TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
ÁP DỤNG CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ
CHẾ TÀI KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Phạm Quang Vũ
Mã sinh viên: 0951015856
Lớp: Anh 15
Khóa: 48
Người hướng dẫn khoa học: ThS. Lưu Thị Bích Hạnh
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2013
Ý KIẾN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC
TẾ VÀ CHẾ TÀI KHI VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 4
1.1. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 4
1.1.1. Khái niệm 4
1.1.2. Đặc điểm 5
1.1.3. Nguồn luật điều chỉnh 6
1.1.4. Điều kiện kiện lực 10
1.2. Khái quát chung về chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13
1.2.1. Khái niệm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 13
1.2.2. Khái niệm, hình thức, vai trò của chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế 14
QUỐC TẾ THEO CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 50
3.1. Bài học kinh nghiệm sau khi phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về chế
tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm
1980 đối với Việt Nam và từ các phán quyết 52
3.1.1. Về việc xác định vi phạm cơ bản 52
3.1.2. Về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 52
3.1.3. Về chế tài hủy hợp đồng 53
3.1.4. Về chế tài bồi thường thiệt hại 53
3.1.5. Về vi phạm trước 55
3.1.6. Về việc áp dụng các nguồn luật khác đối với các vấn đề CISG không điều chỉnh
hoặc điều chỉnh không đầy đủ 55
3.2. Đánh giá các điều kiện đảm bảo triển khai vận dụng kinh nghiệm áp dụng các
quy định về về chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo
Công ước Viên năm 1980 đối với Việt Nam hiện nay 56
3.2.1. Thuận lợi 56
3.2.2. Khó khăn 59
3.3. Các giải pháp cần thực hiện 63
3.3.1. Nhóm giải pháp về phía Nhà nước 63
3.3.2. Nhóm giải pháp về phía cơ quan giải quyết tranh chấp 68
3.3.3. Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp 70
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
AAA
American Arbitration
Association
Hiệp hội Trọng Tài Mỹ
AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch Tự do
Trade in Services
Hiệp định chung về Thương
mại Dịch vụ
GATT
The General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp ước chung về thuế quan
và mậu dịch
HĐMBHHQT _
Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
ICC
International Chamber of
Commerce
Phòng Thương mại Quốc tế
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Incoterms
International Commercial
Terms
Các điều kiện thương mại
quốc tế
LTMVN _ Luật Thương mại Việt Nam
MFN Most Favoured Nation Tối huệ quốc
MUTRAP
The Multilateral Trade
Assistance Project
Dự án hỗ trợ thương mại đa
biên
PECL
Principles Of European
Vietnam International
Arbitration Centre
Trung tâm Trọng tài Quốc tế
Việt Nam
VICC
Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam
VJEPA
Vietnam – Japan Economic
Partnership Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế Việt-
Nhật
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Quốc tế
6
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI, công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam ngày càng được chú trọng hơn bao giờ hết. Ngày 11/01/2007, Việt Nam
chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
Đây là mốc son quan trọng đánh dấu quá trình hội nhập ngày càng sâu và rộng của
nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Song song với quá trình
hội nhập đó là sự tăng lên về các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ thương
mại giữa thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài. Đồng thời, các
HĐMBHHQT cũng tăng lên về lượng và chất, kéo theo các tranh chấp phát sinh từ
vi phạm HĐMBHHQT, với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp hơn.
Đứng trước thực tiễn các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá non trẻ trước
những rủi ro và thách thức của sân chơi quốc tế, việc nắm rõ các quy định về chế tài
tập trung vào một số nền kinh tế lớn như Hoa Kì, Trung Quốc, Pháp. Bên cạnh, đề
tài tiến hành đánh giá các điều kiện đảm bảo triển khai vận dụng bài học kinh
nghiệm tại Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng
hợp, suy luận, diễn giải. Bên cạnh, để làm rõ các vấn đề mang tính lý thuyết, khóa
luận còn sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài mục lục, danh mục các từ viết tắt, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham
khảo, khóa luận gồm ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và chế tài khi vi
phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về chế tài khi vi phạm hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980
Chương 3: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam và giải pháp triển khai vận
dụng kinh nghiệm áp dụng các quy định về chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên 1980
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong quá trình tìm hiểu và thực hiện khóa luận,
nhưng do nhiều hạn chế về kiến thức, tài liệu, kinh nghiệm thực tiễn cũng như thời
gian nghiên cứu thực hiện đề tài nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu
sót. Do vậy, người viết mong nhận được những ý kiến đóng góp từ quý Thầy, Cô để
khóa luận được hoàn thiện và mang tính thực tiễn cao hơn. Nhân đây, người viết
cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS. Lưu Thị Bích Hạnh, giảng viên đã
dành thời gian tận tình hướng dẫn người viết hoàn thiện khóa luận này. Đồng thời,
người viết cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè vì đã nhận xét,
8
góp ý và động viên người viết trong suốt thời gian thực hiện khóa luận.
Sinh viên thực hiện
Phạm Quang Vũ
9
tiêu chí hàng hóa phải là động sản và phải được di chuyển qua biên giới Việt Nam,
biên giới một nước hay biên giới của khu chế xuất, khu vực hải quan,…
Từ những phân tích ở trên, ta có thể hiểu HĐMBHHQT là hợp đồng mua
10
bán hàng hóa có yếu tố quốc tế, được ký kết giữa thương nhân Việt Nam, các doanh
nghiệp Việt Nam với các thương nhân nước ngoài nhằm thực hiện việc xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập hoặc chuyển khẩu hàng hóa.
(Nguyễn Thị Mơ, 2009, tr. 130)
1.1.2. Đặc điểm
HĐMBHHQT về cơ bản mang đầy đủ những đặc điểm của một hợp đồng
mua bán hàng hóa thông thường, cụ thể:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận trong đó một bên là người bán có
nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của bên kia, là người mua, một tài sản nhất định
gọi là hàng hóa, còn người mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả một số tiền ngang
bằng trị giá của hàng. (Nguyễn Thị Mơ, 2009, tr. 124)
- Chủ thể của hợp đồng mua bán là bên bán và bên mua. Bên bán và bên mua có thể
là thể nhân, pháp nhân hoặc nhà nước tham gia vào hoạt động mua bán.
- Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa theo quy định của pháp luật.
- Nội dung của hợp đồng là toàn bộ nghĩa vụ của các bên xoay quanh việc chuyển
giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.
- Xét về tính pháp lý thì HĐMBHHQT là hợp đồng song vụ, có ước hẹn và mang tính
bồi hoàn. Điều 406 Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng
song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ với nhau”. Theo đó, bên bán có
nghĩa vụ giao hàng và nghĩa vụ khác; bên mua có nhiệm vụ trả tiền hàng cùng các
nghĩa vụ khác. Hợp đồng mua bán hàng hóa có ước hẹn nghĩa là nếu không có quy
định gì khác về thời điểm hợp đồng có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ phát sinh vào
thời điểm kí kết hợp đồng. Ngoài ra, HĐMBHHQT còn mang tính bồi hoàn, nghĩa
là người bán có quyền đòi thanh toán khi đã giao hàng và người mua được nhận
hàng khi đã thanh toán tiền hàng.
Tuy nhiên, khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước,
trách nhiệm của người bán và người mua. Tuy nhiên, dù hoàn thiện tới đâu, bản
thân hợp đồng cũng không thể dự kiến tất cả các tình huống và tranh chấp phát sinh
trong thực tế. Khi đó, các bên phải dựa vào luật điều chỉnh hợp đồng mà các bên có
quyền tự do thỏa thuận để giải quyết tranh chấp phát sinh. Nguồn luật áp dụng cho
hợp đồng bao gồm điều ước quốc tế về thương mại, tập quán thương mại quốc tế,
luật quốc gia và án lệ.
1.1.3.1. Điều ước quốc tế về thương mại
Điều ước quốc tế về thương mại là thỏa thuận bằng văn bản giữa hai hoặc
nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ ản của Luật quốc tế, nhằm
ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ
thương mại quốc tế. (Trần Thị Hòa Bình và TS. Trần Văn Nam, 2006)
Có hai loại điều ước điều ước quốc tế về thương mại. Loại thứ nhất đề ra
những nguyên tắc pháp lý chung làm cơ sở cho hoạt động thương mại nói chung và
mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng. Những điều ước này tạo ra một khuôn khổ
12
pháp luật chặt chẽ cho việc buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia, những chế độ ưu
đãi dành cho nhau chứ không trực tiếp điều chỉnh quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm
cụ thể của từng bên trong HĐMBHHQT. Loại điều ước này có thể là điều ước song
phương như Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định Buôn bán hàng
dệt may Việt Nam - EU hay điều ước đa phương như Hiệp định chung về thương
mai dịch vụ GATS, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT. Loại điều
ước thứ hai điều chỉnh trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên
trong HĐMBHHQT. Ví dụ như Công ước của Liên Hợp Quốc về HĐMBHHQT
được ký ngày 11/4/1980 tại Viên, Áo (gọi vắn tắt là Công ước Viên 1980) và Công
ước La Haye về luật áp dụng đối với HĐMBHHQT ký ngày 15/6/1955.
Những điều ước quốc tế về thương mại có giá trị bắt buộc đối với các quốc
gia tham gia ký kết, nghĩa là dù trong hợp đồng có dẫn chiếu tới luật áp dụng hay
không thì các điều ước quốc tế vẫn đương nhiên được áp dụng. Ví dụ, Công ước
Viên 1980 đương nhiên là nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT được ký kết giữa
hai thương nhân của hai nước đã tham gia Công ước này. Nếu quốc gia chưa tham
vào một điều khoản trong hợp đồng, chẳng hạn được quy định như sau: “Mọi vấn
đề không được quy định hoặc quy định không đầy đủ trong hợp đồng này sẽ được
áp dụng theo luật của Anh”.
- Trường hợp trong HĐMBHHQT đã được ký nhưng không có điều khoản luật áp
dụng do một số lý do khách quan hoặc chủ quan như các bên muốn ký kết hợp đồng
nhanh gọn để đẩy hàng đi tiêu thụ càng sớm càng tốt mà bỏ qua điều khoản này.
Khi có tranh chấp xảy ra, các bên có thể đàm phán và thỏa thuận luật quốc gia của
một nước để áp dụng.
- Khi luật quốc gia được quy định là luật áp dụng cho HĐMBHHQT trong các điều
ước quốc tế mà quốc gia của thương nhân hai nước có tham gia ký kết hoặc gia
nhập.
- Khi luật đó được tòa án hoặc trọng tài lựa chọn nếu các bên không có thỏa thuận về
luật áp dụng trong hợp đồng.
1.1.3.3. Tập quán thương mại quốc tế
Theo Điều 3 Khoản 4 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì “tập quán
thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên
một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên
thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại”.
Tập quán thương mại quốc tế được chia làm ba nhóm:
- Tập quán có tính nguyên tắc là những tập quán cơ bản, bao trùm, được hình thành
và áp dụng trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và luật quốc gia như
tôn trọng chủ quyền quốc gia, nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc và bình đẳng
trong thương hmại. Ví dụ như tòa án hoặc trọng tài nước nào thì áp dụng quy tắc tố
tụng của nước đó khi giải quyết các tranh chấp trong HĐMBHHQT.
14
- Tập quán thương mại quốc tế chung là tập quán thương mại được nhiều nước công
nhận và áp dụng nhiều nơi, nhiều khu vực. Chẳng hạn như các điều kiện giao hàng
được tập hợp và soạn thảo trong Incoterms hay các quy tắc thực hành thống nhất về
tín dụng chứng từ UCP 600.
- Tập quán thương mại khu vực là những tập quán thương mại được áp dụng tại một
15
Nam năm 2005 thì “người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam
như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam có quy định khác”.
Chủ thể của HĐMBHHQT đóng vai trò rất quan trọng vì không ít trường
hợp có tranh chấp xảy ra, cơ quan giải quyết tranh chấp ra phán quyết hợp đồng vô
hiệu vì chủ thể không đủ tư cách pháp lý. Vì vậy cần nên xem xét tư cách chủ thể
bên nước ngoài trước khi quyết định ký kết hợp đồng.
Nếu chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là thể nhân thì các bên trong hợp
đồng cần xác định tư cách chủ thể theo Luật Quốc tịch hoặc Luật nơi cư trú của thể
nhân nước ngoài đó vì pháp luật của các nước khác nhau thì quy định khác nhau về
năng lực chủ thể tham gia ký kết hợp đồng. Theo Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm
2005 thì “năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác định
theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch” (LTMVN 2005, Điều 761
Khoản 1) và “năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác
định theo pháp luật của nước mà người đó là công dân, trừ trường hợp pháp luật
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định khác” (LTMVN 2005, Điều 762
Khoản 1). Điều 762 còn quy định thêm “trong trường hợp người nước ngoài xác
lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực hành vi dân sự của
người nước ngoài được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”.
Nếu chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là pháp nhân nước ngoài thì “năng
lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của
nước nơi pháp nhân đó được thành lập”, trừ “trường hợp pháp nhân nước ngoài xác
lập, thực hiện các giao dịch dân sự tại Việt Nam thì năng lực pháp luật dân sự của
pháp nhân được xác định theo pháp luật Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
(BLDS 2005, Điều 765). Một tổ chức được thừa nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều
kiện sau đây:
- Được thành lập hợp pháp;
- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
và phải ghi rõ tên hàng, số lượng và phẩm chất hàng (Nguyễn Thị Mơ, 2009, tr.
155). Đối với Việt Nam, Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2005 chỉ đưa ra các điều
khoản tham khảo để đưa vào hợp đồng trong khi Luật Thương Mại Việt Nam năm
2005 không quy định gì về các điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng
hóa. Ngoài ra, Điều 19 Khoản 3 của Công ước Viên 1980 có quy định 7 điều khoản
chủ yếu gồm: giá cả, thanh toán, phẩm chất, số lượng, địa điểm, thời hạn giao hàng,
phạm vi trách nhiệm của các bên.
Ngoài những điều khoản chủ yếu, khi ký kết hợp đồng, các bên có thể thỏa
thuận đưa ra một số điều khoản khác như các điều khoản về bao bì, ký mã hiệu, các
17
trường hợp miễn trách, giải quyết tranh chấp,…Tất cả các điều khoản cấu thành nên
hợp đồng phải phù hợp với luật pháp Việt Nam. Tại Điều 122 Bộ Luật Dân sự Việt
Nam năm 2005 có quy định nội dung của hợp đồng không được “vi phạm điều cấm
của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”.
1.1.4.4. Đối tượng – hàng hóa mua bán theo HĐMBHHQT phải hợp pháp
Hàng hóa của hợp đồng phải là hàng hóa được phép lưu thông mua bán,
không bị pháp luật của nước bên mua và bên bán cấm. Tại Việt Nam, các doanh
nghiệp không được phép mua bán những mặt hàng cấm xuất khẩu hay cấm nhập
khẩu. Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu của Việt Nam được ban
hành kèm theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ.
Ngoài ra, cần lưu ý các hàng hóa thuộc diện chịu quản lý bằng hạn ngạch, danh mục
hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Công Thương,…
1.2. Khái quát chung về chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.1. Khái niệm vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo Điều 3 Khoản 12 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 thì “vi phạm
hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện
không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật
này”.
Vi phạm hợp đồng được chia làm hai loại: vi phạm cơ bản và vi phạm
không cơ bản.
bản rất phức tạp nhưng đóng vai trò cực kì quan trọng vì nó sẽ giúp việc áp dụng
chế tài nào cho phù hợp.
1.2.2. Khái niệm, hình thức, vai trò của chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế
1.2.2.1. Khái niệm chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chế tài là một trong ba bộ phận cấu thành của quy phạm pháp luật (giả
định, quy định, chế tài), nêu lên các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể
để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh.
Chế tài khi vi phạm HĐMBHHQT là các hình thức trách nhiệm pháp lý đối
với bên vi phạm HĐMBHHQT. Nói cách khác, đây là một hậu quả bất lợi về mặt
chất mà bên vi phạm phải gánh chịu do không thực hiện được hay thực hiện không
tốt nghĩa vụ của mình.
1.2.2.2. Các hình thức chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Các nguồn luật khác nhau quy định khác nhau về các hình thức chế tài khi
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Đối với luật của các nước châu Âu lục địa, phạt vi phạm và bồi thường thiệt
hại là hai hình thức chế tài chủ yếu do vi phạm hợp đồng hay HĐMBHHQT. Bồi
thường thiệt hại chỉ áp dụng với những tình huống nghiêm trọng.
Trong khi đó, luật Anh-Mỹ thì lại xem bồi thường thiệt hại là hình thức chế
19
tài chủ yếu.
Đối với Công ước Viên 1980, có ba hình thức chế tài có thể được áp dụng
là: buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng.
Ở Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 Điều 292 có quy định các hình
thức chế tài trong thương mại bao gồm:
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng
- Phạt vi phạm
- Buộc bồi thường thiệt hại
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng
đủ 10 quốc gia phê chuẩn (theo Điều 99 Công ước).
Công ước Viên 1980 đóng vai trò rất to lớn trong thương mại quốc tế. Cho
đến nay, Công ước Viên 1980 đã có tổng cộng 79 quốc gia thành viên
(UNCITRAL, 2013), điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ¾ thương mại hàng hóa
thế giới. Trong danh sách các quốc gia thành viên của Công ước Viên 1980, có sự
góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát
triển cũng như các quốc gia đang phát triển, các quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như
các quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục. Hầu hết các
cường quốc về kinh tế trên thế giới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật
Bản…) đều đã tham gia Công ước Viên 1980.
Sự thành công của Công ước Viên 1980 được khẳng định trong thực tiễn
với hơn 2500 vụ tranh chấp đã được tòa án và trọng tài các nước, trọng tài quốc tế
giải quyết có liên quan đến việc áp dụng và diễn giải Công ước Viên 1980 được báo
cáo. Điểm cần nhấn mạnh là 2500 vụ việc này không chỉ phát sinh tại các quốc gia
thành viên. Tại các quốc gia chưa phải là thành viên, Công ước vẫn được áp dụng,
hoặc do các bên trong hợp đồng lựa chọn Công ước Viên 1980 như là luật áp dụng
cho hợp đồng, hoặc do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp.
Nhiều doanh nhân tại các quốc gia chưa phải là thành viên CISG đã tự nguyện áp
dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình, bởi vì họ thấy được
những ưu việt của CISG so với luật quốc gia.
Vai trò của CISG còn thể hiện ở chỗ CISG là nguồn tham khảo quan trọng
của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) và Các
nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL). Trên cơ sở nền tảng của CISG,
các nguyên tắc này đã trở thành các văn bản thống nhất luật quan trọng về hợp
đồng, được nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụng trong các giao dịch
thương mại quốc tế. (Trung tâm WTO thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam, 2010)
1.3.2. Chế tài áp dụng của Công ước Viên 1980 khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế
Các hình thức chế tài khi vi phạm HĐMBHHQT theo CISG bao gồm buộc
hàng, miễn là điều này không gây ra cho người mua bất kì trở ngại hay phí tổn bất
hợp lý nào. (CISG, Điều 48)
• Người mua vi phạm nghĩa vụ
Theo Điều 62 và Điều 63 CISG, người bán có thể yêu cầu người mua trả
tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác của người mua và có thể chấp nhận
22
cho người mua một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của mình.
1.3.2.2. Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm đối với một bên do không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của bên đó trong HĐMBHHQT.
Về phạm vi thiệt hại được đền bù, CISG quy định các thiệt hại do một bên
gây ra bao gồm tổn thất và các khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu
quả của sự vi phạm hợp đồng (CISG, Điều 74). CISG không có quy định cụ thể về
loại thiệt hại phi tiền tệ bắt nguồn đặc biệt từ nỗi đau thể chất hoặc tinh thần trong
đó có thiệt hại do mất uy tín kinh doanh. Đồng thời, tại Điều 5 còn quy định loại trừ
việc áp dụng Công ước cho những thiệt hại do người chết hoặc bị thương.
Về tính chất của thiệt hại được bồi thường, CISG nhấn mạnh rằng thiệt hại
phải là những tổn thất mà bên vi phạm hợp đồng đã dự đoán được hoặc buộc phải
dự đoán trước được trong thời điểm ký kết hợp đồng như là hậu quả có thể xảy ra
đối với vi phạm hợp đồng đó.
Về mức bồi thường tối đa, CISG quy định khoản tiền bồi thường bằng tổn
thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào
lúc ký kết hợp đồng.
Về giá trị tính toán của các khoản bồi thường thiệt hại, Điều 75 đưa ra cách
tính toán thiệt hại trong trường hợp hợp đồng bị hủy và bên bị vi phạm đã ký một
hợp đồng thay thế, nghĩa là người mua đã mua hàng thay thế hoặc người bán đã bán
hàng lại hàng. Theo đó, bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh
lệch giữa giá hợp đồng ban đầu và giá hợp đồng thay thế cũng như mọi khoản tiền
bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được. Còn Điều 76 đưa ra cách tính toán thiệt
hại trong trường hợp hợp đồng bị hủy và bên đòi bồi thường không ký kết hợp đồng
Nếu hợp đồng quy định giao hàng từng phần và sự kiện một bên không
thực hiện nghĩa vụ có liên quan đến bất kì lô hàng nào khiến bên kia có lý do xác
đáng để tin rằng có một sự vi phạm cơ bản đến hợp đồng đối với các lô hàng trong
tương lai thì họ có thể tuyên bố hủy hợp đồng đối với các lô hàng tương lai đó với
điều kiện phải làm việc đó trong một thời hạn hợp lý.
- Bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ hay tuyên bố không thực hiện nghĩa vụ
trong thời hạn bổ sung mà bên bị vi phạm đã gia hạn thêm.
Theo Điều 49 Khoản 2, Điều 64 Khoản 2 và Điều 82 Khoản 1 CISG, người
mua hay người bán sẽ mất quyền hủy hợp đồng trong các trường hợp sau:
- Người bán đã giao hàng mà người mua đã không tuyên bố hủy hợp đồng.
- Người mua đã trả tiền mà người bán đã không tuyên bố hủy hợp đồng.
- Người mua không thể hoàn lại hàng hóa giống như tình trạng khi họ nhận hàng.
Theo Điều 26, một lời tuyên bố về việc hủy hợp đồng chỉ có hiệu lực nếu
được thông báo cho bên kia biết. Thông báo đó có thể bằng bất cứ hình thức nào,
trừ khi luật quốc luật của một quốc gia thành viên quy định hợp đồng mua bán phải
được ký kết hay xác nhận bằng văn bản và quốc gia đó tuyên bố chiếu theo Điều 12
CISG. Ngoài ra, một hợp đồng có thể được chấm dứt bằng thỏa thuận đơn thuần
24
giữa các bên (CISG, Điều 29 Khoản 1).
Theo Điều 81, hậu quả của việc hủy hợp đồng như sau:
- Việc hủy hợp đồng giải phóng hai bên khỏi những nghĩa vụ của họ, trừ những
khoản bồi thường thiệt hại có thể có.
- Sau khi hủy hợp đồng, các bên vẫn tiếp tục các điều khoản của hợp đồng liên quan
đến giải quyết tranh chấp.
- Bên nào đã thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng có thể đòi bên kia hoàn lại
những gì họ đã cung cấp hay đã thanh toán khi thực hiện hợp đồng. Nếu cả hai bên
đều bị buộc phải thực hiện việc hoàn lại, thì họ phải làm việc này cùng một lúc.
Ngoài ba chế tài trên, CISG còn có Điều 50 quy định về giảm giá hàng. Cụ
thể, nếu người bán không loại trừ mọi thiếu sót trong việc thực hiện nghĩa vụ thì dù
tiền hàng được trả hay chưa người mua có thể giảm giá hàng theo tỷ lệ căn cứ vào
Việc tìm hiểu vấn đề này sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các doanh
nghiệp về CISG và các quy định về chế tài khi vi phạm HĐMBHHQT, giúp các
doanh nghiệp bớt bị động khi xảy ra tranh chấp và cơ quan giải quyết tranh chấp
chọn CISG làm luật áp dụng hay giảm bớt chi phí và thời gian đàm phán để thống
nhất lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Càng hiểu biết kỹ càng về các trường hợp
vi phạm và các quy định về chế tài theo CISG, các doanh nghiệp càng tự tin khi
tham gia hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, tránh được những tranh chấp phát
sinh trong kinh doanh quốc tế.
1.4.3. Đối với các cơ quan giải quyết tranh chấp tại Việt Nam
Khi nghiên cứu các quy định về chế tài vi phạm theo CISG cũng như các
trường hợp vi phạm trong thực tế, các cơ quan giải quyết hay cụ thể là các luật sư,
trọng tài sẽ rút ra được những kinh nghiệm thực tiếp để vận dụng vào công tác xét
xử của mình, đồng thời nâng cao ý thức cần hòa nhập vào môi trường quốc tế của
các luật sư.
Như vậy, việc hội nhập ngày càng sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế
thế giới đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Song song với điều này là sự
gia tăng ngày càng nhanh chóng về chất và lượng của các HĐMBHHQT, kéo theo
các vi phạm xảy ra với tính chất ngày càng phức tạp và tinh vi hơn. Trong khi luật
pháp Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện thì CISG lại có những điểm tiến bộ, thể hiện sự
hài hòa hóa các hệ thống pháp luật trên thế giới và đang có những tác động tích cực
đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Đồng thời, các cơ quan giải quyết tranh
chấp và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn non kém trong việc giải quyết tranh
chấp phát sinh từ HĐMBHHQT. Vì vậy, việc tìm hiểu về thực tiễn áp dụng các quy
định về chế tài khi vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước
Viên 1980 là hết sức cần thiết không những đối với doanh nghiệp, các cơ quan giải
quyết tranh chấp mà còn đối với các nhà làm luật tại Việt Nam. Trên cơ sở phân