Vấn đề hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ THỊ GIANG HƯƠNG

VẤN ĐỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ VÀ VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: Nguyễn Bá Diến
HÀ NỘI, 2009
LỜI CẢM ƠN

Tôi xin đặc biệt cảm ơn Thầy Nguyễn Bá Diến- PGS.TS. Trưởng khoa luật
quốc tế, trường đại học Quốc Gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn cho tôi ngay từ khi
lựa chọn đề tài luận văn cho đến khi hoàn thiện. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn
gia đình và các bạn bè đã động viên và khuyến khích tôi rất nhiều khi tôi thực hiện
công trình nghiên cứu này.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi về vấn đề hiệu
lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Các kết quả nghiên cứu là nghiêm túc
và trung thực, các tài liệu trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy.

Tác giả luận văn Lê Thị Giang Hƣơng

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BLDS 2005: Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005

1.2.2.1 Chủ thể của hợp đồng, người mua, người bán có cơ sở kinh doanh đăng ký tại hai
quốc gia khác nhau 12
1.2.2.2 Ðồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cả hai
bên 13
1.2.2.3 Hàng hóa - đối tượng mua bán của hợp đồng được chuyển ra khỏi nước người
bán trong quá trình thực hiện hợp đồng 13
1.2.2.4. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có sự kiện pháp lý phát sinh ở nước
ngoài 14
1.2.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 14
1.3 Khái niệm hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15
1.3.1 Định nghĩa hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 15
1.3.2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 18
1.3.2.1 Chủ thể giao kết hợp đồng phải hợp pháp 18
1.3.2.2. Các bên tham gia giao kết hợp đồng trên cơ sở ý chí tự nguyện, không có sự
ép buộc. 20
1.3.2.3 Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp. 21
1.3.2.4 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hợp pháp 22
1.3.2.5 Thời điểm hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 23
1.4 Xung đột pháp luật về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 24
1.4.1 Xung đột pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng 24
1.4.2 Xung đột về thời điểm hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 26
1.5 Tầm quan trọng của hiệu lực hợp đồng và hậu quả pháp lý của hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế 27
1.5.1 Tầm quan trọng về hiệu lực của Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 27
1.5.2 Xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cho phép xác định thời điểm bắt đầu có
giá trị pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên 28
1.5.3 Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên 29
1.5.4 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vô hiệu gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho
các bên do phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận 30
1.6 Nguồn luật điều chỉnh hiệu lực hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 31

hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 66
3.1.1 Xác định hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và tương đối. 66
3.1.2 Xác định các điều kiện khác làm hợp đồng vô hiệu 69
3.1.2.1. Xác định yếu tố tự nguyện giao kết hợp đồng và các trường hợp vô hiệu do vi
phạm yếu tố tự nguyện khi giao kết hợp đồng 69
3.1.2.2. Xác định yếu tố thẩm quyền đại diện của chủ thể giao kết hợp đồng hợp pháp. 72
3.1.2.3. Xác định yếu tố hình thức của HĐMBHHQT 73
3.2 Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế 78
3.2.1 Một số điểm hạn chế trong Pháp luật Việt nam về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế 78
3.2.1.2 Chưa quy định rõ ràng tiêu chí xác định chủ thể giao kết hợp đồng, người đại
diện chủ thể giao kết Hợp đồng và hậu quả pháp lý của từng trường hợp 80
3.2.1.3 Yếu tố nhầm lẫn trong giao kết hợp đồng không được định nghĩa đầy đủ như
trong quy định của Bộ nguyên tắc Unidroit 82
3.2.1.4. Chưa quy định chặt chẽ các điều kiện để xác định yếu tố đe dọa trong giao kết
hợp đồng làm hợp đồng vô hiệu 83
3.2.1.5. Bộ luật dân sự Việt Nam về HĐMBHH chưa quy định rõ ràng các trường hợp
giá trị hiệu lực của hợp đồng khi đối tượng của Hợp đồng không xác định. 84
3.2.1.6. Quy định về hình thức của HĐMBHHQT chưa đầy đủ và chưa thực sự thông
thoáng như quy định của pháp luật quốc tế. 84
3.2.1.7. Các quy định tại Bộ luật dân sự Việt nam 2005 chưa quy định rõ căn cứ xác định
hợp đồng vô hiệu tuyệt đối và hợp đồng vô hiệu tương đối, hậu quả pháp lý và cách
thức xử lý. 86
3.2.1.8. Việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
phải dựa vào quy định chung trong Bộ luật dân sự VN trong khi đó các quy định tại
Bộ Luật dân sự Việt nam về thời điểm xác định hiệu lực của Hợp đồng chưa thực
sự rõ ràng so với pháp luật quốc tế. 86
3.2.2 Kiến nghị sửa đổi ,bổ sung pháp luật 88
3.2.2.1. Ban hành văn bản Luật chuyên ngành về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 88

đẩy Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Để các giao lưu thương mại đó
được thông thương, ổn định và phát triển thì yếu tố quan trọng đầu tiên đó là sự
hiểu biết và tôn trọng và thực thi luật lệ của nhau và luật lệ chung trong quan hệ
buôn bán.
Ở Việt Nam, thực tiễn giao lưu thương mại quốc tế nói chung và thực tiễn ký
kết hợp đồng mua bán quốc tế nói riêng cho thấy có rất nhiều tranh chấp thương
mại xảy ra do các bên nhầm lẫn hoặc không hiểu biết pháp luật khi tham gia vào
quan hệ buôn bán quốc tế, điều đó gây ra không ít thiệt hại kinh tế cho các bên.
Không chỉ vậy, nhiều tranh chấp xảy ra còn xuất phát từ chính nguyên nhân nội tại
là hệ thống pháp luật thực định hiện hành về các giao dịch thương mại quốc tế hay
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây viết tắt là: HĐMBHHQT) của Việt
Nam chưa được hoàn thiện đầy đủ so với quy định pháp luật quốc tế.
Xuất phát từ thực trạng đó, nhiều giáo trình, bài giảng của các Trường đại
học đã viết về các vấn đề pháp lý trong hợp đồng thương mại quốc tế, nhiều công
2

trình nghiên cứu khoa học đã được thực hiện nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật
Việt Nam về vấn đề này. Tuy nhiên mỗi đề tài và công trình nghiên cứu đều có
nghiên cứu ở những góc độ và khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như Luận văn thạc
sĩ luật học của Phạm Lê Vân Hà, Trường đại học Luật Hà Nội (2002) với đề tài:
“Một số vấn đề pháp lý về Hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam trong điều kiện
hội nhập kinh tế quốc tế”. Luận án tiến sĩ luật học Trương Văn Dũng Trường đại
học Luật Hà Nội với đề tài: “Trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”…Sách chuyên khảo của TS. Lê
Thị Bích Thọ về Hợp đồng kinh tế vô hiệu (2004), NXB chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt về hiệu lực của HĐMBHHQT,
vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài này với nội dung: “Vấn đề hiệu lực của
HĐMBHHQT và việc hoàn thiện pháp luật việt nam trong thời kỳ hội nhập
quốc tế”. Tôi hy vọng bằng việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định
pháp luật và thực trạng thực thi pháp luật về HĐMBHHQT trong tương quan so

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là các phương pháp như: phương pháp
duy vật biện chứng, Phương pháp phân tích, Phương pháp diễn dịch, phương pháp
quy nạp, phương pháp so sánh….
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu một cách hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam và so
sánh pháp luật của nước ngoài và pháp luật quốc tế về HĐMBHHQT có thể dùng
làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý chuyên
ngành. Hơn nữa kết quả nghiên cứu còn thể hiện bằng một vài kiến nghị đề xuất về
sửa đổi, bổ sung pháp luật về hiệu lực của HĐMBHHQT. Tác giả cũng rất mong
muốn toàn bộ kết quả nghiên cứu về đề tài có thể được các nhà kinh doanh xuất
nhập khẩu nói riêng sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình ký kết
HĐMBHHQT và được các nhà làm luật quan tâm khi xây dựng và thực thi pháp
luật về HĐMBHHQT.
4

7. Bố cục của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chƣơng:
Chƣơng 1:
Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hiệu lực
của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chƣơng 2:
Các quy định của pháp luật Việt Nam về hiệu lực của Hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế trong tương quan so sánh với pháp luật nước ngoài và pháp
luật quốc tế
Chƣơng 3:
Thực trạng thực thi và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hiệu lực
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong điều kiện hội nhập quốc tế.


mối quan hệ đó gọi là hợp đồng hoặc khế ước (theo thuật ngữ luật nước Phương
Tây) và được pháp luật bảo vệ. Như vậy có thể nói hợp đồng mua bán được thiết lập
để mang lại lợi ích hợp pháp mong đợi cho các bên.
Hầu hết các hệ thống pháp luật Phương tây định nghĩa chung về hợp đồng là
“một lời hứa được luật pháp đảm bảo bằng các hình phạt”. Tuy nhiên luật pháp của
các nước khác nhau lại có quy định khác nhau về bản chất của lời hứa này. Các
nước theo hệ thống luật lục địa thì quan điểm “ưng thuận” (consensuel) nổi trội hơn
cả: ý định giao kết hợp đồng của các bên là điều kiện cần và đủ để chứng minh có
tồn tại một nghĩa vụ hợp đồng. Các hệ thống luật khác lại đòi hỏi rằng lời hứa phải
được hoàn chỉnh bởi một thủ tục sau đó, có thể là ký một văn bản chính thức, hoặc
trao lại một cái gì đó. Một số hệ thống luật khác lại yêu cầu phải có sự trao đổi về
kinh tế để làm rõ và củng cố lời hứa (trong luật của Anh gọi là “consideration”).
Ở các nước theo truyền thống thông luật (common law)

[13] như Anh, Mỹ,
Ốtxtrâlia và một số nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này không
phân biệt về mục đích và nội dung của Hợp đồng . Ở Anh có Luật về bán hàng (Sale
of Good Act) 1893 và được sửa đổi bổ sung 1980; Bộ luật dân sự của Thụy Sỹ cũng
có quy định về hợp đồng mua bán thương mại.
6

Điều 1101 của Bộ luật dân sự Pháp [2, tr. 667]

định nghĩa: “ Hợp đồng là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều
người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc gì đó.”
Điều 453 của Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan [3, tr.123] quy định:
“Mua bán là một hợp đồng mà một người gọi là người bán chuyển quyền sở hữu tài
sản cho một người khác gọi là bên mua, và người mua đồng ý trả cho người bán giá
trị của nó.”

nhận và việc giao kết đó có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận
về mua bán hàng hóa như: bằng lời nói, văn bản, hoặc hành vi của các bên giao kết.
Hành vi pháp lý nói trên (hay nói cách khác là các hợp đồng nói trên) trở thành
nguồn chủ yếu làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà các bên đã cam kết phải thực
hiện và là một trong các đặc điểm quan trọng của HĐMBHH.
1.1.2.2 Chủ thể của hợp đồng mua bán là các bên tham gia giao kết và thực
hiện hợp đồng.
Để có đủ ý chí để giao kết hợp đồng và năng lực để thực hiện những giao kết
của mình với bên kia của hợp đồng nhằm đạt được lợi ích mong muốn, chủ thể hợp
đồng phải là thực thể có đủ điều kiện về năng lực hành vi để giao kết hợp đồng.
Thực thể đó là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình…. (điều 24 LTM2005).
1.1.2.3 Đối tượng của hợp đồng là hàng hóa
Có thể nói hàng hóa là vật có thực được các bên đưa ra trong hợp đồng bán hàng tại
thời điểm xác định và có thể đem ra để trao đổi, chuyển nhượng và không bị pháp
luật ngăn cấm.
1.1.2.4 Nội dung của hợp đồng là các điều khoản hợp pháp do các bên thỏa
thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
Nội dung HĐMBHH là bất kỳ sự thỏa thuận hợp pháp nào của các bên trong
hợp đồng. Nội dung chủ yếu của hợp đồng chính là quyền và nghĩa vụ của các bên,
theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên
mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán.
Ngoài những quyền và nghĩa vụ của các bên, các điều khoản thỏa thuận chủ yếu của
Hợp đồng chính là đối tượng hàng hóa và giá cả. Pháp luật của hầu hết các nước
8

đều không quy định bắt buộc các điều khoản chủ yếu của Hợp đồng. Vì vậy bên
cạnh 03 điều khoản nói trên, một số điều khoản khác cũng được các bên thỏa thuận
trong hợp đồng như: điều khoản về phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán, địa
điểm giao nhận hàng hóa….
1.1.2.5. Hình thức của Hợp đồng mua bán hàng hóa

HĐMBHH với thương nhân nước ngoài”…. Định nghĩa “ Hợp đồng mua bán ngoại
thương” (HĐMBNT) đã được quy định lần đầu tiên tại Quy chế tạm thời số
4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ công thương)
hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương và định nghĩa: “Hợp đồng
mua bán ngoại thương là HĐMBHH giữa các bên có quốc tịch khác nhau, hàng
hóa là đối tượng của hợp đồng được chuyển từ nước này sang nước khác và đồng
tiền thanh toán là ngoại tệ đối với cả hai bên”. Luật Thương mại 1997 quy định
“HĐMBHH với thương nhân nước ngoài là HĐMBHH được ký kết giữa một bên là
thương nhân Việt nam với một bên là thương nhân nước ngoài”. Theo định nghĩa
này, tiêu chí quan trọng nhất để xác định HĐMBHH với thương nhân nước ngoài là
yếu tố quốc tịch khác nhau của các bên (bên mua và bên bán); một bên mang quốc
tịch Việt nam, còn bên kia mang quốc tịch nước ngoài. Định nghĩa “ HĐMBHH với
thương nhân nước ngoài” ở đây nên được hiểu với phạm vi rộng, bao gồm cả
HĐMBHH trong nước và HĐMBHHQT.
Định nghĩa “ Hợp đồng mua bán ngoại thương” còn được đề cập tới trong
nhiều sách, tạp chí, báo, giáo trình của một số trường đại học. Giáo trình “ Pháp luật
trong hoạt động kinh tế đối ngoại” năm 1997 của Trường Đại học Ngoại thương
[23, tr.100] định nghĩa: hợp đồng mua bán ngoài thương được hiểu là “ tất cả các
hợp đồng mua bán được ký kết giữa các chủ thể của Việt Nam với các thể nhân ( tự
nhiên nhân) và pháp nhân nước ngoài, hay nói cách khác là tất cả các hợp đồng
mua bán có tính chất quốc tế ( yếu tố nước ngoài).
Giáo trình “ Tư pháp quốc tế” năm 2004 của đại học quốc gia Hà nội [22,
tr.143] định nghĩa: “ Hợp đồng mua bán ngoại thương là hợp đồng mua bán có yếu
tố nước ngoài”. Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam có các định nghĩa về hoạt động
mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 27, 28, 29 của LTM 2005 [4,tr.8-9],
theo đó:
10

Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

qua biên giới Việt Nam ra lãnh thổ nước ngoài hoặc được chuyển qua biên giới
nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam.
Theo Điều 1 Công ước La Hay 1964 về mua bán quốc tế những động sản
hữu hình thì “ HĐMBHHQT là hợp đồng mua bán mà hàng hóa được chuyển từ
nước người bán sang nước người mua, hoặc hàng hóa được ký kết giữa các bên có
trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau, ký hợp đồng được diễn ra ở các
nước khác nhau”. Theo Công ước này thì HĐMBHHQT cũng có đặc điểm là trụ sở
thương mại của các bên đóng ở các nước khác nhau; hàng hóa được vận chuyển từ
nước người bán sang nước người mua; hoặc việc ký hợp đồng được diễn ra ở các
nước khác nhau. Tiêu chí quan trọng nhất để xác định hợp đồng mua bán quốc tế
hàng hóa là tiêu chí trụ sở thương mại: các bên mua và bán phải có trụ sở thương
mại đóng ở các nước khác nhau mà không phụ thuộc vào vấn để quốc tịch của các
bên mua và bán, Công ước cũng không quy định là bên mua bên bán phải có quốc
tịch khác nhau.
Điều 1 Công ước Liên hợp quốc [10, tr.295-296] về Hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế năm 1980- CISG, (United Nations Convention on contracts for
International Sales of Goods, Vienna 1980) quy định HĐMBHHQT là HĐMBHH
giữa các bên có trụ sở thương mại đặt tại các nước khác nhau. Như thế ở đây chỉ
đưa ra một tiêu chí để xác định HĐMBHHQT, đó là các bên mua và bên bán phải
có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau. Như vậy, cả Công ước La Hay năm
1964 và CISG năm 1980 đều lấy tiêu chí trụ sở thương mại của các bên đương sự
làm tiêu chí quan trọng để xác định HĐMBHHQT. Nếu trụ sở của các bên mua và
bán đóng ở trong một nước, thì đó không phải là HĐMBHHQT. Yếu tố quốc tịch
của các bên mua và bán không được hai Công ước này đề cập tới.
Thực tế ký kết HĐMBHHQT cho thấy đa số là các hợp đồng mua bán quốc
tế được ký kết giữa các bên có trụ sở đóng ở các nước khác nhau, đồng thời có quốc
tịch khác nhau, hàng hóa được chuyển từ nước người bán sang nước người mua
hoặc sang nước thứ ba. Số ít trường hợp HĐMBHHQT được ký kết giữa các bên có
12


13

chẽ nhất đối với Hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng đó, có tính
tới các tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự đoán dưới bất
kỳ lúc nào trước hoặc vào thời điểm hợp đồng
b. Nếu một bên không có trụ sở thương mại thì sẽ lấy nơi cư trú
thường xuyên của họ.
Như vậy theo pháp luật quốc tế, điều kiện cần và đủ để xác định là một
HĐMBHHQT đó là, chủ thể của HĐMBHHQT là các bên có trụ sở thương mại
đóng ở các nước khác nhau. Ngoài điều kiện này, HĐMBHHQT còn có một số đặc
điểm dưới đây:
1.2.2.2 Ðồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên
hoặc cả hai bên
Với đặc điểm người mua, người bán có trụ sở đăng ký kinh doanh ở các
nước khác nhau trong HĐMBHHQT thì phương tiện thanh toán của các bên sẽ là
ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên. Chẳng hạn một công ty có trụ sở tại Việt Nam
ký hợp đồng nhập khẩu thép với một Công ty của Trung Quốc trong đó có điều
khoản đồng tiền thanh toán là đồng nhân dân tệ Trung quốc. Đồng nhân dân tệ của
Trung quốc là đồng tiền quốc nội tại Trung Quốc nhưng lại là đồng ngoại tệ đối với
Việt Nam. Tuy nhiên, nếu hai bên trong hợp đồng lại thỏa thuận phương tiện thanh
toán là đồng Đô la Mỹ thì lúc này phương tiện thanh toán lại là ngoại tệ đối với cả
hai bên.
1.2.2.3 Hàng hóa - đối tượng mua bán của hợp đồng được chuyển ra khỏi
nước người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Cũng do đặc điểm địa điểm trụ sở của các bên trong HĐMBHH là tại các nước khác
nhau nên hàng hóa thường là phải vận chuyển qua biên giới của một nước, có thể từ
nước từ nước người bán sang nước người mua hoặc sang nước thứ ba (khi người
mua hàng hóa đó xuất hàng sang nước thứ ba). Tuy nhiên cũng có trường hợp hàng
hóa không chuyển qua biên giới nước người bán nhưng vẫn coi là HĐMBHHQT,
chẳng hạn khi hàng hóa là các sản phẩm trong quá trình đang được chờ gia công.

kỷ lục, khiến người bán giao cà phê bị lỗ lớn. Bên bán có thể đã không dự liệu được
việc giá tăng cao như vậy, tuy nhiên với sự thỏa thuận theo hợp đồng, bên mua đã
15

ký hợp đồng có kỳ hạn chủ yếu nhằm giúp họ tránh việc tăng giá đột ngột và hạn
chế những thiệt hại có thể xảy ra. Luật bán hàng của các nước khác nhau có nhiều
cách quy định về cách thức giải quyết các tình huống bất ngờ này nhưng tất cả đều
áp dụng việc phân bổ những rủi ro có thể thấy trong hợp đồng giữa các bên.
Trong giao lưu thương mại cũng như bất kể hoạt động kinh doanh nào với
đối tác bên ngoài đều được thể hiện thông qua hợp đồng. Đây chính là ràng buộc
pháp lý về nghĩa vụ của các bên trong kinh doanh. Hợp đồng không chỉ mang lại lợi
ích kinh tế, đôi khi là lợi ích tinh thần cho chính các bên tham gia quan hệ mua bán
quốc tế mà còn mang lại khá nhiều lợi ích cho xã hội. Nó không chỉ làm thúc đẩy
giao lưu, trao đổi hàng hóa phát triển, cung cấp ngày càng đa dạng nhu cầu của nền
kinh tế các quốc gia mà còn giúp cho nền kinh tế thế giới đi tới xu hướng hội nhập
thống nhất. Nhiều chuyên gia kinh tế từng đặt câu hỏi: đâu là yếu tố quan trọng nhất
của một thương vụ làm ăn? Phần lớn câu trả lời nhận được là: tính chặt chẽ và hiệu
lực của hợp đồng. Khi hợp đồng phát sinh hiệu lực nó ràng buộc nghĩa vụ thực hiện
của các bên không thể chối cãi. Khẳng định vai trò của hợp đồng [27], Bill Gates,
trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Microsoft, đã đặt câu hỏi:
“Theo các bạn, đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động
kinh doanh ngày nay?”. Một ứng viên đã trả lời: “Đó là tính chặt chẽ của hợp
đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ sự nghiêm túc trong câu trả lời của ứng
viên này, chỉ duy nhất Bill Gates là không nghĩ như vậy. Ông đã cho ứng viên này
điểm tối đa.
Phân tích trên cho thấy HĐMBHHQT có vai trò rất quan trọng trong hoạt
động kinh doanh, đặc biệt là đối với các thực thể kinh doanh. Một hợp đồng ký kết
hợp pháp làm phát sinh hiệu lực thực hiện và đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham
gia và đáp ứng được mong muốn ban đầu của các bên khi giao kết hợp đồng và thúc
đẩy giao lưu thương mại quốc tế phát triển.

Dân sự Việt nam… Giường như đây là cách quy định chặt chẽ hơn cả bởi lẽ cả điều
kiện hiệu lực cũng như các điều kiện vô hiệu của hợp đồng đều được pháp luật ghi
nhận. Trong trường hợp này chủ thể sẽ rất an tâm vì tất cả các trường hợp đều được
pháp luật dự liệu. Tuy nhiên, thực chất cách quy định này cũng không khác cách
thức quy định thứ nhất và do đó vẫn có điểm hạn chế là vừa quy định giới hạn các
17

điều kiện hợp đồng vô hiệu (tức điều kiện cấm) nhưng đồng thời lại quy định cả
điều kiện có hiệu lực buộc phải lựa chọn theo pháp luật dự liệu.
Ở Việt nam trước khi BLDS 2005 ra đời, pháp luật có sự phân biệt giữa hợp
đồng dân sự, hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại nên các nhà làm luật có các
phương án tiếp cận khác nhau về điều kiện hiệu lực, vô hiệu hợp đồng trong các
lĩnh vực nói trên. Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định cả điều kiện hiệu lực và các
yếu tố vô hiệu trong giao dịch dân sự (hợp đồng). Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế lại
theo phương án hai, nghĩa là chỉ quy định các trường hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu,
còn Luật thương Mại VN 1997, tuy không có quy định chung về điều kiện hiệu lực
cũng như vô hiệu của hợp đồng trong hoạt động thương mại, song cũng quy định
điều kiện hiệu lực của hợp đồng trong một số hợp đồng cụ thể. BLDS 2005 ra đời
đã khắc phục được những hạn chế về sự không thống nhất trong cách quy định về
hiệu lực của hợp đồng nêu trên. Theo đó, giao dịch dân sự nói chung có hiệu lực
khi đáp ứng đủ các điều kiện như : người tham gia giao dịch có năng lực hành vi
dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật,
không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện. Giao dịch
dân sự mà vi phạm một trong các điều kiện này sẽ bị coi là vô hiệu. Đồng thời,
BLDS 2005 cũng quy định các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu. Như vậy pháp
luật Việt Nam quy định về hiệu lực của hợp đồng theo cách vừa dự liệu cụ thể các
điều kiện cần và đủ để giao dịch/ hợp đồng có hiệu lực vừa quy định các trường
hợp, điều kiện vô hiệu của hợp đồng. Đây là những quy định khá chặt chẽ.
Đề cập đến việc xác định hiệu lực của một hợp đồng không chỉ xác định xem
nội dung thỏa thuận/ hợp đồng đó có hợp pháp/ trái quy định của pháp luật hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status