợp điều khoản hợp đồng thoả thuận dứt khoát về số lượng như
1000 mét vải hay 1000 xe gắn máy...
Ở vấn đề số lượng hàng hóa cũng có một điểm lưu ý tương tự nội dung chất
lượng hàng hóa. Đó là đối với một số hàng hóa có độ tiêu hao nhất định trong quá
trình vận chuyển thì các bên thường thỏa thuận về độ co giãn của số lượng. Độ co giãn
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
24
SVTH: Nguyễn Hồng Phát
De tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
ở mức hợp lý và thường sử dụng tỷ lệ %. Qui định này có lợi cho bên bán nhưng cũng
- Hoặc bằng một khoảng thời gian nhất định tuỳ theo sự lựa chọn của người
mua. Ví dụ: tháng 1 ký hợp đồng, thời gian giao hàng qui định từ tháng 2 đến tháng 7
tuỳ người mua chọn.
GVHD: Th.s Diệp Ngọc Dũng
25
SVTH: Nguyễn Hồng Phát
(26) Điều 52 khoản 1 CISG
(27> Khoản 1 điều 37 luật thương mại
De tài: Vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách nhiệm các bên
Nêu như các bên thỏa thuận một trong các trường hợp trên thì vi phạm thời hạn
giao hàng xảy ra khi bên bán không giao hàng đúng hạn, giao hàng trễ, hoặc không
giao hàng hay chính là hành vi VPHĐ đối với điều khoản về điều kiện giao hàng.
Vi phạm ở điều khoản này buộc các bên phải chú ý khi thỏa thuận về thời gian
giao hàng. Vì khi không cụ thế thì dễ phát sinh vi phạm. Có trường hợp người bán giao
hàng không đúng thời gian thỏa thuận nhưng là giao sớm thì người mua vẫn được
quyền lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ chối việc giao hàng đó/26'1 (khoản 1 điều 52
CISG). Có thể không xem là vi phạm hợp đồng trong trường hợp này nhưng việc giao
hàng sớm của bên bán mà bên mua từ chối tiếp nhận thì hao tốn về thời gian và tiền
bác là những bất lợi bên bán phải gánh chịu.
Khi xác định những hành vi vi phạm trong điều kiện giao hàng thì điều khoản
về địa điểm giao hàng buộc “bên bán có nghĩa vụ giao hàng đủng địa điểm đã thỏa
thuậrí^21\ Qui định của luật xác định rõ nhiệm vụ của bên bán khi thực hiện nghĩa vụ
giao hàng, do đó nếu bên bán không giao hàng đúng địa điểm đã thỏa thuận thì bị xem
là vi phạm hợp đồng. Địa điểm giao hàng sẽ được các bên bàn bạc trong hợp đồng, có
thể là thỏa thuận cụ thể hoặc dựa trên qui định của luật một quốc gia hay qui ước của
hàng đến nhận. Nội dung này là hoàn toàn phù họp vì bên bán có những cơ sở cho
rằng quyền lợi của mình bị ảnh hưởng do bên nhận chưa sẵn sàng tiếp nhận hàng. Tuy
nhiên, qui định này chỉ được điều chỉnh ở công ước, luật Việt Nam chưa đề cập đến.
“Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một
bên sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bổ hợp đồng bị
hủy”m
Neu như hàng được giao đúng thời hạn và địa điếm không xảy ra vi phạm thì
việc giao nhận hàng thường sẽ được diễn ra tại địa điếm giao hàng và các bên tiến
hành giao nhận, kiểm định hàng, thanh toán và kết thúc họp đồng. Việc các bên qui
định cụ thể về chất lượng và số lượng hàng hóa là cần thiết và bắt buộc để bảo đảm
quyền lợi cho các bên. Tuy nhiên, làm thể nào để xác định hàng hóa phù họp với chất
lượng và số lượng được mô tả trong họp đồng, các bên cần phải có cơ chế kiểm định
hàng hóa. về cơ bản, điều khoản kiểm nghiệm hàng hóa được vận dụng để các bên
giao nhận sơ bộ, bên mua bước đầu xem xét hàng hoá, xác định sự phù họp về số
lượng, chất lượng hàng so với họp đồng, kiểm ha xem bên bán có giao hàng đúng với
họp đồng không. Thường được tiến hành ở ngay địa điểm sản xuất hàng hóa hoặc nơi
gửi hàng. Trong giao nhận sơ bộ, nếu có điều gì thi người mua yêu cầu khắc phục
ngay. Neu hàng hóa đã được đã được kiểm định xong các bên đi đến giao nhận cuối
cùng, bên mua xác nhận việc người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng.
Ở giai đoạn giao nhận này bên mua có nghĩa vụ phải tiến hành kiểm định hàng
và nếu bên mua không thực hiện quyền của mình thì việc xác định đây là hành vi vi
phạm cũng ít được xem xét tuy nhiên quyền lợi của bên mua có thể bị ảnh hưởng vì
nếu hàng hóa được giao không đúng như thỏa thuận thì bên mua không có cơ sở gán
trách nhiệm cho bên mua được.
Với phương thức giao hàng thì việc xác định vi phạm dựa vào yếu tố này không
có vai trò quan trọng. Hàng hoá được giao nhận thì các bên sẽ tiến hành kiểm tra và
đối chiếu lại với nhau, không có lý do gì mà phương thức giao hàng lại là nguyên nhân
vi phạm họp đồng mà nó chỉ là hình thức diễn ra việc kiểm tra hàng hoá để xem có vi
phạm xảy ra đối với hàng hoá hay không mà thôi. Ví dụ như kiểm tra để xem có việc
vi phạm họp đồng do giao hàng không đúng chất lượng hay không.... Do vậy, kiểm