ĐẠI HỌC QUỐC GIA, HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG ANH TUẤN
VỂ HỢP ĐỔNG MUA BÁN HÀNG HOÁ
VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI THEO
PHÁP LUẬT
VIỆT
NAM
é
•
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ
MÃ S Ố : 60105
LUẬN VÃN THẠC Sĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS NGUYỄN BÁ DIẾN
HÀ NỘI -N Ả M 2003
BẢNG CÁC TỪVIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 199ếT
1.2.3 Đặc điểm..........................................................................................................13
1.3 Một số nguyên tắc cơ bản của HĐMBHHQT............................................ 15
1.3.1 Nguyên tắc phù hợp với pháp luật của các nước có liên quan...................... 15
1.3.2 Nguyên tắc phù hợp pháp luật và tập quán quốc tế có liên quan................. 16
1.4 Vai trò và ý nghĩa của HĐMBHHQT....... ......................... .........................16
1.4.1 HĐMBHHQT thể hiện ý chí của các bên tham gia giao kết hợp đồng........ 17
1.4.2 HĐMBHHQT là công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của các bên................................................................................................................17
1.4.3 HĐMBHHQT giúp quốc gia kiểm soát hoạt động kinh doanh mua bán
hàng hoá.................................................................................................................... 18
1.5 Nguồn luật điểu chỉnh HĐMBHHQT........................................................... 18
Chương 2: Các điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc t ế .... 22
2.1 Khái niệm.........................................................................................................22
2. 2 Các điều kiện hiệu lực của HĐMBHHQT..................................................22
2.2.1 Chu thể............................................................................................................. 22
2.2.2 Đối tượng, nội dung chủ yếu.......................................................................... 27
2.2.3. Sự tự nguyện giao dịch................................................................................... 31
2.2.4 Hình thức..........................................................................................................34
Chương 3: Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế................36
3. 1 Giao kết hợp đồng...........................................................................................36
3.1.1 Chào hàng........................................................................................................36
3.1.2 Chấp nhận chào hàng......................................................................................42
3.1.3. Thời điểm giao kết hợp đồng......................................................................... 49
3. 2 Thực hiện hợp đồng........................................................................................ 52
3.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đồng................................................................... 52
3.2.2 Thời gian và địa điểm giao hàng.................................................................. 54
3.2.3 Chuyển giaọ quyền sở hữu và rủi ro................................................................58
3.2.4 Về vấn đề thanh toán.......................................................................................60
trong thương mại quốc tế. Nền tảng pháp lý của trao đổi hàng hoá có yếu tố nước
ngoai chính là HĐMBHHQT.
Chính sách thương mại phù hợp đã tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam
phát triển nhanh chóng. Xuất khẩu tăng binh quân khoảng 23% trong thời gian
từ năm 1990 đến năm 2000 [13, tr 50]. Từ hoạt động kinh tế phát triển khá
nhanh chóng này mà dẫn tới thu nhập giữa hộ gia đình giàu nhất và hộ gia đình
nghèo nhất ỉà 12,5 lần [21].
Nhưng những quy định của pháp luật so với tíiực tế còn rất nhiều điẻu
không phù hợp, tạo nên sự cản trở những hoạt động thực tế. Những quy định
không phù hợp đó tồn tại bằng câu chữ trên giấy mà không trở thành hành vi ứng
xử của những người cần áp đụng. Theo Bộ trưởng Bộ Thương mại cho rằng cần
sửa đổi Luật Thương mại hiện hành để có thể theo kịp quá trình tăng trưởng cũng
như hội nhập vào nển kinh tế thế giới hiện nay [22,tr 10]. Luật Thương mại cần
sửa đổi cho phù hợp với vị trí thành viên của Việt Nam trong khuôn khổ Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á (AFTA), Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, cùng nỗ
lực để Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm
2005.
‘
'
‘
Nhu cầu sửa đổi Luật Thương mại, trong đó có chế định HĐMBHHQT đã
và đang được đặt lên bàn soạn thảo. Việc sửa dổi một số chế định của Luật
Thương mại đã khó thực hiện được bởi sự bất cập và mối liên hệ với nhau trong
luật nên khó có thể sửa một phần mà không ảnh hưởng tới phần khác. VI vậy,
yêu cầu sửa đổi toàn diện Luật Thương mại, gồm cả chế định HĐMBHHQT đã
được Chính phủ chấp nhận [38].
Pháp luật về HĐMBHHQT là cơ chế pháp lý điểu chỉnh trực tiếp hoạt
động mua bán hàng hoá quốc tế. Hoạt động của mua bán hàng hoá quốc tế này
thuận lợi hay không thuận lợi hoàn toàn phụ thuộc vào sự phù hợp của cơ chế
pháp lý này. Ngoài việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động mua bán hàng hoá
tế) là Nguyên tắc hợp đổng thương mại quốc tế. Đây là vân kiện có phạm vi điều
chỉnh rộng hơn so với Công ước Viên năm 1980, vì điều chỉnh hoạt động thương
mại quốc tế nói chung, trong đó có bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá. Vãn
kiện này có những quy định chi tiết dễ áp dụng đối với các bên khi hoạt động
thương mại quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu cùa luận văn không đi sâu tìm hiểu cơ chế giải quyết
tranh chấp hay những chế định liên quan khác, mà chí tập trung nghiên cứu khái
niệm, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giao kết và thực hiộn hợp đồng.
3. Phương pháp nghỉén cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả có sử dụng tổng hợp các phương pháp:
phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp
phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh.
2
4. Những đóng góp mới của luận văn.
Một số đóng góp mới và nhỏ của luận văn được thể hiện qua khái niệm về
HĐMBHHQT, vể các điểu kiện hiệu lực của HĐMBHHQT được tìm hiểu, phân
tích kỹ. Những vấn để này được tìm hiểu thông qua việc so sánh cùng chế định
này với luật pháp của một số nước có giao dịch thương mại lớn với Việt Nam,
với Công ước Viên năm 1980 và đậc biệt là với Nguyên tắc hợp đồng thương mại
quốc tế của Viện thống nhất Tư pháp quốc tế.
Qua sự phân tích và so sánh đó mà luận văn đã mạnh dạn đề xuất một số
giải pháp ban đầu đối vối chế định này về các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng, về giao kết và thực hiện hợp đồng.
5. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận thì phần nội dưng của luận văn bao
gồm bốn chương:
Chương 1: Lý luận chung về Hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì có ba văn bản luật liên quan tới
HĐMBHH đang được điều chỉnh. Theo trình tự thời gian thl trong các văn bản
luật định nghĩa HĐMBHH được nêu như sau:
Theo Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 thì khái niệm hợp đồng kinh
tế được định nghĩa như sau: “Hợp đổng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài
liệu giao dịch giữa các bên ký kết vể việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi
hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận
khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyển và nghĩa vụ của
mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình” [6, Điều 1].
BLDS năm 1996 định nghĩa : “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chất dứt quyến, nghĩa vụ dân sự” [4, Điều
394]. Từ định nghĩa này hợp đồng mua bán tài sản được hiểu là sự thoả thuận
giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu
4
tài sản đó cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả
tiẻn cho bên bán [4, Điều 421].
Theo định nghĩa của Luật Thương mại thì mua bán hàng hoá là hành vi
thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hoá cho người mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người
bán và nhận hàng hoá theo thoả thuận của hai bên [5, Điều 46].
Theo định nghĩa mm trên thì người bán có các nghĩa vụ giao hàng, chuyển
quyền sở hữu hàng hoá và cuối cùng là nghĩa vụ nhận tiền. Người mua có các
nghĩa vụ trả tiền cho người bán và nhận hàng. Tất cả các nghĩa vụ trên được thực
hiện theo thoả thuận của các bên. Ngoại trừ những điều luật cấm thì thoả thuận
đã được thống nhất của các bên được tôn trọng với ưu tiên cao nhất. Thoả thuận
đã được thống nhất là “luật” của các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá đó.
Quan niệm về HĐMBHH của Việt Nam và Pháp có nhiều nét tương đổng
giống nhau. Điều này cũng xuất phát từ truyển thống pháp luật của hai nước theo
5
v ề tuổi tác, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định một người muốn
trở thành thương nhân phải ở một độ tuổi nhất định. Với một độ tuổi như vậy con
người mới có thể phát triển được đầy đủ và về thể lực lẫn trí lực để thực hiện
những hành vi mà minh mong muốn.
Theo quy định của Luật Thương mại thì cá nhân đủ 18 tuổi trở lên có thể
trở thành thương nhân nếu thoả mãn một số điều kiện nhất định [5, Điều 17]. Cá
nhãn đó phải được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để trở thành thương
nhân. Để cấp giấy chứng nhận thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi đân sự
đầy đủ, có đủ điều kiện để kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật,
và có yêu cầu hoạt động thương mại.
Bên cạnh việc đưa ra tiêu chuẩn về tuổi tác, pháp luật của hầu hết các nước
còn đưa ra các tiêu chuẩn về tình trạng sức khoẻ để làm cơ sở pháp lý xác định tư
cách thương nhân của cá nhân. Những người mặc dù đủ tiêu chuẩn về độ tuổi
nhưng tình trạng sức khoẻ không bình thường cũng không được phép tham gia
vào các hoạt động mua bán hàng hoá với tư cách là thương nhân. Những người
này có thể vì bị thương tật hoặc bệnh tật về tinh thần ... mà không thể hiện được
đầy đủ ý chí một cách độc lập. Việc pháp luật quy định về điều kiện sức khoẻ là
để loại trừ những người thiếu năng lực hành vi hoặc hạn chế răng lực hành vi
tham gia vào HĐMBHHQT.
Tinh trạng tư pháp của một người là một điều kiện pháp lý bắt buộc cần
phải được xem xét để xác định người đó có đủ tư cách là thương nhân hay
không. Về ván đề này pháp luật của các nước đều quy định: những người đang bị
phạt tù, bị Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấm tham gia các hoạt
động thương mại sẽ không thể trở thành thương nhân.
Liên quan tới thương nhân là cá nhân, Điều 18 Luật Thương mại quy định
ba trường hợp không được cồng nhận trở thành thương nhân. Đầu tiên là những
người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người bị mất năng lực hành vi
thuộc vào pháp luật của từng quốc gia tuỳ theo từng trường hợp.
ỉ. 1.2.2 Về đối tượng.
Đối tượng của hợp đổng mua bán là hàng hoá. Theo từ điển tiếng Việt thì
hàng hoá là “sản phẩm do lao động làm ra dùng để buôn bán trên thị trường”.
Với định nghĩa trên thì những gì được coi là hàng hoá nếu thoả mãn hai điều
kiện cùng lúc:
- Thứ nhất, sản phẩm do lao động làm ra.
- Thứ hai, dược dùng buôn bán trên thị trường.
Như vậy, với cách định nghĩa như trên thì hàng hoá có thể bao gồm hữu
hình hoặc vô hình. Đó có thể là các quyền tài sản, có thể là nhiều loại động sản
khác nhau, có thể là bất động sản.
Luật Thương mại Việt Nam lại không đưa một khái niêm hàng hoá cụ thể
- đối tượng của HĐMBHH mà chỉ liệt kê hàng hoá tại Điều 5 gồm:
- máy móc,
- thiết bị,
- nhiên liệu,
- hàng tiêu dùng,
- vật liệu,
- các động sản khác được lưu thông trên thị trường,
- nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán.
Đối chiếu định nghĩa trong từ điển tiếng Việt và định nghĩa của Luật
Thương mại thì hàng hoá theo Luật Thương mại được hiểu hẹp hơn so với từ
điển. Đối tượng điều chỉnh của Luật Thương mại sẽ loại trừ nhiểu loại hàng hoá
được coi như bất động sản và nhiều loại hàng hoá vô hình, quyền tài sản khác.
Đó có thể là tàu thuyền, máy bay, cổ phiếu, trái phiếu, chúng từ có giá trị khác,
bí quyết v.v... .
7
trường thì đây cũng là yếu tố cơ bản cho một thị trường cạnh tranh lành mạnh,
thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Không chỉ quy định về sự tự do hợp đổng mà
PICC còn quy định vể sự tự do quy định nội dung của hợp đổng. Các bên tham
gia hợp đổng được toàn quyền quy định cho mình về những quyền mình được
làm và những nghĩa vụ mình thực hiện. Nhưng không phải là không có những
ngoại lệ của cả hai vấn đề. Sự tự do hợp đồng thường bị ràng buộc do liên quan
đến các khu vực kinh tế có sự quản lý của Nhà nước. Cũng tương tự như vậy,
việc quy định nội dung hợp đổng là do sự thoả thuận của các bên, nhưng các
thoả thuận này sẽ không được trái những truyền thống đạo đức của đất nước đó
và không được trái pháp luật của Nhà nước quy định.
8
1.1.3.2 Nguyên tắc bình đẳng, hợp tắc, cùng có ỉợi.
Nội dung của nguyên tắc này là thoả thuận MBHH các bên phải đảm bảo
sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng được lợi ích của các bên
trong nội dung của hợp đồng. Tính binh đẳng trong HĐMBHHQT không phụ
thuộc vào quan hệ chính trị - ngoại giao của các quốc gia mà các chủ thể mang
quốc tịch. Bất kỳ chủ thể này hay chủ thể khác thuộc quốc gia giàu hay nghèo,
phát triển hay không phát triển, châu Âu hay châu Phi khi giao kết
HĐMBHHQT đều bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ. Các bên cùng có
lợi trên cơ sở thoả thuận và phải chịu trách nhiệm nếu vi phạm hợp đồng đã ký
kết. Sẽ là không hợp lý nếu một HĐMBHH chỉ mang lại lợi ích cho một bên
hoặc chi có một bên có quyển còn bên kia chỉ có nghĩa vụ.
Trong nền kinh tế thế giói hiện nay, chủ thể của HĐMBHHQT rất đa
dạng, việc tuân thủ nguyên tắc này là yêu cầu cần thiết và quan trọng trong hợp
đổng mua bán hàng hoá quốc tế. Việc tuân thủ nguyên tắc này sẽ đảm bảo sự
kinh doanh lành mạnh, bình đẳng trong quan hệ kinh doanh. Nguyên tắc này đã
được nêu tại khoản 2 Điều 395 BLDS.
Các nội dung được thoả thuận trong HĐMBHH là kết quả của sự tự do
giao kết, của sự bình đẳng giữa các bên. Quyết định những điều khoản trong hợp
đồng là do sự lựa chọn độc lập của các bên. Các bên tự đảm bảo rằng lựa chọn
đó được quyết định trong hoàn cảnh làm chủ được mình. Các bên tự chịu trách
nhiệm về sự lựa chọn đó. Khi các bên đã thống nhất các điều khoản trong hợp
đồng thì nó có giá trị ràng buộc các bên. Hiệu lực của thoả thuận này không dễ
bị thay đổi hoặc bị huỷ bỏ bởi ý chí đơn phương của một bên. Cam kết giữa các
bên cần được tôn trọng nhằm tránh thiệt hại cho bên còn lại khi thực hiện theo
thoả thuận đó.
Nguyên tắc đảm bảo theo cam kết còn hưóng tới sự ổn định trong quan hệ
kinh doanh cũng như trong quan hệ xã hội. Nguyên tắc hướng tới sự vận động
bình thường, có kiểm soát, có thể lường trước được những hoạt động kinh doanh
thương mại. Luật Thương mại và BLDS khồng nêu cụ thể nguyên tắc này nhưng
tinh thần của các nguyên tắc và các điều luật đều hướng tới nội dung của nguyên
tắc này.
Sau khi ký kết hợp đồng thì các điều khoản trong hợp đồng trở thành sự
ràng buộc đối với các bên. Điều này cũng được khẳng định trong PICC tại Điểu
1.3. Điều này quy định sau khi giao kết thì hợp đồng sẽ có hiệu lực ràng buộc
các bên trong hợp đồng. Các bên có nghĩa vụ tôn trọng các điều khoản của hợp
đổng. Mọi sự thay đổi của các bên đều phải căn cứ vào các điều khoản của hợp
đồng, căn cứ vào sự thoả thuận hoặc bằng các cách thức khác mà được PICC quy
định. Nếu các bên không tôn trọng các điều khoản, không tôn trọng các nghĩa vụ
trong hợp đồng thì bên đối tác có quyền phạt hợp đổng, có quyền yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại.
1.1.3.5 Nguyên tắc không xàm phạm đến ỉợi ích hợp pháp khắc.
Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các lợi ích hợp khác khi các
bên giao kết hợp đồng. Việc giao kết hợp đồng là sự tự do lựa chọn của các bên.
Tuy nhiên, trong mối liên hệ xã hội thl không có hoạt động nào lại không ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp với các mối quan hệ xã hội khác. Vì vậy, việc ảnh
HĐMBHHQT.
’
’ ’
’ '
Khi Luật Thương mại chưa được ban hành, HĐMBHH với thương nhân
nước ngoài được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương. Bộ Thương nghiệp (nay
là Bộ Thương mại) đã định nghĩa loại hợp đổng này trong Quy chế tạm thời
hướng dẫn ký kết hợp đổng mua bán ngoại thương số 4794-TN-XNK. Hợp đồng
mua bán ngoại thương là HĐMBHH có tính quốc tế. Quy chế này cũng đã đưa ra
ba tiêu chuẩn cơ bản để xác định một hợp đồng mua bán được gọi là hợp đổng
mua bán ngoại thương ià: chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác
nhau; hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thường được đi chuyển từ nước này
sang nước khác; đổng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên ký
kết hợp đồng.
Phù hợp với xu thế hội nhập, Luật Thương mại Việt Nam đã được ra đời
năm 1997 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01.01.1998. Luật này đã đánh dấu
một phát triển lớn của ngành luật thương mại để tạo khuôn khổ hoạt động cho
các giao dịch thương mại ở nước ta. Xu hướng của luật này nhằm điều chỉnh các
quan hệ thương mại trong điều kiện kinh doanh của cơ chế thị trường theo định
hướng XHCN có sự điều tiết của Nhà nước. Luật Thương mại năm 1997 còn tạo
ra khung pháp lý để phát triển các quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các
11
nước khác trên thế giới. Luật này góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển của
kinh tế đối ngoại với các nước.
Tại Điều 80 Luật Thương mại quy định HĐMBHH với thương nhân nước
ngoài là HĐMBHH được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam với một
’
'
’
’
Như vậy, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất
về ý chí giữa các bên có nhân tố nước ngoài trong quan hộ mua bán hàng hoá mà
thông qua đó thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp iý
giữa các chủ thể đó với nhau.
Trưóc hết, vì đây là một quan hệ hợp đồng nên phải trở lại nguồn gốc ban
đầu của hợp đồng. Đó là thoả thuận được thống nhất của các bên mà qua thoả
thuận này nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyển và nghĩa vụ. Cụ thể
hơn trong trong quan hệ này là mua bán hàng hoá. Các quyền và nghĩa vụ được
12
xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt đó liên quan đến việc mua bán hàng hoấ. Một
bên tham gia hợp đổng sẽ là bên nước ngoài đối với bên còn lại. Bên có nhân tố
nước ngoài ở đây được hiểu ]à thương nhân không thuộc cùng một nước vcd bèn
còn lại. Việc quy định các điều kiện để xác định thương nhân thuộc các nước
khác nhau sẽ do pháp luật của từng nước hoặc theo các công ước khác nhau.
1.2.3 Đặc điểm.
1.2.3. Ị Về chủ thể.
Chủ thể tham gia trong Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là các thương
nhân. Dấu hiệu đầu tiên trong Hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế chủ thể tham
gia là các thương nhân. Luật Thương mại quy định : “thương nhân gổm cá nhân,
pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đãng ký kinh doanh hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên” [5, Điều 5]. Quốc tịch của thương nhân theo
quy định của pháp luật Việt Nam là căn cứ theo nước mà thương nhân đó có
đăng ký kinh doanh. Vì vây, thương nhân nước ngoài là thương nhân đó có đăng
i .2.3.2 Về đối tượng.
Như trên đã trình bày hàng hoá là đối tượng của HĐMBHHQT theo Luật
Thương mại gồm những vật có thực và chỉ bao gồm các động sản được phép lưu
thông.
Tại Điều 2 Công ước Viên năm 1980 cũng không đưa ra một định nghĩa
cụ thể về hàng hoá mà sử dụng phương pháp loại trừ. Như vậy, hàng hoá theo
Công ước Viên năm 1980 là vật tham gia vào hoạt động mua bán không nhằm:
- Mục đích tiêu dùng,
- Bán đấu giá,
- Để thi hành luật hoặc uỷ thác vãn kiện,
- Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, chứng từ lưu thông hoặc tiền
tệ,
- Tàu thuỷ, máy bay và các tàu chạy trên đệm không khí,
- Điộn năng.
Dưới các góc độ khác nhau có nhiều cách hiểu về hàng hoá, nhưng khái
quát lại có thể hiểu hàng hoá là vật tồn tại dưới hình thức hữu hình hoặc vô hình
và có thể tham gia vào giao dịch buôn bán.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính quốc tế trong HĐMBHHQT thì không phải
bất kỳ hàng hoá nào cũng có thể là đối tượng của HĐMBHHQT. Một đặc điểm
về đối tượng của HĐMBHHQT là đối tượng trong hợp đồng thông thường được
dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác. Vì vậy, các chủ thể khi tham
gia vào quan hệ mua bán hàng hoá quốc tế cần phải tìm hiểu xem hàng hoá định
mua hoặc bán có phải là hàng hoá được phép kinh doanh không tại các nước của
đối tác không. Cụ thể, hàng hoá đó có phải là hàng hoá bị cấm hoặc hàng kinh
doanh có điều kiện hay không. Căn cứ để xác định loại hàng hoá cấm mua hoặc
mua bán có điều kiện là theo luật của quốc gia xuất hoặc nhập hàng hoá đó. Việc
cấm hay hạn chế một số loại hàng hoá nhất định xuất phát từ chính sách quốc
phòng của các quốc gia hoặc vấn đề độc quyền kinh tế, vấn để không chuyển
nữa, khi phải chuyển đổi một số lượng tiền lớn sang ngoại tộ thì phải mất chi phí
chuyển đổi. Tất cả những phụ trội đó sẽ tạo nên chi phí tăng cao trong giá mua
hàng.
Với những lý do vừa được trình bày trên đây, đồng tiền dùng để thanh toán
chứng minh là một đặc điểm quan trọng của HĐMBHHQT.
1.3 Một sô nguyên tắc cơ bản của HĐMBHHQT.
Trước hết, các nguyên tắc cơ bản của HĐMBHHQT cũng là các nguyên
tắc cơ bản của HĐMBHH. Với đặc thù là có yếu tố nước ngoài nên một vài
nguyên tắc cần được cụ thể hoá đối với trường hợp cá biệt là HĐMBHHQT.
lã d .N g uỵện tắcphù.ầợp..ymjpMpJụ.ậtcủ a cạc.nược có ỊiêũL qụạỊỉ,
Việc tham chiếu pháp luật của các nước là điều cần thiết, trong đó có pháp
luật của nước có bên đối tác. Đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn
cầu. Pháp luật của các nước, trong đó liên quan đến thương mại đã mang những
đặc điểm chung giống nhau hơn. Nhưng không phải vì thế mà phấp luật của
nước đối tác lại không cần xem xét tới.
Viộc tham khảo và đối chiếu pháp luật của nước có bổn đối tác sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến hợp đồng kinh doanh của mình. Ví dụ như liên quan đến hoạt
động kinh doanh bán phá giá hoặc kinh doanh độc quyền. Vấn đề này Việt Nam
đã gặp phải qua vụ bị kiộn bán phá giá cá basa với Mỹ. Viộc tham khảo pháp
luật của nước có đối tác sẽ tạo điều kiộn thuận lợi cho việc kinh doanh. Hàng hoá
15
là đối tượng của hợp đổng sỗ cần được xem xét có thể được pháp luật các nước
cho mua bán được không. Việc bán có vi phạm chống phá giá hoặc vi phạm pháp
luật bảo vệ người tiêu dùng. Việc mua bán có vi phạm pháp luật liên quan đến
bảo vệ môi trường theo pháp luật của nước sở tại không.
Không chỉ liên quan đến pháp luật của nước bên đối tác mà các bên có thể
phải tham khảo pháp luật của một nước thứ ba. Điều này cần thiết trong nhiều
hàng hoá luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc tế. Song hành với
1Incoterms các nâm 1936; 1953; 1967; ỉ 980; 1990; 2000.
16
hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế là sự góp mặt của HĐMBHHQT. Đặc biệt
là trong điều kiện hiện nay xu hướng hội nhập khu vực và xu thế toàn cầu hoá
nền kinh tế thế giới đang là mối quan tâm hàng đầu trong sự phát triển của các
quốc gia. Chính vì vậy mà vai trò của hoạt động trao đổi hàng hoá cũng như vai
trò của HĐMBHHQT đã và đang trở nên quan trọng.
/.'/■1HĐMBHHOT thể hiên Ỷ.chỉ.củạ cấc bên tham gia giao kết hợp
đồn&
HĐMBHHQT là kết quả của sự tự do thoả thuân giữa các bên chủ thể
trong hợp đồng. Nó thể hiện sự tự nguyện của các bên tham gia giao kết. Đây là
căn cứ cơ bản nhằm đảm bảo một nguyên tắc cơ bản của hợp đồng. Ý chí của
các bên trong HĐMBHHQT được thể hiện thông qua các nội dung mà các bên
đã cùng nhau xây dựng trong hợp đồng. Các điều mà các bên thoả thuận trong
HĐMBHHQT chỉ có hiệu lực khi nó thực sự thể hiện sự thống nhất ý chí của các
bên. HĐMBHHQT sẽ bị vô hiệu nếu có sự lừa dối, mua chuộc, đe doạ.
Như vậy, ý nghĩa quan trọng của HĐMBHHQT là ghi nhận sự tự do thể
hiện ý chí của các bên trong hợp đồng.
1.4.2 HĐMBHỈỈO Tỉà công cu pháp lý đ ể bào vê quỵền vầ.lợịjch_chíqh
_*
> «A
Qua kiểm tra mà Nhà nước có thể phát hiện các sai phạm của các thương
nhân mắc phải trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế. Đồng thời qua công
tác kiểm ưa các HĐMBHHQT của các thương nhân mà các cơ quan Nhà nước
có thể ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật sao cho phù hợp với
tình hình thực tiễn của các thương nhân. Những thay đổi phù hợp sẽ tạo điều
kiện để thương nhân nước mình có thể giao kết thuận lợi và bảo vộ tốt hơn vói
các thương nhân nước khác. Những thay đổi này góp phần thúc đẩy nền kinh tế
quốc gia phát triển.
1.5 Nguồn luật điều chỉnh HĐMBHHQT.
Trên đây đã giới thiệu hai nguyên tắc là tham khảo pháp luật của các nước
có đối tác và công ước hoặc văn bản soạn thảo bởi các tổ chức quốc tế. Vì vậy,
sự giới thiệu pháp luật của một số nước có quan hệ thương mại lớn với Việt Nam
và công ước thường xuyên áp dụng là điều hữu ích cho hợp đồng thương mại
quốc tế.
Cộng hoà Pháp là nước đã tham gia và phê chuẩn Công ước Viên năm
1980. Công ước trên đã được đưa lên công báo của nước Pháp ngày 27.12.1987
bằng nghị định số 87-1034 ngày 22.12.1987. Công ước trên đã có hiệu lực tại
nước Pháp ngay vào ngày đầu tiên công ước đó có hiệu lực, ngày 01.01.1988.
Công ước trên đã được áp dụng rộng rãi ở nước Pháp khi các thương nhân Pháp
ký kết HĐMBHHQT với bên nước ngoài.
Mỹ là một nhà nước liên bang với tất cả gồm 50 bang. Mỗi bang của Mỹ
lại có thẩm quyền ban hành pháp luật riêng cho mình. Vì vậy, trên nguyên tắc thì
pháp luật của Mỹ không thống nhất. Đối với pháp luật về hợp đồng là lĩnh vực
pháp luật được ban hành theo các bang khác nhau. Vì vậy, chỉ có pháp luật hợp
đổng của các bang mà không có pháp luật hợp đồng chung cho cả nước Mỹ.
Luật hợp đồng được ban hành dựa trên các phán quyết của các toà án khác nhau
thuộc các bang khác nhau, v ề lĩnh vực mua bán và cho thuê hàng hoá trong
nước thì hầu hết các bang đều ban hành Luật Thương mại dựa trên Bộ luật
Thương mại thống nhất (UCC). Trong hệ thống pháp luật Mỹ không tồn tại hệ
thống các khái niệm và quy định pháp luật chung vể hợp đổng một cách tổng thể
hàng hoá quốc tế. Công ước Viên năm 1980 hướng tới sự loại bỏ những cản trở
do quy định quá khác nhau trong hệ thống pháp luật của các quốc gia. Những
quy định của công ước nhằm hạn chế các xung đột pháp luật trong mua bán quốc
tế. Chính vì vậy, Công ước Viên năm 1980 còn được coi là một luật thống nhất
về hợp đồng áp dụng đối với HĐMBHHQT. Phần lớn các hoạt động mua bán
hàng hoá quốc tế được điều chỉnh theo Công ước Viên 1980. Điều này xuất phát
một phần từ quy định áp dụng một cách cởi mở của công ước. Kể cả trường hợp
các bên khồng phải là thành viên của Công ước Viên 1980 cũng có thể thoả
thuận áp dụng Công ước trong các HĐMBHHQT của mình. Bởi theo quy định
phạm vi áp dụng công ước tại Điều 1 thì không được xem xét tới quốc tịch, đặc
trưng dân sự hoặc thương mại của các bên khi các bên áp dụng công ước này.
Theo quy định của Công ước năm Viên 1980 thì HĐMBHHQT có thể
được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng được coi là hợp pháp. Công ước
Viên năm 1980 không yêu cầu hợp đổng mua bán phải tuân thủ một yêu cầu nào
đó về mặt hình thức. HĐMBHHQT khong yêu cầu phải được ký hoặc được xác
nhận bằng văn bản. Các bên có thể dùng bất kỳ phương tiện nào kể cả lời khai
của nhân chứng để chứng minh sự tồn tại [1, Điều 11]. Quy định trên là một quy
19
định hết sức rộng mở nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các chủ
thể khi tham gia giao kết HĐMBHHQT. Quy định này xuấì phát từ thực tế của
hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế ngày nay đã và đang diễn ra hết sức sôi
động. Chính vì vậy đòi hỏi các chủ thể trong quá trình thoả thuận, giao kết hơp
đồng phải tiến hành một cách hết sức khẩn trương. Để làm được điều này các
bên tham gìa giao kết cần tránh các hình thức giao kết phức tạp. Nếu hình thức
hợp đổng yêu cầu phức tạp thì sẽ đẫn tới mất nhiều thời gian, công sức của các
bôn. Điều này cũng đồng nghĩa các bên sẽ mất đi nhiểu cơ hội kinh doanh. Bên
cạnh đó việc quy định hình thức hợp đồng thông thoáng như vậy tạo nên sự
thuận lợi trong giao kết, thực hiện hợp đồng cũng như chứng minh hợp đổng khi
luật thông dụng (Common Law) và luật xã hội chủ nghĩa (Socialist Systems).
Tuy nhiên, tới năm 1980 một nhóm công tác đặc biệt mới được Viện thành lập
để soạn thảo cụ thể. Nhóm này gồm các chuyên gia hàng đầu về luật hợp đổng
và luật thương mại quốc tế của các hộ thống ỉuật trẽn thế giới. Sau một thời gian
dài soạn thảo, Viện đã cho ra mắt PICC vào tháng 5 năm 1994. PICC điều chỉnh
20
về các hợp đồng thương mại quốc tế nói chung mà không riêng hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế. Phạm vi điều chỉnh của PICC rộng hơn so với Còng ước
Viên năm 1980.
Phần lớn các điều luật trong PICC được kế thừa từ các hệ thống luật trên
thế giới. Đồng thời, PICC cũng được soạn thảo nhằm được sử dụng một cách tốt
nhất cho các hoạt động thương mại trên thế giới. Vì vậy, PICC cố gắng đưa ra
những giải pháp tốt nhất cho các vấn đề đặt ra, mặc dù những giải pháp này có
thể chừa phổ biến.
PICC có mục đích giải quyết công bằng chung cho một vấn đề. Sự công
bằng này cố gắng đạt được dù xem xét từ bất cứ góc độ nào của hệ thống luật
pháp, kinh tế hay chính trị nào trên thế giới. Cả hai mặt hình thức yà nội dung
của PICC đều thể hiện điều này.
Về hình thức, PICC dùng những từ ngữ chung nhất cho mọi hệ thống luật
pháp. Trong PICC, chỉ những vấn đề giống với Công ước Viên năm 1980 mới
được nêu nguồn gốc, còn lại những vấn đề khác không được nêu nguồn gốc từ
các quốc gia nào hay từ hệ thống luật pháp nào.
Vể nội dung, PICC được soạn thảo với sự nhìn trước về sự thay đổi của tập
quán giao dịch thương mại quốc tế do sự phát triển của kinh tế, kỹ thuật và công
nghệ. PICC cũng đồng thời quy định rõ nghĩa vụ của các bên trong hợp đổng
nhằm đảm bảo công bằng trong quan hệ thương mại quốc tế. Sự rõ ràng về nghĩa
vụ của các bên giúp cho trong một quan hệ hợp đồng cụ thể sẽ tránh được sự
thúc ép từ một bên chiếm ưu thế hơn bên đối tác. Các nghĩa vụ của các bên được