Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài - kinh nghiệm so sánh pháp luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt Nam - Pdf 28


4
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI
9
1.1.
Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
9
1.1.1.
Hàng hóa và hành vi mua bán hàng hóa trong quan hệ mua
bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
9

1.4.1.
Điều kiện về chủ thể của hợp đồng
44
1.4.2.
Điều kiện về hàng hóa là đối tượng của hợp đồng
44
1.4.3.
Điều kiện về nội dung của hợp đồng
45
1.4.4.
Điều kiện về hình thức của hợp đồng
45
1.5.
Pháp luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
47

Chương 2: SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT
TRUNG QUỐC VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI
52
2.1.
Thực trạng các quy định về các quan hệ tiền hợp đồng trong
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài của Việt Nam và Trung Quốc
52
2.1.1.
Điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi trong quan hệ tiền
hợp đồng
52
2.1.2.

92
3.1.
Sự cần thiết và những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
92
3.2.
Những phương hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
94
3.2.1.
Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng
về hội nhập kinh tế quốc tế
94
3.2.2.
Hoàn thiện pháp luật vè hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài của Việt Nam cần đảm bảo sự phù
hợp với các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam
95
3.2.3.
Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài của Việt Nam cần đảm bảo sự phù hợp với
pháp luật, thông lệ quốc tế và cần phải đặt trong giải pháp
tổng thể với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại
96
3.3.
Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài

công cụ pháp lý bảo đảm có hiệu quả quyền lợi của các bên, là cơ sở cho việc
giải quyết những bất đồng giữa các bên khi thực hiện hợp đồng.
Để đảm bảo thực hiện đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế, trong những năm qua Nhà nước ta đã chủ động
xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ về
thương mại, dân sự, kinh tế có yếu tố nước ngoài. Nhà nước ta cũng tham gia,
ký kết nhiều điều ước quốc tế về kinh tế - thương mại với nhiều tổ chức
quốc tế và với nhiều quốc gia. Tuy nhiên, các quy định pháp luật điều chỉnh
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài vẫn còn là
lĩnh vực phức tạp và còn có những mới mẻ cả về phương diện lập pháp và áp
dụng trong thực tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu. Nhiều quy định của pháp
luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài vẫn
chưa tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xác lập quan hệ mua bán hàng
hóa với nước ngoài, chưa thực sự thể hiện được đầy đủ chính sách đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập. Những bất
cập này cần phải được loại bỏ để phát huy hơn nữa vai trò của pháp luật về
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong giai
đoạn mới, thích ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thực tiễn và
kinh nghiệm của các nước nói chung và của Việt Nam nói riêng, chúng ta
ngày càng nhận ra vai trò to lớn của pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong tiến trình phát triển nền kinh tế.

8
Vì vậy, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt lý luận các vấn đề liên quan
đến việc giao kết loại hợp đồng này để trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và
xác định phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong điều kiện hiện nay đang
là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Điều này không chỉ góp phần
điều chỉnh có hiệu quả về mặt pháp lý đối với hoạt động thương mại mà còn
góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại nói riêng và hệ thống

giải và đưa ra những kiến nghị.
Từ các hướng tiếp cận khác nhau các công trình nghiên cứu về hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài đã triển khai trên các
hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu liên quan đến quan niệm và việc xác định các
tiêu chí của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài;
Thứ hai, nghiên cứu về lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua
bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài;
Thứ ba, nghiên cứu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng
hóa với thương nhân nước ngoài;
Thứ tư, nghiên cứu về các giai đoạn của giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài.
Về quan niệm và việc xác định các tiêu chí của hợp đồng mua bán hàng
hóa với thương nhân nước ngoài, đã có nhiều công trình đề cập trong đó tiêu
biểu là Giáo trình Luật thương mại (năm 2002), Giáo trình Tư pháp quốc tế, của
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2003), Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Luật Thương mại quốc tế, của khoa Luật, Đại học
Quốc Gia Hà Nội năm 2005, cuốn sách "Làm thế nào để tránh rủi ro pháp lý khi
mua bán", Nhà xuất bản Pháp lý, năm 1992. Những nghiên cứu trong các công
trình này đã đưa ra quan niệm và xác định tương đối rõ các tiêu chí của hợp
đồng mua bán với thương nhân nước ngoài.

10
Việc lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng cũng được đề cập trong
nhiều công trình, trong đó nổi bật là các công trình như "Xuất khẩu và hợp đồng
xuất khẩu", Nhà xuất bản Trẻ, năm 1999, "International Business Contract",
Nhà xuất bản Thống kê, năm 1997 Nhìn chung, các công trình này đều
thống nhất về cách thức chọn luật áp dụng là lựa chọn hệ thống pháp luật của
một nước, một khu vực, một điều ước quốc tế, thậm chí là một nguyên tắc
hoặc tập quán quốc tế. Cách lựa chọn luật phổ biến được chỉ ra là lựa chọn

ngoài"; luận án của Lê Hoàng Oanh về "Hoàn thiện pháp luật thương mại
hàng hóa ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế", các luận văn
của Thái Tăng Bang: "Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán
quốc tế hàng hóa ", Vũ Tiến Đức: "Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế" Những công trình này đã tiếp cận ở những góc độ
khác nhau như thực trạng pháp luật về thương mại hàng hóa, nguồn luật điều
chỉnh, xử lý vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài Tuy nhiên, nhiều nội dung liên quan đến giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài chưa được các công trình nêu trên khai
thác hoặc khai thác chưa đầy đủ như quan hệ tiền hợp đồng, vấn đề lựa chọn
luật áp dụng và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
Như vậy có thể nói, liên quan đến đề tài nghiên cứu nói trên, hiện nay
có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị được tiến hành. Tuy nhiên, cần phải
khẳng định rằng, lĩnh vực nghiên cứu này vẫn tồn tại một số vấn đề đang còn
tranh luận cần tiếp tục làm rõ trong điều kiện hiện hành ở Việt Nam như:
+ Hiệu lực pháp lý của quan hệ tiền hợp đồng và trách nhiệm đối với
hành vi làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp gây thiệt hại trong quan hệ
tiền hợp đồng.
+ Vấn đề lựa chọn luật áp dụng trong giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân Trung Quốc.
+ Xu hướng vận động, bối cảnh phát triển mới của pháp luật ở Việt
Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
trong điều kiện gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới.

12
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của
pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài; tiến hành phân tích, đánh giá so sánh pháp luật Việt Nam và pháp
luật của Trung Quốc về pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán

hóa với thương nhân nước ngoài
Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính
phổ biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài ở Việt Nam do các điều kiện kinh tế,
lịch sử cụ thể chi phối. Đề tài cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn
trong việc nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
5. Ý nghĩa và điểm mới của đề tài
+ Đề tài cũng đề cập tới quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân Trung Quốc. Khác với các cách tiếp
cận trước đây tập trung vào đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng, đề tài đã đi sâu hơn và chỉ rõ trước khi hợp đồng được xác lập và
thậm chí khi còn là lời mời giao kết hợp đồng, quan hệ giữa các bên vẫn có
thể làm phát sinh những nghĩa vụ pháp lý nhất định giữa các bên. Những phân
tích của đề tài đưa ra cơ sở lý luận đối với quan hệ tiền hợp đồng, sự phân
chia các giai đoạn và nội dung của quan hệ này để xây dựng khung pháp luật
điều chỉnh quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân Trung Quốc trong điều kiện hiện hành ở Việt Nam.
+ Chỉ rõ những khác biệt giữa pháp luật nước ngoài và pháp luật
Trung Quốc khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài, các rủi ro cần quan tâm khi giao kết hợp đồng và cách giải quyết những
vấn đề đó. Luận giải và chỉ rõ đặc thù về vấn đề xung đột pháp luật trong quá
trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân Trung Quốc, theo

14
đó có những luật áp dụng có thể được thỏa thuận để điều chỉnh hợp đồng
trong giai đoạn giao kết hợp đồng, nhưng cũng có luật áp dụng không được
thỏa thuận vào thời điểm này mà có thể được xác định cụ thể sau đó, đồng
thời chỉ ra những phương thức chung trong việc điều chỉnh xung đột pháp luật
theo pháp luật và thông lệ quốc tế, từ đó xây dựng mô hình lý thuyết và cách
tiếp cận thống nhất đối với việc giải quyết xung đột pháp luật và lựa chọn luật

bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa nói chung và mua bán hàng
hóa với thương nhân nước ngoài nói riêng là hàng hóa. Hàng hóa với tư cách
là sản phẩm mua bán là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của quan hệ mua
bán hàng hóa. Một hợp đồng mua bán hàng hóa không thể được xác lập nếu
thiếu yếu tố cơ bản là hàng hóa.
Dưới góc độ pháp luật, dựa vào đặc trưng của từng loại mà hàng hóa
được phân thành bất động sản (gồm đất đai, nhà ở, công trình xây dựng, tài
sản gắn liền với đất đai) và động sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình hoặc
các quyền tài sản. Hàng hóa có thể là vật, là lao động của con người, là các
quyền tài sản mang tính vô hình [35, tr. 111].
Theo Điều 3 Luật thương mại Việt Nam 2005 có nêu: Hàng hóa bao
gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
những vật gắn liền với đất đai.
Thông thường, các nước đều xác định những đối tượng nào được coi
là hàng hóa. Ví dụ, theo Luật Mua bán hàng hóa của Vương quốc Anh năm
1973, hàng hóa gồm hoa lợi và những vật dụng gắn liền hoặc hình thành một
phần của đất đai đã được thỏa thuận sẽ tách ra trước khi bán hoặc theo hợp
đồng mua bán. Luật Mua bán hàng hóa của Vương Quốc Anh không coi đất
đai, quyền vô hình, ví dụ, quyền được hoàn trả nợ và tiền là hàng hóa [58]. Bộ
luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC) (điều 2-105) định nghĩa:

16
Hàng hóa nghĩa là tất cả các vật (bao gồm cả những hàng
hóa đặc biệt) mà có thể chuyển dịch vào thời điểm xác định đối với
hợp đồng mua bán hàng hóa, ngoại trừ tiền tệ theo đó giá được trả,
các chứng khoán đầu tư (Điều 8) và các vật đang trong quá trình
kiện tụng. Hàng hóa cũng bao gồm con chưa sinh ra của động vật
và mùa màng đang trồng cấy và những vật xác định khác gắn liền
với hiện thực như được mô tả trong phần về hàng hóa gắn liền với

hóa với thương nhân nước ngoài có nét tương đồng với hàng hóa là đối tượng
của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước ở chỗ đều phải là đối tượng có
thể giao dịch được, tuy nhiên để có thể xuất khẩu, nhập khẩu thì hàng hóa
phải không thuộc diện đối tượng bị cấm hoặc bị hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu.
Như vậy, về bản chất tất cả những của cải phục vụ đời sống vật chất,
tinh thần của con người có giá trị và giá trị sử dụng đều là hàng hóa. Tuy
nhiên, không phải tất cả các loại hàng đều là hàng hóa được quy định trong
pháp luật thương mại của các nước và các điều ước quốc tế với tư cách là đối
tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Do việc
xác định hàng hóa trong pháp luật thương mại của các nước phụ thuộc vào ý
chí của nhà làm luật nên có sự khác nhau trong quy định hàng hóa là đối
tượng thuộc phạm vi áp dụng luật thương mại và hàng hóa là đối tượng của
hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Lý luận và thực
tiễn áp dụng pháp luật của các nước và thông lệ quốc tế cũng làm rõ những
trường hợp theo đó một số đối tượng không được coi là đối tượng của hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài.
Bên cạnh việc đề cập đến hàng hóa với tư cách là đối tượng của hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài nói riêng, pháp luật các
nước còn đề cập đến hành vi mua bán hàng hóa. Mua bán hàng hóa là một
hành vi thương mại. Theo pháp luật thương mại của nhiều nước trên thế giới,
hành vi thương mại bao gồm các hoạt động như sản xuất, chế tạo ra sản phẩm,
mua bán hàng hóa, thuê mướn, chuyên chở hành khách, hàng hóa, môi giới,
đại diện, đại lý thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, xây dựng,

18
xuất bản. Ví dụ, Bộ luật thương mại và Dân sự Thái Lan quy định các hành vi
thương mại bao gồm: mua bán hàng hóa, thuê tài sản, thuê thầu khoán, thuê
mua tài sản, vận tải, đại lý, đại diện, môi giới, bảo hiểm, hoạt động của các
hội kinh doanh và công ty.
Theo quan niệm của hầu hết pháp luật ở các nước trên thế giới, hành

chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp… Điều này khẳng định sự cần thiết
của việc tìm hiểu và làm rõ những đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài.
1.1.2. Thương nhân nước ngoài
Thương nhân là chủ thể của quan hệ thương mại. Nhìn chung, thương
nhân là thuật ngữ để chỉ những người tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm
mục đích thu lợi nhuận và nhân danh mình để thực hiện các hoạt động kinh
doanh đó, nghĩa là những người đó hoạt động kinh doanh một cách độc lập.
Pháp luật các nước nhìn chung quan niệm chủ thể hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài phải là thương nhân, bao gồm cá nhân
và công ty thương mại.
Pháp luật các nước trên thế giới đều quy định những điều kiện để trở
thành thương nhân. Theo pháp luật nhiều nước, để trở thành thương nhân cần
đảm bảo điều kiện liên quan đến con người và điều kiện liên quan đến công
việc, đến hoạt động nghề nghiệp của người đó. Thương nhân còn được ghi
nhận trong nhiều điều ước quốc tế [103, Điều 2].
Pháp luật của các nước có quy định không giống nhau về độ tuổi có
năng lực hành vi. Ví dụ, Bộ luật Dân sự Nhật Bản xác định người thành niên
là đủ 20 tuổi. Trường hợp chưa đủ 20 tuổi, vẫn có thể thực hiện một số giao
dịch nhất định nhưng phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.
Trong khi đó, pháp luật Pháp lại xác định là 18 tuổi. Điều 488 Bộ luật Dân sự
Pháp và Luật ngày 5/7/1974 quy định: "Tất cả mọi người tròn 18 tuổi là
những người có năng lực hành vi và đều có thể trở thành thương nhân" [36]. Về

20
điều kiện liên quan đến hoạt động của thương nhân, luật pháp các nước quy
định không giống nhau, pháp luật Hoa Kỳ quy định thương nhân là những người:
Thực hiện nghiệp vụ với những hàng hóa thuộc chủng loại
nhất định hoặc thực hiện những nghiệp vụ bằng cách khác nào đó
và xét về tính chất nghiệp vụ của mình họ được coi như là những

Pháp luật của các nước có điểm chung là đều xác định quyền của thương
nhân tham gia quan hệ mua bán hàng hóa với nước ngoài. Pháp luật nhiều
nước trên thế giới đã đề cập đến thương nhân nước ngoài với những quy định
riêng biệt đặc thù với chủ thể là thương nhân nước ngoài. Nhìn chung, các
nước trên thế giới tiếp cận vấn đề thương nhân nước ngoài theo hai hướng.
- Hướng thứ nhất là đưa ra quan niệm về thương nhân nước ngoài
(ví dụ, Bộ luật các quy tắc liên bang của Hoa Kỳ xác định thương nhân nước
ngoài là bất kỳ là thương nhân nào cư trú hoặc sinh sống bên ngoài lãnh thổ
Hoa Kỳ [95]. Luật ngoại thương của Trung Quốc năm 1994 xác định khái
niệm thương nhân trong hoạt động ngoại thương, theo đó thương nhân trong
hoạt động ngoại thương là tất cả các thực thể pháp lý và các tổ chức khác có
liên quan đến các giao dịch ngoại thương [70, Điều 8]. Pháp luật Việt Nam
cũng có cách tiếp cận tương tự với việc ghi nhận quan niệm về thương nhân
nước ngoài, theo đó thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập.
đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp
luật nước ngoài công nhận [42, Điều 16].
- Hướng thứ hai là đề cập tới những vấn đề có liên quan trực tiếp
như quan niệm về công ty nước ngoài, pháp nhân nước ngoài…Hướng tiếp
cận này được xác lập theo hai hướng: đưa ra quan niệm về công ty nước ngoài
và đề cập quyền, nghĩa vụ của công ty nước ngoài. Theo Luật về hoạt động
thương mại của Ôxtrâylia năm 1974, công ty nước ngoài là loại hình công ty
được thành lập ở một lãnh thổ bên ngoài Ôxtrâylia. Pháp luật Thụy Sĩ cũng
tiếp cận theo hướng đề cập tới công ty nước ngoài, nhưng khác với các nước
nêu trên, pháp luật Thụy Sĩ không đưa ra quan niệm về công ty nước ngoài.

22
Nếu một công ty được thành lập theo pháp luật nước ngoài tiến hành kinh
doanh trên lãnh thổ Thụy Sĩ hoặc từ lãnh thổ Thụy Sĩ, trách nhiệm của những
người hoạt động nhân danh công ty sẽ được điều chỉnh bằng pháp luật Thụy
Sĩ. Một công ty có trụ sở đăng ký ở nước ngoài sẽ được điều chỉnh bằng pháp

dung quan trọng của pháp luật thương mại quốc tế. Hiện nay, quan niệm về
hợp đồng có yếu tố nước ngoài nhìn chung chưa thật sự được định hình thống
nhất. Các tài liệu và nghiên cứu có liên quan vẫn còn đề cập đến loại hợp
đồng này với nhiều quan niệm khác nhau dưới những tên gọi khác nhau như
hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, hợp đồng xuất, nhập khẩu, hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Là một nội dung quan trọng của pháp luật thương mại quốc tế, hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài được ghi nhận trong
nhiều điều ước, thỏa thuận quốc tế cũng như trong pháp luật quốc gia.
Theo Điều 1 Công ước La Hay năm 1964 về mua bán động sản hữu
hình thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa
trong đó các bên giao kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng
hóa được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc việc trao đổi ý chí ký kết
hợp đồng giữa các bên giao kết được thiết lập ở các nước khác nhau. Công
ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 chỉ đưa ra một tiêu chuẩn
để khẳng định yếu tố nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó
là các bên giao kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt tại các lãnh thổ xác
định. Khuynh hướng này còn được chứng tỏ bởi một thực tế là thương gia chỉ
xuất hiện với tư cách thể nhân trong rất ít trường hợp và các công ty có vị trí
quan trọng trong quan hệ thương mại với nước ngoài. Ngoài ra, Công ước
Viên thậm chí còn nhấn mạnh thêm khi khẳng định rằng: quốc tịch của các
bên không được tính đến khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này.
Tất nhiên, quy tắc này không thể áp dụng trong tất cả các lĩnh vực của quan
hệ thương mại quốc tế, nhưng rõ ràng đây là quy tắc có thể áp dụng trong
quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế, nhưng rõ ràng đây là quy tắc có thể áp
dụng trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế.

24
So sánh phạm vi áp dụng của Công ước La Hay năm 1964 và Công
ước Viên năm 1980, có thể dễ dàng nhận thấy Công ước Viên đã loại bỏ

trên, nhìn chung, thương nhân nước ngoài được pháp luật một nước quan niệm
là thương nhân thành lập, tồn tại và hoạt động hợp pháp và hợp lệ bên ngoài
lãnh thổ nước đó. Tư cách pháp lý của thương nhân nước ngoài được xác định
theo pháp luật của nước nơi thương nhân đó được thành lập. Như vậy, đối với
hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, ngoài tiêu chí về
trụ sở thương mại, một tiêu chí cần được xét đến là quốc tịch của các bên là
chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài.
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
không đồng nhất với hợp đồng ngoại thương và hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế. Điều này được khẳng định thông qua thực tiễn xây dựng và vận dụng
các điều ước quốc tế và pháp luật các nước. Pháp luật của nhiều nước trên thế
giới đã xác định nội hàm của hoạt động ngoại thương. Luật Ngoại thương của
Trung Quốc năm 1994 đã xác định khái niệm hoạt động ngoại thương. Hoạt
động ngoại thương theo luật này bao gồm hoạt động xuất, nhập khẩu hàng
hóa, công nghệ và thương mại quốc tế về dịch vụ [70, Điều 2]. Luật ngoại
thương của Măccêđônia xác định phạm vi điều chỉnh của luật là hoạt động
ngoại thương bao gồm cả doanh thu ngoại thương và hoạt động kinh tế ở
nước ngoài. Hoạt động ngoại thương và hoạt động kinh tế ở nước ngoài có thể
được thực hiện bởi các pháp nhân thực hiện các hoạt động kinh tế. Hoạt động
ngoại thương còn liên quan tới thương mại dịch vụ. Dịch vụ trong ngoại
thương bao gồm nhiều dạng như vận tải quốc tế hàng hóa và hành khách,
khách sạn và du lịch, viễn thông. Hoạt động ngoại thương còn bao hàm cả
hoạt động chuyển giao công nghệ [81, điều 1, 2, 21 47, 51]. Luật về chính
sách ngoại thương của Bôsnia năm 1998 xác định phạm vi của đạo luật là
điều chỉnh những nhân tố cơ bản của hệ thống xuất, nhập khẩu hàng hóa và
dịch vụ và xác định các điều kiện chung và riêng biệt đối với việc thực hiện
các hoạt động kinh tế ở nước ngoài và đối với việc thực hiện hoạt động kinh

26
tế bởi các tự nhiên nhân và pháp nhân nước ngoài trong lãnh thổ Bôsnia và

pháp lý là các nguồn luật khác nhau điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài như các điều ước quốc tế, luật pháp quốc gia.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VỚI
THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa với thương nhân nước ngoài
Theo hiểu biết chung, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài được coi là đã được xác lập khi thỏa mãn hai điều kiện:
Một là, các bên đạt được sự thỏa thuận các nội dung cần giao dịch trên
tinh thần tự nguyện, thiện chí và trung thực. Sự đạt được thỏa thuận về các
nội dung cần giao dịch trên tinh thần tự do, thiện chí, trung thực có nghĩa là
hợp đồng phải là những thỏa thuận, cam kết phản ánh ý chí của các bên tham
gia quan hệ hợp đồng.
Hai là, sự thỏa thuận mà các bên đạt được phải được thể hiện dưới
một hình thức nhất định phù hợp với quy định của pháp luật hoặc phù hợp với
sự thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng.
Như vậy, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài là quá trình giữa các thương nhân có trụ sở thương mại ở các nước
khác nhau và/hoặc có quốc tịch khác nhau, mà kết quả cuối cùng của quá
trình đó là sự thống nhất ý chí của các bên về các nội dung cần giao dịch
dưới hình thức nhất định.
Qua khái niệm trên, có thể thấy giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài có những nét đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài là quá trình tuyên bố ý chí của các chủ thể trong giao dịch với thương
nhân nước ngoài. Khác với các giao dịch dân sự thông thường hoặc các hợp

28
đồng mua bán hàng hóa trong nước, việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài thường là một quá trình dài.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status