Về hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài theo pháp luật việt nam - Pdf 59

B Ả N G C Á C T Ừ V IẾ T T Ắ T

BLDS

Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 199&

Luật Thương mại

Luật Thương mại Việt Nam năm 1997

PICC

Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế



*





i

(Principles o f International Commercial Contracts)
HĐMBHH

Hợp đổng mua bán hàng hoá

HĐMBHHQT



Chương 2: Các điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc t ế .....22
2 .1 K hái niệm ...................................................................................................................... 22
2. 2 Các điều kiện hiệu lực của H Đ M B H H Q T ......................................................... 22
2.2.1 Chủ thể...................................................... ................................................................... 22
2.2.2 Đ ối tượng, nội dung chủ yếu.................................................................................. 27
2.2.3. Sự tự nguyện giao dịch............................................................................................. 31
2.2.4 Hình thức.......7.............................................................................................................34


Chương 3: Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ..................36
3. 1 Giao kết hợp đồn g..................................................................................................... 36
3.1.1 Chào hàng...................................... .............................................................................36
3.1.2 Chấp nhận chào hàng................................................................................................42
3.1.3. Thời điểm giao kết hợp đồng.................................................................................. 49
3. 2 Thực hiện hợp đồng...................................................................................................52
3.2.1 Nguyên tắc thực hiện hợp đổng...........................................................................52
3.2.2 Thời gian và địa điểm giao hàng..........................................................................54
3.2.3 Chuyển giaọ quyền sở hữu và rủi ro....................................................................... 58
3.2.4 Về vấn đề thanh toán......................................................................................... .

60

3.2.5 Các điều khoản khác liên quan đêh thực hiện hợp đồng...................................63
3. 3 Những quy định về không thực hiện hợp đồng................................................ 64
3.3.1 Những quy định chung..............................................................................................64
3.3.2 Thực hiện đúng hợp đồng.........................................................................................69
3.3.3 Huỷ hợp đồng.............................................................................................................. 73
3.3.4 Buộc bồi thường thiệt hại và phạt hợp đổng..................................................... 76


nhanh chóng này mà dẫn tới thu nhập giữa hộ gia đình giàu nhất và hộ gia đình
nghèo nhất là 12,5 lần [21].
Nhưng những quy định của pháp luật so với thực tế còn rất nhiều điều
không phù hợp, tạo nên sự cản trở những hoạt động thực tế. Những quy định
không phù hợp đó tổn tại bằng câu chữ trên aiấy mà không trở thành hành vi ứng
xử của những người cần áp đụng. Theo Bộ trưởng Bộ Thương mại cho rằng cần
sửa đổi Luật Thương mại hiện hành để có thể theo kịp quá trình tăng trưởng cũng
như hội nhập vào nển kinh tế thế giới hiện nay [22,tr 10]. Luật Thương mại cần
sửa đổi cho phù hợp với vị trí thành viên của Việt Nam trong khuôn khổ Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á (AFTA), Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, cùng nỗ
lực để Việt Nam gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm
2005.
Nhu cầu sửa đổi Luật Thương mại, trong đó có chế định HĐMBHHQT đã
và đang được đặt lên bàn soạn thảo. Việc sửa dổi một số chế định của Luật
Thương mại đã khó thực hiện được bởi sự bất cập và mối liên hệ với nhau trong
luật nên khó có thể sửa một phần mà không ảnh hưởng tới phần khác. Vì vậy,
yêu cầu sửa đổi toàn diện Luật Thương mại, gồm cả chế định HĐMBHHQT đã
được Chính phủ chấp nhận [38].
Pháp luật về HĐMBHHQT là cơ chế pháp lý điều chinh trực tiếp hoạt
động mua bán hàng hoá quốc tế. Hoạt động của mua bán hàng hoá quốc tế này
thuận lợi hay không thuận lợi hoằn toàn phụ thuộc vào sự phù hợp của cơ chế
pháp lý này. Ngoài việc tạo điểu kiện thuận lợi cho hoạt động mua bán hàng hoá

1


thì HĐMBHHQT còn là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bốn tham gia hợp đồng.
Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu chế định trên là cần thiết để xác định được
những điều bất cập và mâu thuẫn nội tại của chế định, cũng như những điều

tranh chấp hay những chế định liên quan khác, mà chỉ tập trung nghiên cứu khái
niệm, các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, giao kết và thực hiện hợp đổng.

3. Phương pháp nghiên cứuTrong quá trình nghiên cứu, tác giả có sử dụng tổng hợp các phương pháp:
phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp
phân tích, tổng hợp. phương pháp so sánh.

2


4. Những đóng góp mới của luận văn.
Một số đóng góp mới và nhỏ của luận văn được thể hiện qua khái niệm về
HĐMBHHQT, vể các điểu kiện hiệu lực của HĐMBHHQT được tìm hiểu, phân
tích kỹ. Những vấn đề này được tìm hiểu thông qua việc so sánh cùng chế định
này với luật pháp của một số nước có giao dịch thương mại lớn với Việt Nam,
với Công ước Viên năm 1980 và đặc biệt là với Nguyên tắc hợp đồng thương mại
quốc tế của Viện thống nhất Tư pháp quốc tế.
Qua sự phân tích và so sánh đó mà luận văn đã mạnh dạn đề xuất một số
giải pháp ban đầu đối với chế định này vể các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng, về giao kết và thực hiện hợp đồng.

5. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận thì phần nội dung của luận văn bao
gồm bốn chương:
Chương 1: Lý luận chung về Hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế.
Chương 2: Các điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Chương 3 : Giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Chương 4: Thực trạng pháp luật về hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế và
một số giải giải pháp đề xuất.


ngàn năm nay. Hoạt động giao dịch với hình thức đầu tiên là đồ vật đổi đồ vật,
khi xuất hiện đồng tiền thì vật đổi tiền trở thành hình thức trung gian cơ bản.
Đồng tiên xuất hiện cũng không thống nhất mà mỗi một dân tộc, một vùng lại có
hình thức đổng tiền khác nhau. Khi sản phẩm ngày càng nhiều và trở thành hàng
hoá thì việc mưa bán hàng hoá trở nên phát triển. Mua bán là động lực cho phát
triển kinh tế của địa phương đó. Đến nay, mua bán trở thành hình thức không thể
thiếu trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trong giao dịch thương mạikinh tế.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành thì có ba văn bản luật liên quan tới
HĐMBHH đang được điểu chỉnh. Theo trình tự thời gian thì trong các văn bản
luật định nghĩa HĐMBHH được nêu như sau:
Theo Pháp lệnh Hợp đổng kinh tế năm 1989 thì khái niệm hợp đồng kinh
tế được định nghĩa như sau: “Hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài
liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công viộc sản xuất, trao đổi
hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứng dụng khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận
khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyển và nghĩa vụ của
mỗi bên để xây dựng và thực hiện k ế hoạch của mình” [6, Điều 1].
BLDS năm 1996 định nghĩa : “Hợp đổng dân sự là sự thoả thuận giữa các
bèn về việc xác lập, thay đổi hoặc chất dứt quyển, nghĩa vụ dân sự” [4, Điểu
394]. Từ định nghĩa này hợp đồng mua bán tài sản được hiểu là sự thoả thuận
giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản và chuyển quyền sở hữu
4


tài sản đó cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả
tiền cho bên bán [4, Điều 421],
Theo định nghĩa của Luật Thương mại thì mua bán hàng hoá là hành vi
thương mại, theo đó người bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu
hàng hoá cho người mua và nhận tiền; người mua có nghĩa vụ trả tiền cho người
bấn và nhận hàng hoá theo thoả thuận của hai bên [5, Điều 46].
Theo định nghĩa «á» trên thì người bán có các nghĩa vụ giao hàng, chuyển


1 Với iợi th ế xây dựng pháp luật sau ihì pháp luật V iệt N am đã tham khảo pháp luật của nhiểu nước (chác để xây
dưníĩ cho m inh, tiong đó có nước Pháp. Vì vây, pháp luật vé hợp đổng của hai nước cơ bàn là giống nhau.
2 Xem cụ thể hơn vé khái niệm và các điéu kiổn của hợp đổisg theo hồ thống thông luật qua tài liêu [16], [20],
[28].

5


v ề tuổi tác, pháp luật của hầu hết các nước đều quy định một người muốn
trở thành thương nhân phải ở một độ tuổi nhất định. Với một độ tuổi như vậy con
người mới có thể phát triển được đầy đủ và về thể lực lẫn trí lực để thực hiện
những hành vi mà minh mong muốn.
Theo quy định của Luật Thương mại thì cá nhân đủ 18 tuổi trở lên có thể
trở thành thương nhân nếu thoả mãn một số điều kiện nhất định [5, Điều 17]. Cá
nhân đó phải được cấp giấy chứng nhận đãng ký kinh doanh để trở thành thương
nhân. Để cấp giấy chứng nhận thì cá nhân đó phải có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ, có đủ điều kiện để kinh đoanh thương mại theo quy định của pháp luật,
và có yêu cầu hoạt động thương mại.
Bên cạnh việc đưa ra tiêu chuẩn về tuổi tác, pháp luật của hầu hết các nước
còn đưa ra các tiêu chuẩn về tình trạng sức khoẻ để làm cơ sở pháp lý xác định tư
cách thương nhân của cá nhân. Những người mạc dù đủ tiêu chuẩn về độ tuổi
nhưng tình trạng sức khoẻ không bình thường cũng không được phép tham gia
vào các hoạt động mua bán hàng hoá với tư cách là thương nhân. Những người
này có thể vì bị thương tật hoặc bệnh tật vé tinh thần ... mà không thể hiện được
đầy đủ ý chí một cách độc lập. Việc pháp luật quy định về điều kiện sức khoẻ là
để loại trừ những người thiếu năng lực hành vi hoặc hạn chế răng lực hành vi
tham gia vào HĐMBHHQT.
Tinh trạng tư pháp của một ngưctì là một điều kiện pháp lý bắt buộc cẩn
phải được xem xét để xác định người đó có đủ tư cách là thương nhân hay

vào quy định của mỗi nước mà có các tiêu chuẩn khác nhau vể mặt pháp lý đối
với từng loại hình.
Nhìn chung, các quy định về tiêu chuẩn pháp lý để xác định tư cách
thương nhân của cá nhân trong HĐMBHHQT chỉ được áp dụng cho các công
dân mang quốc tịch của quốc gia nước sở tại. Trên thực tế việc các tiêu chuẩn
pháp lý này có được áp dụng cho những người có quốc tịch nước ngoài hoặc
những người không có quốc tịch tại quốc gia nước sở tại hay không, còn phụ
thuộc vào pháp luật của từng quốc gia tuỳ theo từng trường hợp.

ỉ. 1.2.2 V ề đối tượng.

Đối tượng của hợp đổng mua bán là hàng hoá. Theo từ điển tiếng Việt thì
hàng hoá là “sản phẩm do lao động làm ra dùng để buôn bán trên thị trường”.
Với định nghĩa trên thì những gì được coi là hàng hoá nếu thoả mãn hai điều
kiện cùng lúc:
- Thứ nhất, sản phẩm do lao động làm ra.
- Thứ hai, được dùng buôn bán trên thị trường.
Như vậy, với cách định nghĩa như trên thì hàng hoá có thể bao gồm hữu
hình hoặc vô hình. Đó có thể là các quyền tài sản, có thể là nhiều loại động sản
khác nhau, có thể là bất động sản.
Luật Thương mại Việt Nam lại không đưa một khái niệm hàng hoá cụ thể
- đối tượng của HĐMBHH mà chỉ liệt kê hàng hoá tại Điều 5 gồm:
- máy móc,
- thiết bị,
- nhiên liệu,
- hàng tiêu dùng,
- vật liệu,
- các động sản khác được lưu thông trên thị trường,
- nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán.
Đối chiếu định nghĩa trong từ điển tiếng Việt và định nghĩa của Luật

các bên lựa chọn hoặc hợp pháp đối với từng chủ thể thoả thuận. Trong Luật
Thương mại không nêu cụ thể nội dung nguyên tắc này nhưng tinh thần chung
có thể được tìm thấy theo nguyên tắc cùa BLDS về hợp đồng. Với tư cách luật
chuyên ngành nên Luật Thương mại không cần đề cập lại vấn đề này đã được
nêu trong BLDS.
Theo PICC thì vấn đề này được quy định rất rõ ràng. Trong PICC tại Điều
1.1 của chương đầu tiên quy định ngay vể vấn đề tự do hợp đồng. Quyền tự do
hợp đồng là một trong những nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực hợp đồng nói
chung và trong phạm vi thương mại quốc tế nói riêng. Sự tự do trong hợp đồng là
yếu tố cơ bản, then chốt cho một nền kinh tế thị trường, ở đó, sự tự do của mọi
người trong kinh doanh được đặt lên hàng đầu. Đồng thời với một nền kinh tế thị
trường thì đây cũng là yếu tố cơ bản cho một thị trường cạnh tranh lành mạnh,
thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Không chỉ quy định về sự tự do hợp đổng mà
PICC còn quy định về sự tự đo quy định nội dung của hợp đồng. Các bên tham
gia hợp đổng được toàn quyền quy định cho mình về những quyền mình được
làm và những nghĩa vụ minh thực hiện. Nhưng không phải là không có những
ngoại lệ của cả hai vấn đề. Sự tự do hợp đồng thường bị ràng buộc do liên quan
đến các khu vực kinh tế có sự quản lý của Nhà nước. Cũng tương tự như vậy,
việc quy định nội dung hợp đồng là do sự thoả thuận của các bên, nhưng các
thoả thuận này sẽ không được trái những truyền thống đạo đức của đất nước đó
và không được trái pháp luật của Nhà nước quy định.

8


/. 1.3.2 N guyên tắc bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Nội dung của nguyên tắc này là thoả thuận MBHH các bên phải đảm bảo
sự tương xứng về quyền và nghĩa vụ nhằm đáp ứng được lợi ích của các bên
trong nội dung của hợp đồng. Tính bình đẳng trong HĐMBHHQT không phụ

với nhau trẻn mức yêu cầu cùa nguyên tắc này nhằm quan hệ giữa các bên thân
thiện và kết quả tốt hơn. Nguyên tắc này đã được nêu tại khoản 2 Điều 395
BLDS.
Trong PICC khống nêu trực tiếp về nội dung của nguyên tắc này nhưng
toàn bộ chương 3 của PICC đều thể hiện tinh thần hướng tới nội đung nguyên tắc
này. Toàn bộ các quy định của chương này đểu hướng tới tiêu chuẩn công bằng
và hợp lý trong thương mại.
9


ỉ. 1.3.4 N guyên tắc đảm bảo theo cam kết.

Các nội dung được thoả thuận trong HĐMBHH là kết quả của sự tự do
giao kết, của sự bình đẳng giữa các bên. Quyết định những điều khoản trong hợp
đồng là do sự lựa chọn độc lập của các bên. Các bên tự đảm bảo rằng lựa chọn
đó được quyết định trong hoàn cảnh làm chủ được minh. Các bên tự chịu trách
nhiệm về sự lựa chọn đó. Khi các bên đã thống nhất các điều khoản trong hợp
đồng thì nó có giá trị ràng buộc các bên. Hiệu lực của thoả thuận này không dễ
bị thay đổi hoặc bị huỷ bỏ bởi ý chí đơn phương của một bên. Cam kết giữa các
bên cần được tôn trọng nhằm tránh thiệt hại cho bên còn lại khi thực hiện theo
thoả thuận đó.
Nguyên tắc đảm bảo theo cam kết còn hướng tới sự ổn định trong quan hệ
kinh doanh cũng như trong quan hệ xã hội. Nguyên tắc hướng tới sự vận động
bình thường, có kiểm soát, có thể lường trước được những hoạt động kinh doanh
thương mại. Luật Thương mại và BLDS không nêu cụ thể nguyên tắc này nhưng
tinh thần của các nguyên tắc và các điều luật đều hướng tới nội dung của nguyên
tắc này.
Sau khi ký kết hợp đồng thì các điều khoản trong hợp đổng trở thành sự
ràng buộc đối với các bên. Điều này cũng được khẳng định trong PICC tại Điểu
1.3. Điều này quy định sau khi giao kết thì hợp đổng sẽ có hiệu lực ràng buộc


Nguồn gốc xuất xứ hàng hoá không được xét đến để xác định loại hợp
đổng đó có phải là HĐMBHHQT không. Chủ thể của hợp đồng được xác định
theo yếu tố nước ngoài dựa trên sự lệ thuộc các nước khác nhau của các bên
tham gia hợp đồng, với căn cứ là theo quốc tịch của chủ thể đó. Quốc tịch của
thương nhàn theo pháp luật Việt Nam thì được xác định theo nước mà thương
nhân đó đăng ký kinh doanh. Còn theo những nguồn luật của các nước hoặc các
tổ chức khác thì việc xác định thương nhân thuộc các nước lại dựa trên những
tiêu chí khác nhau. V í đụ, Công ước Viên năm 1980 xác định các thương nhân
thuộc các nước khác nhau theo trụ sở của thương nhân đó mà không phải theo
nước mà thương nhân mang quốc tịch, hoặc đăng ký kinh doanh.
Tuy nhiên, đó là những cách gọi khác nhau về cùng một ỉoại hợp đồng,
việc nêu tên khác nhau đó mang tính chất nhấn mạnh về một đặc điểm của hợp
đổng mà không mang tính phân biệt là các loại hợp đồng có bản chất khác nhau.
V ì vậy, để thống nhất trong bản luận văn này thì loại hợp đổng trên được gọi là
HĐMBHHQT.

L2,2M ũhM ghĩSL
Khi Luật Thương mại chưa được ban hành, HĐMBHH với thương nhân
nước ngoài được gọi là hợp đồng mua bán ngoại thương. Bộ Thương nghiệp (nay
là Bộ Thương mại) đã định nghĩa loại hợp đổng này trong Quy chế tạm thời
hướng dẫn ky kết hợp đồng mua bán ngoạỉ thương số 4794'TN-XNK . Hợp đổng
mua bán ngoại thương là HĐMBHH có tính quốc tế. Quy chế này cũng đã đưa ra
ba tiêu chuẩn cơ bản để xác định một hợp đồng mua bán được gọi là hợp đổng
mua bán ngoại thương là: chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác
nhau; hàng hoá là đối tượng của hợp đồng thường được đi chuyển từ nước này
sang nước khác; đổng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên ký
kết hợp đồng.
Phù hợp với xu thế hội nhập, Luật Thương mại Việt Nam đã được ra đời
năm 1997 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01.01.1998. Luật này đã đánh dấu

Thực tế thì yếu tố nước ngoài được xem xét ở nhiều khía cạnh hơn đối với
loại hợp đồng này. Những khía cạnh trên của các văn bản luật trong nước hoặc
quốc tế là nhằm xác định phạm vi điều chỉnh của văn bản đó, mà không phải là
những tiêu chí áp đặt đối với mọi loại hợp đổng để xác định có yếu tố nước
ngoài. Yếu tố nước ngoài có thể được xem xét ở một trong các khía cạnh sau:
- Hợp đồng được giao kết và thực hiện bởi các bên không cùng quốc tịch hoặc
không cùng nơi cư trú (với thể nhân) hoặc không cùng nơi đóng trụ sở (đối với
pháp nhân),
- Hợp đồng được giao kết ở một nước thứ ba và được thực hiện tại nước của một
trong hai bên hoặc tại nước giao kết hoặc tại một nước thứ ba khác,
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản ở nước ngoài (đối với trường hợp các bên chủ
thể ký kết có cùng quốc tịch, mặc dù hợp đồng được giao kết trong nước) [15,
tri 86].
Như vậy, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất
vể ý chí giữa các bên có nhân tố nước ngoài trong quan hệ mua bán hàng hoá mà
thông qua đó thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý
giữa các chủ thể đó với nhau.
Trước hết, vì đây là một quan hệ hợp đồng nên phải trở lại nguồn gốc ban
đầu của hợp đồng. Đó là thoả thuận được thống nhất của các bên mà qua thoả
thuận này nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyển và nghĩa vụ. Cụ thể
hơn trong trong quan hệ này là mua bán hàng hoá. Các quyền và nghĩa vụ được
12


xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt đó liên quan đến việc mua bán hàng hoá. Một
bên tham gia hợp đổng sẽ là bên nước ngoài đối với bên còn lại. Bên có nhân tố
nước ngoài ở đây được hiểu là thương nhân không thuộc cùng một nước vcd bên
còn lại. Việc quy định các điều kiện để xác định thương nhan thuộc các nước
khác nhau sẽ do pháp luật của từng nước hoặc theo các công ước khác nhau.


Tóm lại, để trở thành chủ thể trong HĐMBHHQT phải đáp ứng được hai
điều kiện. Thứ nhất, chủ thể phải là các thương nhân. Thứ hai, các thương nhân
đó phải thuộc các nước khác nhau, có thể là có quốc tịch khác nhau, theo pháp
luật Việt Nam hoặc có trụ sở thương mại đóng tại các nước khác nhau, theo
Cổng ước Viên nãm 1980.

13


1.2.3.2 Về dối tượng.

Như trên đã trình bày hàng hoá là đối tượng của HĐMBHHQT theo Luật
Thương mại gồm những vật có thực và chỉ bao gồm các động sản được phép lưu
thông.
Tại Điều 2 Công ước Viên năm 1980 cũng không đưa ra một định nghĩa
cụ thể về hàng hoá mà sử dụng phương pháp loại trừ. Như vậy, hàng hoá theo
Công ước Viên năm 1980 là vật tham gia vào hoạt động mua bán không nhằm:
- Mục đích tiêu dùng,
- Bán đấu giá,
- Đ ể thi hành luật hoặc uỷ thác văn kiện,
- Các cổ phiếu, cổ phần, chứng khoán đầu tư, chứng từ lưu thông hoặc tiền
tệ,
- Tàu thuỷ, máy bay và các tàu chạy trên đệm không khít
- Điộn năng.
Dưới các góc độ khác nhau có nhiều cách hiểu về hàng hoá, nhưng khái
quát lại có thể hiểu hàng hoá là vật tồn tại dưới hình thức hữu hình hoặc vô hình
và có thể tham gia vào giao dịch buôn bán.
Tuy nhiên, để đảm bảo tính quốc tế trong HĐMBHHQT thì không phải
bất kỳ hàng hoá nào cũng có thể là đối tượng của HĐMBHHQT. Môt đặc điểm
về đối tượng của HĐMBHHQT là đối tượng trong hợp đồng thông thường được

thanh toán hợp đồng, ví dụ như VND, USD, FRS .,.
Hình thức thanh toán có thể là dùng tiền mặt hoặc dùng hình thức chuyển
khoản, hoặc có thể dùng hối phiếu, séc. Việc dùng tiền mặt để thanh toán thông
thường được sử dụng đối với buôn bán hàng hoá theo con đường tiểu ngạch.
V iệc sử dụng đồng tiền thanh toán trong hợp đổng phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố. Điều này có thể phụ thuộc vào quan hộ của các bên trong hợp đồng hoặc
có thể phụ thuộc vào tập quán của các bên khi đã có quan hệ nhiếu lần.
Có một thực tế trong HĐMBHHQT là các bên đa phần muốn sử dụng
đồng tiền trong hợp đồng là của nước mình. Bởi khi dùng đồng tiền của nước
minh thì việc thanh toán có thể tránh được rủi ro tỷ giá gây ra bất lợi. Hơn thế
nữa, khi phải chuyển đổi một số lượng tiền lớn sang ngoại tệ thì phải mất chi phí
chuyển đổi. Tất cả những phụ trội đó sẽ tạo nên chi phí tăng cao trong giá mua
hàng.
Với những lý do vừa được trình bày trên đây, đồng tiền dùng để thanh toán
chứng minh là một đặc điểm quan trọng của HĐMBHHQT.

1.3 Một số nguyên tác cơ bản của HĐMBHHQT.
Trước hết, các nguyên tắc cơ bản của HĐMBHHQT cũng là các nguyên
tắc cơ bản của HĐMBHH. Với đặc thù là có yếu tố nước ngoài nên mộĩ vài
nguyên tắc cần được cụ thể hoá đối với trường hợp cá biệt là HĐMBHHQT.

U .- l.N g ụ ỵ ệ n iẩ £ p h ù .h ợ p ..v ớip h ấ p ju ậ t ợ m .c ạ c .n ư ứ c c ó J iệ ji q ụ m ..

V iệc tham chiếu pháp luật của các nước là điểu cẩn thiết, trong đó có pháp
luật của nước có bên đối tác. Đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn
cầu. Pháp luật của các nước, trong đó liên quan đến thương mại đã mang những
đặc điểm chung giống nhau hơn. Nhưng không phải vì thế mà pháp luật của
nước đối tác lại không cần xem xét tới.
Viộc tham khảo và đối chiếu pháp luật của nước có bẻn đối tác sẽ ảnh
hưởng rất lớn đến hợp đổng kinh doanh của mình. Ví dụ như liên quan đến hoạt

loại quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá này. Điển hình cho loại tập quán này là
Incoterms 1 do phòng thương mại và công nghiệp Pari ấn hành.
N goài các công ước và tập quán quốc tế thì các văn bản quốc tế do một
nhóm hoặc một tổ chức quốc tế soạn thảo cũng mang ý nghĩa lán. Các bên hoàn
toàn có thể dùng các văn bản này làm cơ sở pháp lý cho các bên để hình thành
hợp đồng. V í dụ cho loại văn bản này là Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc
tế được giới thiệu ở trên và tiếp theo đây.
Khi các bên tham gia ký kết, khi tham gia thực hiện hợp đổng hoặc khi
tranh chấp hợp đồng thì việc am hiểu pháp luật và tập quán quốc tế là điều rất
quan trọng cho các bên hoàn thành tốt hợp đồng của mình.

1.4 Vai trò và ý nghĩa của HĐMBHHQT.
Hiện nay, với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thì nhu cầu giao lưu hàng
hoá ngày càng cao. So với các lĩnh vực sản xuất và địch vụ, hoạt động mua bán
hàng hoá luôn chiếm một tv trọng lớn trong nền kinh tế quốc tế. Song hành với
1 Incoterm s các nâm 1936; 1953; 1967; 1980; 1990; 2000-

16


hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế là sự góp mặt của HĐMBHHQT. Đặc biệt
là trong điều kiện hiện nay xu hướng hội nhập khư vực và xu thế toàn cầu hoá
nền kinh tế thế giới đang là mối quan tâm hàng đầu trong sự phát triển của các
quốc gia. Chính vì vây mà vai trò của hoạt động trao đổi hàng hoá cũng như vai
trò của HĐMBHHQT đã và đang trở nên quan trọng.

1.4.1 H Đ M B ỈỈH O T th ổ h iện Ý ch íc ủ ạ cắc hên tham gia giao k ế t hợp
đầũểU

HĐMBHHQT là kết quả của sự tự do thoả thuận giữa các bên chủ thể

bên liên quan đến hợp đồng. Qua họp đồng mà cơ quan tài phán có thể xác định
được lỗi của các bên, xác định được vi phạm và từ đó có những chế tài thích hợp
nhằm đảm bảo công bằng và lợi ích cho bên bị vi phạm.


1.4.3 I/Đ M B /U /O T .dúp quốc gia kiểm soát ììOcìt dộng kin h doanh num
bấũM ũgM oL
Ngoài vai trò đảm bảo quyển và lợi ích của các chủ thể tham gia
HĐMBHHQT nêu trên, HĐMBHHQT còn là công cụ giúp các cơ quan chức
năng của quốc gia kiểm soát được hoạt động kinh doanh khi xuất nhập khẩu.
Thông qua các hoạt động kiểm tra hoạt động kinh doanh của các thương nhân,
thông qua kiểm tra các hợp đổng, các giao dịch của các chủ thể mà các quốc gia
có thể nắm được hoạt động kinh doanh của các thương nhân. Từ hoạt động kiểm
tra, nắm số liệu thương mại quốc tế này mà Nhà nước có thể kịp thời điều chỉnh
các chính sách thương mại quốc tế.
Qua kiểm tra mà Nhà nước có thể phát hiện các sai phạm của các thương
nhân mắc phải trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế. Đổng thời qua công
tác kiểm tra các HĐMBHHQT của các thương nhân mà các cơ quan Nhà nước
có thể ban hành mái, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật sao cho phù hợp với
tình hình thực tiễn của các thương nhân. Những thay đổi phù hợp sẽ rạo điều
kiện để thương nhân nước mình có thể giao kết thuận lợi và bảo vệ tốt hơn với
các thương nhân nước khác. Những thay đổi này góp phần thúc đẩy nền kinh tế
quốc gia phát triển.

1.5 Nguồn luật điều chỉnh H Đ M BH H Q T.

Trên đây đã giới thiệu hai nguyên tắc là tham khảo pháp luật của các nước
có đối tác và công ước hoặc văn bản soạn thảo bởi các tổ chức quốc tế. Vì vậy,
sự giới thiệu pháp luật của một số nước có quan hệ thương mại lớn với Việt Nam
và công ước thường xuyên áp dụng là điều hữu ích cho hợp đổng thương mại

biệt là pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế, các quốc gia và các tổ chức
quốc tế đã có nhiều nỗ lực để nhằm đạt được mục tiêu này. Xu hướng chủ đạo
của sự thống nhất này đi theo hai hướng. Thứ nhất là tạo ra các văn bản luật mẫu.
Thứ hai là tạo ra các nguyên tắc cơ bản và không mang tính bắt buộc.
Xu hướng thứ hai đã chiếm ưu thế và được phát triển mạnh. Điểu này được
thể hiện qua hai văn kiện quốc tế quan trọng trong hoạt động thương mại quốc
tế. Thứ nhất ỉà Công ước về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế của Liên hiệp
quốc hay còn gọi là Công ước Viên 1980 (The United Nations Convention on
Contracts for The International Sale o f Goods : Công ước Viên năm 1980). Thứ
hai là Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế (Principles o f International
Commercial Contracts : PICC) năm 1994.
Để điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế không thể khổng nhắc
đến Công ước Viên 1980 về HĐMBHHQT của Liên hiệp quốc. Công ước Viên
năm 1980 là công ước quốc tế đa phương được ký ngày 11.4.1980 tại Viên và có
hiệu lực từ ngày 01.01.1988. Hiện nay Công ước này có 62 nước thành viên [30].
Nội dung của Công ước này là quy định các vấn để cơ bản về HĐMBHHQT.
Mục đích của cỏ n g ước là nhằm tiến tới nhất thể hoá luật quốc tế về mua bán
hàng hoá quốc tế. Công ước Viên năm 1980 hướng tới sự loại bỏ những cản trở
do quy định quá khác nhau trong hộ thống pháp luật của các quốc gia. Những
quy định của công ước nhằm hạn chế các xung đột pháp luật trong mua bán quốc
tế. Chính vì vậy, Công ước Viên năm 1980 còn được coi là một luật thống nhất
về hợp đồng áp dụng đối với HĐMBHHQT, Phần lớn các hoạt động mua bán
hàng hoá quốc tế được điều chỉnh theo Cồng ước Viên 1980. Điều này xuất phát
một phần từ quy định áp dụng một cách cởi mở của công ước. Kể cả trường hợp
các bên không phải là thành viên của Công ước Viên 1980 cũng có thể thoả
thuận áp dạng Công ước trong các HĐMBHHQT của mình. Bởi theo quy định
phạm vi áp dụng cổng ước tại Điều 1 thì không được xem xét tới quốc tịch, đặc
trưng dần sự hoặc thương mại của các bên khi các bén áp dụng công ước này.
Theo qưy định của Công ước năm Viên 1980 thì HĐMBHHQT có thể
được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào cũng được coi là hợp pháp. Công ước

định này thì hợp đổng sẽ bị coi là vô hiệu và hậu quả là những thiệt hại mà các
bên khó tránh khỏi.
Ngoài hình thức của hợp đồng được “bỏ ngỏ” để dành cho quy định của
mỗi quốc gia thì Công ước Viên năm 1980 còn để ngỏ những vấn để sau. Đ ó là
cơ sở pháp lý của hợp đổng, năng lực hành vi của các bên tham gia hợp đồng,
quyền khiếu nại của người thứ ba và trách nhiệm gây thiệt hại vể thân thổ hoặc tử
vong cho một người nào đó [26, tr. 808]. Những váh đề trên được dành cho pháp
luật của m ỗi quốc gia tự giải quyết, bởi những quy định về các vấn đề đó rất
khác biệt theo mỗi quốc gia khác nhau mà khó có thể tìm được những quy định
chung. Vì vậy, việc không đưa những quy định đó vào trong Công ước Viên năm
1980 nhằm tránh mâu thuẫn với các chủ thể phê chuẩn công ước.
Về Nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, hay gọi tắt là PICC, được
soạn thảo bởi Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế (Institut International pour
I’Unification des Droits Privés) là một tổ chức quốc tế liên chính phủ được thành
lập tờ năm 1929, đặt trụ sở tại Roma. Ngay từ năm 1971, Viện đã đặt vấn đề
thống nhất hợp đổng mua bán hàng hoá quốc tế vào chương trình làm việc. Viện
dã lập một uỷ ban chuyên trách gồm các giáo sư của các nước Anh, Pháp,
Rumani đại diện cho ba trường phái luật học lớn: luật dân sự (Continental Law),
luật thông dụng (Common Law) và luật xã hội chủ nghĩa (Socialist Systems).
Tuy nhiên, tới năm 1980 một nhóm công tác đặc biệt mới được Viện thành lập
để soạn thảo cụ thể. Nhóm này gồm các chuyên gia hàng đầu về luật hợp đổng
và luật thương mại quốc ĩế của các hệ thống luật trên thế giới. Sau một thời gian
dài soạn thảo, Viện đã cho ra mắt PICC vào tháng 5 năm 1994. PICC điều chỉnh
20


về các hợp đồng thương mại quốc tế nói chung mà không riêng hợp đồng mua
bán hàng hoá quốc tế. Phạm vi điều chỉnh của PICC rộng hơn so với Công ước
Viên năm 1980.
Phần lớn các điều luật trong PICC được kế thừa từ các hệ thống luật trên


CHƯƠNG 2

C Á C Đ IỂ U K IÊ N H IỆ U L Ự C C Ủ A
H Ợ P Đ Ổ N G M UA BÁN H À N G H O Á Q U Ố C TẾ

2 . 1 K h á i n iệ m .

Các điều kiện hiệu lực của một giao dịch là các điều kiện để giao dịch đó
được pháp luật công nhận. Hay nói cách khác là một giao dịch nếu thiếu một
trong các điều kiện hiệu ỉực thì giao dịch đó bị coi ỉà vô hiệu. Việc vô hiệu này
có thể ỉà vô hiệu hình thức hoặc nội đung, hay vô hiệu tương đối hoặc tuyệt đối.
Các giao dịch thương mại là một dạng cụ thể của giao địch dân sự. Vì vậy,
một giao địch thương mại có hiệu lực thì cũng phải thoả mãn các điều kiện hiệu
lực của một giao địch dân sự. Tại Điều 131 Bộ luật Dân sự (BLDS) nêu bốn điều
kiện để một giao dịch dân sự có hiệu lực. Thứ nhất là người tham gia giao dịch
có năng lực hành vi dân sự. Thứ hai là mục đích và nội dung của giao dịch không
trái pháp luật, đạo đức xã hội. Thứ ba ỉà người tham gia giao dịch hoàn toàn tự
nguyện. Cuối cùng là hình thớc giao dịch phù hợp với quy đinh của pháp luật.
Các điều kiện hiệu lực của HĐMBHH với thương nhân nước ngoài là các
điều kiện để pháp luật công nhận hợp đồng đố có giá trị pháp l ý . Tại Điều 81
Luật Thương mại quy định cụ thể về bốn điều kiện để một hợp đồng trên có hiệu
lực. Thứ nhất là chủ thể của hợp đồng là bên mua và bên bán phải có đủ tư cách
pháp lý. Thứ hai là hàng hoá theo hợp đồng là hàng hoá được phép mua bán theo
quy định của nước bên mua và nước bên bán. Thứ ba là hợp đồng phải có các nội
dung chủ yếu theo quy định tại Điều 50 Luật Thưcmg mại. Cuối cùng là hợp
đổng phải được lập thành văn bản. Như vậy, những quy định của Điều 81 Luật
Thương mại cự thể hoá các điều kiện hiệu lực của Điều 131 BLDS đối với
HĐMBHH với thương nhân nước ngoài.
So sánh những điều kiện của các quy định trên, có thể tổng hợp các điểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status