Nghĩa vụ của người bán và người mua theo quy định của công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và kinh nghiệm cho doanh nghiệp việt nam - Pdf 50

ĐÀO SỸ KIỀU

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI BÁN VÀ NGƢỜI MUA
THEO QUY ĐỊNH CÔNG ƢỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ KINH
NGHIỆM CHO DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

2015 - 2017

ĐÀO SỸ KIỀU

HÀ NỘI – 2017

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NGHĨA VỤ CỦA NGƢỜI BÁN VÀ NGƢỜI MUA THEO QUY ĐỊNH
CỦA CÔNG ƢỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Việc gia nhập CISG đã đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào
các điều ƣớc quốc tế đa phƣơng về thƣơng mại, tăng cƣờng mức độ hội nhập của
Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa
quốc tế và cho các doanh nghiệp việt nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng
và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này trên cơ sở đó có thể
đóng góp một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động mua bán
hàng hóa quốc tế ở Việt Nam, tác giả đã quyết định chọn đề tài: “Nghĩa vụ của
người bán và người mua theo quy định của Công ước viên 1980 về hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế và kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam” để làm đề tài
nghiên cứu.

3


2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Trên thế giới, hầu hết các cƣờng quốc thƣơng mại trên thế giới trong đó có
nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt nam đều đã gia nhập Công ƣớc
Viên nhƣ Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung
Quốc… còn tại khu vực châu Á là các quốc gia mới gia nhập nhƣ Hàn Quốc và
Nhật Bản. Việc Công ƣớc Viên 1980 trở thành nguồn luật của tất cả những quốc gia
này và đƣợc khuyến khích sử dụng cho mọi giao dịch thƣơng mại quốc tế có thể
thấy có ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các
doanh nghiệp Việt Nam
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu thêm một phần nhỏ bé về hoạt động mua bán
quốc tế một đề tài không mới đối với các nƣớc phát triển nhƣng rất mới mẻ đối với
các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam chúng ta. Sự hiểu biết chƣa sâu sắc đã làm
cho các doanh nghiệp Việt Nam luôn mắc phải và luôn phải chịu thiệt hại rất lớn,
mục đích của đề tài là không chỉ giúp nhà nƣớc, doanh nghiệp, cá nhân hiểu và thực
hiện chiến lƣợc xuất nhập khẩu phù hợp với các điều kiện cam kết gia nhập mà còn

các án lệ đã xảy ra trên thế giới. Những bài học cho doanh nghiệp Việt Nam khi
tham gia mua bán hàng hóa quốc tế
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Phƣơng pháp luận chung của Luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Trên cơ sở đó, áp dụng các phƣơng pháp cụ thể:
Phƣơng pháp phân tích
Phƣơng pháp tổng hợp
Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu
Phƣơng pháp thống kê
6. Những điểm mới về khoa học của luận văn
Kết quả việc nghiên cứu của luận văn là tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận
và thực tiễn của các vấn đề về nội dung cơ bản của Công ƣớc Viên năm 1980
(CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ
mang lại những đóng góp mới về khoa học pháp lý nhƣ sau:

5


Thứ nhất, Việt Nam vẫn cần tăng cƣờng tham gia vào các điều ƣớc quốc tế
đa phƣơng quan trọng trong lĩnh vực thƣơng mại. Công ƣớc Viên về mua bán hàng
hóa quốc tế là một trong số các điều ƣớc quốc tế đa phƣơng quan trọng nhất mà
Việt Nam đƣợc khuyến nghị phê chuẩn trong thời gian sớm nhất có thể, và đã đƣợc
hiện thực hóa vào tháng 18/12/2015.
Thứ hai, khẳng định bản chất tiến bộ, dân chủ và ngày càng phù hợp với
thông lệ quốc tế của pháp luật dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệ hợp đồng
mua bán hàng hoá quốc tế. Thông qua đó, đề cao vai trò của pháp luật điều chỉnh
các quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài, góp phần ổn định các quan hệ xã hội dân
sự, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nƣớc, đặc biệt là trong lĩnh thƣơng mại
quốc tế.
7.

mua và các biện pháp đƣợc áp dụng khi một trong các bên hoặc các bên vi phạm
hợp đồng.
Tuy nhiên, hai Công ƣớc này đều ít đƣợc áp dụng. Trên cơ sở yêu cầu của các
thành viên Liên hợp quốc về một khuôn khổ mới với “sự mở rộng ra các nƣớc có
nền pháp lý, kinh tế, chính trị khác nhau”, năm 1968 UNCITRAL đã khởi xƣớng
việc soạn thảo một Công ƣớc thống nhất pháp luật về nội dụng áp dụng cho hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế hai công ƣớc La Haye, đánh dấu
bƣớc khởi đầu cho sự ra đời của Công ƣớc Viên 1980. Công ƣớc Viên 1980 đƣợc
soạn thảo trên cơ sở đổi mới và hoàn thiện các điều khoản của hai Công ƣớc La
Haye, đƣợc thông qua tại Viên (Áo) ngày 11/04/1980 tại hội nghị của Ủy ban Liên
Hợp quốc về Luật thƣơng mại quốc tế với sự có mặt của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ

7


chức quốc tế. Công ƣớc Viên 1980 có hiệu lực từ ngày 01/01/1988 sau khi đã có 10
quốc gia phê chuẩn theo quy định tại điều 99 của Công ƣớc.
1.1.2 Những nội dung cơ bản của Công ƣớc Viên 1980
Toàn văn Công ƣớc Viên 1980 gồm 101 Điều, đƣợc chia làm 4 phần với các
nội dung chính sau:
Phần 1: Bao gồm phạm vi áp dụng và các quy định chung (từ điều 1đến điều 13)
Phần I đƣợc chia làm hai chƣơng quy định trong đó:
Chƣơng 1: Phạm vi áp dụng, quy định về các trƣờng hợp đƣợc áp dụng hoặc
không áp dụng CISG (từ điều 1 đến điều 6).
Chƣơng 2: Các quy định chung, quy định các nguyên tắc trong việc áp dụng
CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi xử sự của các bên, nguyên tắc tự
do về hình thức hợp đồng.
Phần I cũng nhấn mạnh đến giá trị tập quán trong các giao dịch mua bán hàng
hóa quốc tế.
Phần 2: Ký kết hợp đồng (từ điều 14 đến điều 24)

Chƣơng III: Nghĩa vụ của ngƣời mua
Chƣơng IV: Chuyển rủi ro
Chƣơng V: Các điều khoản chung về nghĩa vụ của ngƣời bán và ngƣời mua
Với tổng cộng 64 điều khoản, đây là chƣơng có số lƣợng điều khoản lớn nhất,
cũng là chƣơng chứa đựng những quy phạm hiện đại, cốt lõi mang tính ƣu việt của
CISG. Nội dung nghĩa vụ của ngƣời bán và ngƣời mua đƣợc quy định chi tiết trong
hai chƣơng riêng, giúp cho việc đọc và tra cứu của các thƣơng nhân trở nên dễ
dàng.
Về nghĩa vụ của ngƣời bán, Công ƣớc quy định rất rõ trong 23 điều, bao gồm
các nội dung: nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ, đặc biệt là nghĩa vụ đảm
bảo tính phù hợp của hàng hóa đƣợc giao (về mặt thực tế cũng nhƣ về mặt pháp lý),

9


bên cạnh đó còn dành riêng một mục quy định về các biện pháp bảo hộ hợp lý trong
trƣờng hợp ngƣời bán vi phạm hợp đồng. Công ƣớc nhấn mạnh đến việc kiểm tra
hàng hóa đƣợc giao (thời hạn kiểm tra, thời hạn thông báo các khiếm khuyết của
hàng hóa). Những quy định này rất phù hợp với thực tiễn và đã góp phần giải quyết
có hiệu quả các tranh chấp phát sinh có liên quan.
Chƣơng nghĩa vụ của ngƣời mua, gồm 18 điều (từ điều 53 đến điều 60) quy
định nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ nhận hàng.
Công ƣớc Viên 1980 không có một chƣơng riêng về vi phạm hợp đồng và chế
tài do vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên các nội dung này đƣợc lồng ghép trong chƣơng
II, chƣơng III và chƣơng V. Trong chƣơng II và chƣơng III, sau khi nêu các nghĩa
vụ của ngƣời bán và ngƣời mua, Công ƣớc Viên 1980 đề cập đến các biện pháp bảo
hộ pháp lý trong trƣờng hợp ngƣời bán, ngƣời mua vi phạm hợp đồng. Điều này đã
nhấn mạnh nguyên tắc bình đẳng giữa ngƣời bán và ngƣời mua trong CISG. Các
biện pháp mà Công ƣớc cho phép ngƣời bán và ngƣời mua áp dụng khi một bên vi
phạm hợp đồng bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, đòi bồi thƣờng thiệt hại,

Haye 1964), nhƣng CISG có quy mô lớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức
độ đƣợc áp dụng. Cho đến nay, với 85 quốc gia thành viên, ƣớc tính Công ƣớc này
điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba phần tƣ thƣơng mại hàng hóa thế giới. Trong
danh sách 85 quốc gia thành viên của Công ƣớc Viên 1980, có sự góp mặt của các
quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng nhƣ
các quốc gia đang phát triển, các quốc gia tƣ bản chủ nghĩa cũng nhƣ các quốc gia
theo đƣờng lối xã hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục. Hầu hết các cƣờng quốc về
kinh tế trên thế giới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã
tham gia CISG.
Sự thành công của Công ƣớc Viên 1980 đƣợc khẳng định trong thực tiễn với
hơn 2500 vụ tranh chấp – phát sinh ở những quốc gia thành viên và cả những quốc
gia không là thành viên của Công ƣớc Viên 1980 - đã đƣợc Tòa án và trọng tài các
nƣớc, quốc tế giải quyết có liên quan đến việc áp dụng và diễn giải CISG. Nhiều
doanh nhân tại các quốc gia chƣa phải là thành viên CISG đã tự nguyện áp dụng

11


CISG cho các giao dịch thƣơng mại quốc tế của mình, bởi vì họ thấy đƣợc những
ƣu việt của CISG so với luật quốc gia.
Chính vì khả năng ứng dụng rộng rãi ấy, CISG đã trở thành nguồn tham khảo
quan trọng của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thƣơng mại quốc tế (PICC)
và Các nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL). Trên cơ sở nền tảng của
CISG, các nguyên tắc này đã trở thành các văn bản thống nhất luật quan trọng về
hợp đồng, đƣợc nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụng trong các giao
dịch thƣơng mại quốc tế.
Năm 2008 đánh dấu sự thành công mới của Công ƣớc Viên 1980 tại Châu Á,
khi mà Nhật Bản tham gia Công ƣớc này. Với ảnh hƣởng mạnh mẽ và rộng lớn về
thƣơng mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới, các chuyên gia dự
báo việc Nhật Bản - nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập Công ƣớc Viên

tối đa việc tham chiếu luật pháp quốc gia, ngay trong Điều 7 của Công ƣớc cũng
đƣa yêu cầu việc diễn giải và áp dụng CISG phải cân nhắc tính chất quốc tế của nó
và yêu cầu thúc đẩy sự thống nhất hóa trong việc diễn giải Công ƣớc và tuân thủ
nguyên tắc “thiện chí” trong thƣơng mại quốc tế.
Vì vậy, các điều khoản của CISG đã thể hiện đƣợc sự thống nhất, hài hòa các
quy phạm khác nhau trong pháp luật của các quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánh
đƣợc mối quan tâm chung của các quốc gia này.
Thứ ba, nội dung của Công ước được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp
với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế.
Nhìn chung, CISG là tập hợp các quy phạm khá hiện đại, thể hiện đƣợc sự
bình đẳng giữa bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế. Sự
phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế đƣợc sinh ra do CISG đƣợc soạn
thảo dựa trên một nguồn luật quan trọng là các tập quán thƣơng mại quốc tế, trong
đó có các Incoterms của ICC.
Tính linh hoạt cũng là một trong yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của
CISG. Trƣớc tiên, sự linh hoạt này thể hiện ở quy định tại Điều 6 CISG, theo đó,

13


hầu hết các điều khoản của CISG đều là các điều khoản tùy nghi, nghĩa là các bên
trong hợp đồng có thể thỏa thuận khác so với các quy định tại các điều khoản đó.
Hơn nữa, Điều 6 cũng cho phép các bên lựa chọn có hoặc không lựa chọn Công ƣớc
làm nguồn luật điều chỉnh cho hợp đồng của mình, ngay cả khi các bên là doanh
nghiệp tại các quốc gia thành viên của Công ƣớc. Chính quy định mở này tạo điều
kiện để các thƣơng nhân có tâm lý thoải mái, tự do trong việc thỏa thuận các nội
dung của hợp đồng cũng nhƣ tự do chọn lựa cho hợp đồng một nguồn luật áp dụng
phù hợp trong trƣờng hợp họ thấy rằng một số các quy định của CISG là chƣa phù
hợp đối với họ (ví dụ trong những lĩnh vực đặc thù, đối với những hàng hóa đặc
thù). Ngoài ra, nhiều điều khoản cụ thể của Công ƣớc cũng có cách tiếp cận rất linh

1.1.4. Ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập công ƣớc Viên
Theo Trung tâm thƣơng mại trọng tài quốc tế, trong số 500 vụ kiện mà Trung
tâm này thụ lý thì đã có tới 80% số vụ có yếu tố nƣớc ngoài. Bất cập ở chỗ: doanh
nghiệp nƣớc ngoài luôn muốn áp dụng luật nƣớc ngoài trong hợp đồng giao dịch,
còn doanh nghiệp Việt Nam dù không muốn vẫn phải chấp thuận các điều khoản
của đối tác đƣa ra.
Sự khác biệt này có thể giải quyết đƣợc khi cả hai bên đều tham gia CISG.
Năm 2009, một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam là Nhật Bản đã
tham gia Công ƣớc Vienna. Không chỉ Nhật Bản, các đối tác khác nhƣ Singapore,
Trung Quốc, nhiều nƣớc EU, Mỹ… đều đã tham gia công ƣớc Vienna. Đây là lý do
Luật sƣ Trần Hữu Huỳnh, Trƣởng ban Pháp chế, Phòng thƣơng mại và công nghiệp
Việt Nam (VCCI), cho rằng việc gia nhập Công ƣớc Viên càng cần thiết hơn nữa
với Việt Nam, để có đƣợc tiếng nói chung trong các hợp đồng xuất nhập khẩu quốc
tế.
Một số chuyên gia đánh giá, áp dụng CISG còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm
đáng kể khoản chi phí quản lý hợp đồng. Bởi không ít doanh nghiệp Việt Nam có
nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa nhỏ với những đối tác khác nhau. Điển hình nhƣ
đối với DN ngành gỗ, doanh nghiệp có hợp đồng nhỏ nhƣng cùng lúc bán đi khoảng
10 thị trƣờng và việc quản lý thực hiện hợp đồng mỗi cái một kiểu rất khó khăn.

15


Với việc áp dụng CISG, những điều khoản hợp đồng sẽ tƣơng tự nhau giúp đơn
giản hóa khâu quản lý.
Việc tham gia CISG sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho các doanh nghiệp Việt
Nam. Theo đó, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm chi phí, tránh đƣợc các tranh chấp trong
hợp đồng mua bán quốc tế. Bởi CISG xây dựng khung pháp lý thống nhất, đƣợc áp
dụng tự động cho các thành viên tham gia nhƣ thời gian giao hàng, thời điểm hợp
đồng có hiệu lực. "Điều này sẽ hạn chế đƣợc gần nhƣ mọi rủi ro cho các doanh

trụ sở thƣơng mại tại các quốc gia khác nhau là thành viên của Công ƣớc hoặc khi
theo quy tắc tƣ pháp quốc tế thì luật đƣợc áp dụng là luật của nƣớc thành viên Công
ƣớc này (theo khoản 1 điều 1 CISG). Có nghĩa là, hiện tại với tƣ cách là thƣơng
nhân Việt Nam – một quốc gia thành viên của CISG, thƣơng nhân Việt Nam và đối
tác của họ thuộc 84 quốc gia thành viên còn lại sẽ có một khung pháp lý thống nhất,
đƣợc áp dụng tự động cho hợp đồng của mình. Nhờ vậy, trong quá trình thực hiện
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ giảm bớt đƣợc
vấn đề lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng – một vấn đề vô cùng nan giải và gây
tranh cãi trong quá trình đàm phán hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Từ đó, các
doanh nghiệp Việt Nam sẽ thu đƣợc những lợi ích sau: Một là, giảm bớt chi phí và
thời gian đàm phán, mà tự động thống nhất áp dụng CISG cho hợp đồng. Đây là lợi
ích lớn nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện hợp đồng, nếu không có
thỏa thuận gì về luật áp dụng thì CISG sẽ đƣợc áp dụng tự động. Hai là, giảm bớt
các chi phí phát sinh hoặc những vấn đền khó khăn có thể xảy ra nếu áp dụng luật
nƣớc ngoài. Nếu không có CISG, doanh nghiệp có thể sẽ phải tìm hiểu luật pháp
của rất nhiều quốc gia khác, các chi phí để tìm hiểu, thuê luật sƣ tƣ vấn cũng tăng
theo số quốc gia của đối tác nƣớc ngoài. Trong khi đó, Công ƣớc Viên 1980 là
nguồn luật áp dụng chung cho hơn 85 quốc gia thành viên, mức ảnh hƣởng rộng
khắp trên toàn thế giới, đặc biệt là các quốc gia tiên tiến có nền kinh tế phát triển,
khi tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa với những đối tác thuộc các quốc gia này,
các doanh nghiệp sẽ chỉ phải tìm hiểu CISG. Ba là, quy phạm xung đột thƣờng khác
nhau ở các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau, do đó nếu buộc cơ quan tài phán
chọn nguồn luật dẫn chiếu đến quy phạm pháp luật xung đột nhằm giải quyết vụ
việc tranh chấp, thì có thể tạo ra những tình huống khó lƣờng trƣớc cho doanh
nghiệp. Việc tham gia Công ƣớc Viên 1980 giúp các doanh nghiệp tránh phải sử

18


dụng đến quy phạm xung đột trong tƣ pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho


doanh nghiệp, tăng hiệu quả hoạt động và sự tin cậy giữa các bên trong quá trình
thực hiện hợp đồng. Ngoài ra, theo đánh giá của các chuyên gia, các điều khoản của
Công ƣớc Viên 1980 đã tạo đƣợc vị thế cân bằng trong mối quan hệ giữa ngƣời bán
và ngƣời mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, giúp các bên bảo vệ tối đa
quyền và lợi ích hợp pháp, hợp lý của mình khi giao kết, thực hiện hợp đồng. Mặt
khác, Công ƣớc Viên 1980 cũng không phân biệt các quốc gia về chế độ phát triển
kinh tế, truyền thống,.... trở thành một khung kháp lý hữu hiệu, an toàn để giải
quyết các tranh chấp phát sinh nếu có.
Thứ ba, bởi sự gia nhập Công ƣớc Viên 1980, Việt Nam sẽ có nguồn luật
thống nhất với các nƣớc đối tác khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Từ
đó giúp các doanh nghiệp VIệt Nam tránh đƣợc những tranh chấp phát sinh trong
kinh doanh quốc tế. Khi có một khung pháp lý chung, các doanh nghiệp Việt Nam
và các doanh nghiệp nƣớc ngoài sẽ có cùng chung “tiếng nói” và các mối quan hệ
mua bán hàng hóa sẽ ngày càng đƣợc thắt chặt, gắn bó, và mở rộng hơn nữa.
1.2. HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA
CÔNG ƢỚC VIÊN 1980
1.2.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Mua bán hàng hoá là hoạt động thƣơng mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao
hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa
thuận. Bên cạnh đó, về mặt pháp lý nhìn chung hợp đồng là một hành vi pháp lý thể
hiện ý chí của các bên từ đó làm phát sinh hệ quả pháp lý, trong đó các bên xác lập
hợp đồng dựa theo ý chí tự do thỏa thuận của mình thống nhất các quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng.
Theo công ƣớc La Haye 1964 về mua bán quốc tế những bất động sản hữu
hình thì: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là tất cả các hợp đồng mua bán trong
đó các bên ký kết có trụ sở thƣơng mại ở các nƣớc khác nhau và hàng hóa đƣợc

20

21


nội tệ đối với ngƣời mua Pháp. Tuy nhiên, cũng có trƣờng hợp đồng tiền thanh toán
đều là nội tệ của cả hai bên, nhƣ trƣờng hợp các doanh nghiệp thuộc các nƣớc trong
cộng đồng châu Âu sử dụng đồng Euro làm đồng tiền chung.
Về ngôn ngữ của hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thƣờng đƣợc
ký kết bằng tiếng nƣớc ngoài, trong đó phần lớn là đƣợc ký bằng tiếng Anh. Điều
này đòi hỏi các bên phải giỏi ngoại ngữ.
Về luật điều chỉnh hợp đồng: Các bên chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau
có thể tự thỏa thuận sử dụng luật quốc gia của một trong các bên chủ thể, hoặc luật
quốc tế, công ƣớc quốc tế,... với các điều khoản và bảo lƣu theo thỏa thuận.
1.2.2. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng là vấn đề mà các
doanh nghiệp Việt Nam cần đặc biệt chú ý.
Khi nói đến hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thƣờng có hai
quan điểm:
Quan điểm thứ nhất: hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể đƣợc ký kết
bằng lời nói, bằng văn bản, bằng hành vi hay bằng bất kỳ hình thức nào khác do các
bên tự do thoả thuận. Các nƣớc theo quan điểm này hầu hết là các nƣớc có nền kinh
tế thị trƣờng phát triển, nhƣ Anh, Pháp, Mỹ...
Quan điểm thứ hai: Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải đƣợc ký kết
dƣới hình thức văn bản. Những nƣớc nêu ra quan điểm này là một số nƣớc có nền
kinh tế đang chuyển đổi nhƣ Việt Nam. Điều 27 khoản 2 Luật Thƣơng mại Việt
Nam năm 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá quốc tế phải đƣợc thực hiện trên cơ
sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng các hình thức có giá trị pháp lý tƣơng đƣơng”.
Các hình thức có giá trị pháp lý tƣơng đƣơng ở đây bao gồm điện báo, telex, fax,
thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật (điều 3 khoản
15 Luật Thƣơng mại Việt Nam năm 2005).


23


Khi trụ sở kinh doanh của các chủ thể đƣợc xác định đặt tại các quốc gia thành
viên của CISG thì công ƣớc sẽ đƣợc áp dụng. Tuy nhiên trên thực tế, có những
trƣờng hợp doanh nghiệp có nhiều trụ sở kinh doanh, hoặc không có trụ sở kinh
doanh. CISG đã dự liệu tới trƣờng hợp này và quy định giải quyết nhƣ sau: Nếu một
bên có hơn một trụ sở thƣơng mại trở lên thì trụ sở thƣơng mại của họ sẽ đƣợc coi
là trụ sở nào đó có mối liên hệ chặt chẽ nhất đối với hợp đồng và đối với việc thực
hiện hợp đồng đó, có tính tới những tình huống mà các bên đều biết hoặc đều dự
đoán đƣợc vào bất kỳ lúc nào trƣớc hoặc vào thời điểm hợp đồng; Nếu một bên
không có trụ sở thƣơng mại thì sẽ lấy nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ (điều 10), nếu
nơi cƣ trú thƣờng xuyên của các chủ thể thuộc quốc gia là thành viên của CISG thì
công ƣớc sẽ đƣợc áp dụng. Nhƣ vậy, trong trƣờng hợp nếu một bên hoặc cả hai bên
trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đều không có trụ sở kinh doanh,
mà nơi cƣ trú thƣờng xuyên đều không ở quốc gia là thành viên CISG thì Công ƣớc
sẽ không đƣợc tự động áp dụng. Công ƣớc chỉ có thể đƣợc áp dụng nếu các bên chủ
thể trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thỏa thuận sử dụng CISG
hoặc một trong hai bên chủ thể là thuộc quốc gia thành viên của CISG. Mặt khác, kể
cả hai bên chủ thể đều thuộc các quốc gia là thành viên của CISG nhƣng thỏa thuận
không sử dụng CISG làm nguồn luật điều chỉnh thì CISG sẽ không đƣợc áp dụng.
- Trƣờng hợp thứ hai, căn cứ vào quy tắc của tƣ pháp quốc tế về chọn luật
áp dụng.
Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 1 CISG thì khi áp dụng nguyên tắc tƣ
pháp quốc tế thì vấn đề dẫn chiếu luật áp dụng sẽ đƣợc đặt ra. Do đó nếu có sự xuất
hiện của một chủ thể thuộc quốc gia là thành viên CISG sẽ là cơ sở để quy phạm
xung đột dẫn chiếu đến việc áp dụng Công ƣớc Viên 1980.
Có thể thấy quy định của điểm b khoản 1 Điều 1 đã tạo ra hành lang pháp lí
khá rộng cho việc áp dụng Công ƣớc Viên 1980. Theo đó nếu có quy phạm xung
đột trong tƣ pháp quốc tế dẫn chiếu đến pháp luật của bất cứ nƣớc thành viên nào

Theo bản chất của việc mua bán hàng hóa

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status