luận văn khoa kinh tế luật Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc - Pdf 27

TÓM LƯỢC
Chương 1: Khóa luận nghiên cứu một cách chi tiết những lý luận cơ
bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa,
đồng thời, làm rõ được các vấn đề có liên quan. Bao gồm: một số khái niệm
cơ bản liên quan đến giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa; cơ sở ban hành
pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và nội dung
pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 2: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Qua đó, rút ra được những bất cập của
pháp luật hiện hành, những khó khăn mà Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc
còn tồn tại trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 3: Qua việc nghiên cứu lý luận pháp luật về vấn đề giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Tuấn
Tám Vĩnh Phúc, đưa ra một số kiến nghị của bản thân nhằm khắc phục
những vấn đề còn tồn tại, hoàn thiện pháp luật, xây dựng khung pháp lý
hoàn chỉnh về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
1
1
LỜI CẢM ƠN
Nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo cũng như giúp sinh
viên nắm bắt được kiến thức thực tế. Trường Đại học Thương mại, khoa Kinh
tế - Luật đã tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập tại các bộ phận pháp
chế trong hệ thống bộ máy quản lý Nhà nước về thương mại (bao gồm các cơ
quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp từ Trung ương đến địa
phương); các tổ chức trọng tài thương mại và các doanh nghiệp tham gia hoạt
động trong lĩnh vực thương mại. Thông qua quá trình đó, sinh viên được củng
cố kiến thức đã học khi ngồi trên ghế nhà trường, đồng thời vận dụng những
kiến thức có được một cách linh hoạt, sáng tạo vào thực tế, tạo hành trang
hữu ích cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Nhân đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Giám đốc Công ty
TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc - cô Nguyễn Thị Tám cùng tập thể các anh chị

cộng hòa ra đời (ngày 02 tháng 09 năm 1945) thì đã có hơn ba mươi năm trải
qua chiến tranh vệ quốc vô cùng khốc liệt. Ngày nay, cả thế giới biết đến Việt
Nam như một bằng chứng về sự thành công trong chuyển đổi kinh tế từ một
nước có nền kinh tế lạc hậu trở thành một nước có nền kinh tế thị trường với
minh chứng: Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 176 quốc gia, có quan hệ
kinh tế với trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, khoảng 80 quốc gia
và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Nền kinh tế Việt Nam ngày
càng phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu hơn, đặc biệt kể từ khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO. Việc mở cửa thị trường
(khi gia nhập WTO) đồng nghĩa với Việt Nam được tiếp cận thị trường hàng
hóa của tất cả các nước thành viên, một thị trường hàng hóa vô cùng rộng
lớn, hứa hẹn gặt hái được nhiều thành công. Việc trao đổi mua bán hàng hóa
diễn ra một cách mạnh mẽ và được không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước
thành viên, các quốc gia trên thế giới thực hiện chủ yếu thông qua hình thức
hợp đồng.
Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa rủi ro của nền kinh tế thị
trường cũng như của các nước, các bên chủ thể trong nền kinh tế chỉ có thể
đạt được khi các giao dịch được giao kết với những điều khoản chặt chẽ, đầy
đủ, chính xác, phù hợp với quy định của pháp luật và lợi ích của các bên. Lúc
này, hơn bao giờ hết hợp đồng được sử dụng một cách phổ biến trong các
hoạt động giao dịch thương mại của các thương nhân. Hợp đồng đóng vai trò
quan trọng trong việc xây dựng hành lang pháp lý đặc biệt cho việc mua, bán,
cung cấp dịch vụ, việc giao thương giữa các thương nhân với nhau được
thuận lợi và bền vững.
Hơn thế nữa, đối với doanh nghiệp, hợp đồng còn là cơ sở pháp lý để
các doanh nghiệp xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Trong một chừng
mực nào đó, hợp đồng cho phép các doanh nghiệp tạo ra một luật lệ riêng,
thông qua các điều khoản của thỏa thuận mà các bên đã giao kết để điều
chỉnh mối quan hệ giữa doanh nghiệp với đối tác. Bên cạnh các quyền và
nghĩa vụ cơ bản mà pháp luật quy định về hợp đồng và đặc biệt là hợp đồng

khung các hoạt động kinh doanh vốn dĩ hết sức mềm dẻo, linh hoạt, năng
động và nhiều sáng tạo.
Những thiếu sót, bất cập, yếu kém của pháp luật về hợp đồng đã gây ra
không ít những khó khăn cho các chủ thể khi tham gia giao kết, thực hiện hợp
đồng với những lỗi đáng ra không nên có. Những lỗi chung mà các chủ thể
thường mắc khi tham gia ký kết, thực hiện hợp đồng thường xoay quanh vấn
đề về hình thức của hợp đồng, ủy quyền trong việc ký kết hợp đồng hay về
thời hiệu khởi kiện tranh chấp. Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết cần phải
tiến hành một cuộc cải cách pháp luật hợp đồng cho thực sự phù hợp với bối
7
7
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang trên đà phát triển sâu rộng, đa dạng và
mạnh mẽ hiện nay.
Nhận thấy tầm quan trọng của pháp luật về hợp đồng cũng như tầm
quan trọng của pháp luật về giao kết hợp đồng trong đó đặc biệt là pháp luật
về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa - vấn đề then chốt quyết định sự
thành công hay thất bại của một nền kinh tế. Vấn đề giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa có được pháp luật Việt Nam quy định một cách chặt chẽ, các
doanh nghiệp Việt Nam có nắm bắt đầy đủ và thực hiện đúng hay không, tôi
đã chọn đề tài: “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Thực tiễn
áp dụng tại Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc” để làm rõ hơn về điều này.
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Với tầm quan trọng không hề nhỏ đối với khả năng tồn tại, phát triển của
các doanh nghiệp cũng như đối với nền kinh tế, đã có không ít các công trình
khoa học, các bài viết, bài báo, dành mối quan tâm đặc biệt nghiên cứu các
vấn đề về hợp đồng (trong đó có vấn đề hợp đồng mua bán hàng hóa). Các
góc độ khác nhau, các cấp độ khác nhau của các công trình nghiên cứu, các
bài viết, bài báo cho thấy một cái nhìn toàn diện hơn về hợp đồng trên nhiều
khía cạnh. Từ tổng thể cho đến chi tiết, có thể nhắc tới một số công trình, bài
viết, bài báo như:

tục kế thừa và phát triển, nghiên cứu sâu hơn pháp luật hợp đồng về mảng
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
9
9
3.Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu
• Trình bày những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh vấn đề giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
• Nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa.
• Đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa.
• Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa.
Đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa. Thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc”.
4.Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm hai đối tượng chính:
- Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thương
mại, điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Thực trạng áp dụng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa tại Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc.
4.2.Mục tiêu:
Khóa luận được xây dựng với mục tiêu làm cho người đọc thấy rõ được
các vấn đề pháp lý về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được quy định
trong một số văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy phạm
pháp luật đó thông qua nghiên cứu, phân tích thực tiễn áp dụng tại một doanh
nghiệp cụ thể. Trên cơ sở phân tích lý thuyết kết hợp phân tích thực tiễn áp
dụng tại một doanh nghiệp cụ thể tìm ra mặt tích cực, mặt hạn chế, các lỗ
hổng, sai, sót của hệ thống pháp luật quy định các vấn đề liên quan đến giao

- Phương pháp điều tra số liệu: Dựa trên nguồn thông tin sơ cấp, thứ
cấp thu thập được từ các nghiên cứu trước đây và từ nguồn thông tin có được
qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc để xây dưng cơ
sở luận cứ và làm minh chứng chứng minh các lập luận đưa ra trong bài là có
căn cứ.
- Phương pháp phân tích: Phân chia đề tài nghiên cứu thành các phần lý
luận, thực trạng, đánh giá giúp cho việc phân tích được dễ dàng và có một cái
nhìn khách quan.
- Phương pháp so sánh: So sánh các quy phạm pháp luật liên quan đến
đề tài nghiên cứu. Đồng thời, so sánh kết quả Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh
Phúc đạt được trong lĩnh vực giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với mục
tiêu ban đầu mà Công ty đã đề ra.
- Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp các quan điểm, các công trình
nghiên cứu, các bài viết, bài báo, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan
đến đề tài nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan nhất.
Qua việc nghiên cứu sẽ tạo được tính mới và tính cấp thiết cho khóa
luận.
11
11
6.Kết cấu khóa luận
Kết cấu khóa luận bao gồm ba chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh điều chỉnh vấn
đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa.
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý về giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa gắn với Công ty TNHH Tuấn Tám Vĩnh Phúc.
CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ GIAO
KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
1.Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề giao kết hợp đồng mua bán

Giao kết hợp đồng có thể hiểu là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa
các bên theo hình thức, nội dung, nguyên tắc, trình tự nhất định, được pháp
luật thừa nhận nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự
1
.
• Khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng:
Căn cứ theo Điều 390 BLDS 2005, đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể
hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên
đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể.
• Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng:
Căn cứ theo Điều 396 BLDS 2005, chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận
toàn bộ nội dung của đề nghị.
2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa
2.1. Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
Với đặc trưng của nền kinh tế thị trường, mua - bán là phương thức chủ
yếu của quá trình lưu thông từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Người trao
đổi hàng hóa có quyền tự do lựa chọn trên thị trường ở ba mặt: tự do lựa
chọn nội dung trao đổi, mua bán; tự do lựa chọn đối tác và tự do lựa chọn giá
cả theo phương hướng thuận mua vừa bán. Hoạt động mua bán hàng hóa
được thực hiện thường xuyên, liên tục và rộng khắp trên cơ sở một kết cấu hạ
tầng cần thiết để hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra được thuận lợi, an toàn
với một hệ thống thị trường ngày càng phát triển đa dạng, mạnh mẽ: Các đối
tác hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều theo đuổi lợi ích của mình; lợi
ích cá nhân trở thành động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế và tự do
cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường, đồng thời là động lực thúc
đẩy sự tiến bộ kinh tế - xã hôi. Trong nền kinh tế hiện nay, hầu hết những giao
dịch nhằm thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên

hàng hóa
2.2.1. Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
 Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo
đức xã hội.
BLDS quy định cho các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm tạo
điều kiện cho các chủ thể có thể thoả mãn nhu cầu vật chất cũng như nhu cầu
tinh thần. Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều
kiện tư cách chủ thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một giao dịch, hợp
đồng nào, nếu muốn. Tuy nhiên, hợp đồng chỉ có hiệu lực pháp luật, được
pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của các bên giao kết hợp đồng phù
14
14
hợp với ý chí của nhà nước. Hay nói cách khác, sự tự do ý chí giao kết hợp
đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định – giới hạn
lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng.
Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện
để kể giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã
hội. Chính vì vậy, trong xã hội ta – xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của
toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá
nhân, tổ chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến những hợp đồng thành
phương tiện bóc lột.
Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ thể phải chú ý tới
quyền, lợi ích của người khác và của toàn xã hội. Tự do của mỗi chủ thể
không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng, của toàn
xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho
sự tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và
trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.
 Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp
đồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình, đồng

kiện chủ thể.
Căn cứ theo các quy định của LTM 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa
có thể được giao kết giữa các bên: Thương nhân với thương nhân hay
thương nhân với cá nhân không phải là thương nhân. Như vậy, một bên chủ
thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa bắt buộc phải là thương nhân, bên còn
lại có thể là thương nhân hoặc không là thương nhân.
1.Chủ thể là thương nhân
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 LTM 2005, thương nhân bao gồm tổ
chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một
cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Trong đó, các tổ chức
kinh tế được thành lập hợp pháp bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty
TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty hợp danh
và công ty cổ phần. Sau khi đăng ký kinh doanh, các tổ chức kinh tế trở thành
thương nhân và có quyền tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích, nhu cầu kinh doanh. Khi giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa, mỗi bên phải cử ra một đại diện hợp pháp của mình để
tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Có thể chia thương nhân thành hai nhóm là thương nhân có tư cách
pháp nhân và thương nhân không có tư cách pháp nhân. Trong đó:
 Thương nhân có tư cách pháp nhân bao gồm:
Công ty TNHH hai thành viên trở lên: người đại diện theo pháp luật của
công ty TNHH hai thành viên trở lên là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc
Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định cụ thể tại Điều lệ công ty.
Công ty TNHH một thành viên: Người đại diện theo pháp luật của công
ty TNHH một thành viên là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty
hoặc Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định tại Điều lệ công ty.
16
16
Công ty cổ phần: Người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Hội đồng
quản trị hoặc Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định tại Điều lệ công ty.

- Ủy quyền thương xuyên: Là loại hình ủy quyền diễn ra trong một thời
gian dài nhằm ký kết nhiều giao dịch, nhiều hợp đồng. Việc ủy quyền thường
17
17
xuyên có thể được ghi nhận trong Điều lệ, quy chế hoặc quy định do thương
nhân ban hành.
- Ủy quyền vụ việc: Là loại hình ủy quyền diễn ra trong một thời gian
ngắn nhằm ký kết một hoặc một số hợp đồng cụ thể.
Người được uỷ quyền chỉ được phép hoạt động trong phạm vi được uỷ
quyền và không được uỷ quyền lại cho người khác.
Ngoài ra, chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương
nhân Việt Nam hay có thể là thương nhân nước ngoài.
2.Chủ thể không phải là thương nhân
Căn cứ vào mục đích sinh lợi, trong rất nhiều trường hợp, tổ chức, cá
nhân không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa khi họ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân.
Khác với bên là chủ thể là thương nhân, bên chủ thể không phải là
thương nhân có thể là mọi chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có
tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân hay cũng có thể là hộ
gia đình, tổ hợp tác, không hoạt động thương mại một cách độc lập, thường
xuyên và liên tục.
2.2.3. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Trình tự giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là quá trình mà trong đó
các bên chủ thể bảy tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thoả
thuận trong việc cùng nhau làm xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với
nhau. Thực chất, đó là quá trình mà hai bên “mặc cả” với nhau về những điều
khoản trong nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa. Quá trình này diễn ra
thông qua hai giai đoạn:

Các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng
được xác định như sau:
Thứ nhất: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là
cá nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân.
Thứ hai: Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên
được đề nghị.
Thứ ba: Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng
thông qua các phương thức khác.
 Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 392 BLDS 2005, bên đề nghị giao kết hợp đồng có
thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi
hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị.
Thứ hai: Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường
hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều
kiện đó phát sinh.
19
19
Khi bên đề nghị thay đổi nội dung của đề nghị thì đề nghị đó được coi
là đề nghị mới.
 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 393 BLDS 2005, trong trường hợp bên đề nghị giao
kết hợp đồng thực hiện quyền huỷ bỏ đề nghị do đã nêu rõ quyền này trong
đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ có hiệu
lực khi bên được đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả
lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
 Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 394 Bộ luật dân sự 2005, đề nghị giao kết hợp đồng
chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận.

thời hạn trả lời.
 Rút lại thông báo trả lời chấp nhận:
Căn cứ theo Điều 400 BLDS 2005, bên được đề nghị giao kết hợp đồng
có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo này đến
trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao
kết hợp đồng.
2.2.5. Địa điểm giao kết hợp đồng
Căn cứ theo Điều 403 Bộ luật dân sự 2005, địa điểm giao kết hợp đồng
dân sự do các bên thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm giao kết
hợp đồng dân sự là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của pháp nhân đã đưa
ra đề nghị giao kết hợp đồng.
2.2.6. Thời gian giao kết hợp đồng
Giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng trong pháp luật hợp đồng
bởi nó giúp ta xác định được khi nào hợp đồng được xác lập. Là một hợp đồng
cụ thể trong số các hợp đồng cơ bản của hợp đồng thương mại, do đó, hợp
đồng mua bán hàng hóa cũng tuân theo những quy định của BLDS 2005 về
vấn đề thời điểm giao kết hợp đồng.
Căn cứ theo Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Hợp đồng dân sự
được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao
kết; hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà
bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoả thuận im lặng là sự trả lời
chấp nhận giao kết; thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các
bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng và thời điểm giao kết hợp đồng
bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản.
2.2.6. Hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao
kết hợp đồng. Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù
hợp khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong
khuôn khổ pháp luật cho phép.
21

các giao dịch mua bán hàng hóa quan trọng, có giá trị lớn hay các hợp đồng
mua bán hàng hóa có độ nhạy cảm cao.
Ngoài hai hình thức nói trên, hợp đồng mua bán hàng hóa còn có thể
được giao kết bằng một hình thức khác đó là hình thức hành vi. Theo đó, hợp
đồng mua bán hàng hóa sẽ được giao kết miễn các hành vi đó chứa đựng
những thông tin mà các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa đó hiểu và thực
22
22
hiện trên thực tế. Giống với hình thức miệng, hợp đồng mua bán hàng hóa
được giao kết bằng hình thức hành vi có giá trị pháp lý không cao, dễ xảy ra
tranh chấp.
2.2.7. Nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chính là nội dung hợp
đồng mua bán hàng hóa. Do đó, các quy định pháp luật về nội dung hợp
đồng mua bán hàng hóa cũng chính là các quy định pháp luật về nội dung
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Nội dung của hợp đồng là tổng hợp các điều khoản do các bên thỏa
thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Do đó, nội
dung của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể hiểu là tổng hợp các điều khoản
do các bên thỏa thuận, các điều khoản đó xác định những quyền và nghĩa vụ
cụ thể của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Căn cứ theo Điều 402 BLDS 2005 quy định nội dung của hợp đồng:
“Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung
sau đây:
1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc
không được làm.
2. Số lượng, chất lượng.
3. Giá, phương thức thanh toán.
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên.

thuận những điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thoả thuận
và được thực hiện như pháp luật đã quy định. Khác với điều khoản cơ bản,
các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng tới quá trình giao kết hợp
đồng. Để giảm bớt những công việc không cần thiết trong giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa, các bên có thể không cần thoả thuận và không cần ghi
vào văn bản hợp đồng những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các
bên vẫn phải thực hiện những điều khoản đó. Vì vậy, nếu có tranh chấp về
những nội dung này thì quy định của pháp luật sẽ là căn cứ để xác định quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
1
.
Loại thứ ba: Điều khoản tùy nghi
Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và
những điều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa các bên còn có thể thoả thuận để xác định thêm một số điều
khoản khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng mua bán hàng háo được cụ
thể hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp
đồng. Các điều khoản này được gọi là điều khoản tùy nghi
2
.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết
hợp đồng tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ
dân sự của các bên. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được
phép lựa chọn một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng,
24
24
sao cho thuận lợi mà vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia
3
. Dựa
vào tính chất các điều khoản tùy nghi có thể chia ra làm hai loại là điều khoản

quyền cũng như chịu trách nhiệm quản lý của Nhà nước theo nguyên tắc tự
do kinh doanh.
3.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật hay còn gọi là nguyên tắc bính
đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
25
25

Trích đoạn Nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hộ CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH TUẤN TÁM VĨNH PHÚC Về phía nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status