Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Luật Trường Đại Học Thương Mại và sự
đồng ý của Cô giáo hướng dẫn Thạc sĩ Đỗ Hồng Quyên, em đã thực hiện đề tài: “Pháp
luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại 2005. Thực tiễn
áp dụng tại công ty TNHH NHẬT- VIỆT”.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã tận
tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại
Trường Đại Học Thương Mại.
Xin chân thành cảm ơn Cô giáo hướng dẫn Thạc sĩ Đỗ Hồng Quyên đã hết lòng
hướng dẫn tận tình, chu đáo cho em những kiến thức quý báu để thực hiện đề tài khóa
luận tốt nghiệp này.
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hậu GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
1
1
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
MỤC LỤC
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
2
2
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
3
3
hàng hóa tại công ty còn nhiều thiếu sót. Do đó cần phải đưa ra giải pháp để giúp công
ty TNHH NHẬT_ VIỆT nói riêng cũng như các công ty khác nói chung trong việc
thực hiện hợp đồng để đạt được hiệu quả trong kinh doanh.
2.Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là bộ phận pháp luật có vị trí quan
trọng trong pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam. Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng
hóa được hình thành và phát triển với các quy định tại Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế
năm 1989( đã hết hiệu lực) và đặc biệt sau đó là Bộ luật Dân sự năm 1995( đã hết hiệu
lực), Luật Thương mại 1997( đã hết hiệu lực), và hai văn bản pháp luật hiện hành là
Luật Thương mại 2005( LTM 2005) và Bộ luật Dân sự 2005( BLDS 2005). Vấn đề
pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu, dưới những góc độ khác nhau.
Trên thực tế đã có nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ… Nghiên cứu các đề tài
liên quan đến hợp đồng, như đề tài:
- “Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
luận án phó tiến sỹ khoa học luật học năm 1996 của TS. Phạm Hữu Nghị.
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
5
5
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
- “Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài- Kinh
nghiệm so sánh với luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp luật
Việt Nam” luân văn Thạc sỹ năm 2012 của Trương Thị Bích.
- “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam”, luân án tiến sỹ luật
học năm 2010 của Lê Minh Hùng.
- “Quyền tự do giao kết hợp đồng trong hoạt động thương mại ở Việt Nam”, luận án
Tiễn sĩ luật học năm 2006 của Phạm Hoàng Giang.
- “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu”,luận án
tiến sỹ năm 2002 của TS. Lê Thị Bích Thọ.
- “Tự do giao kết hợp đồng - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” luận văn Thạc sỹ năm
hợp đồng là rất quan trọng đối với công ty, tuy nhiên do hạn chế về tổ chức quản lý
của công ty nên công ty không có bộ phận pháp chế, còn chưa chú trọng chuyên sâu
tìm hiểu về vấn đề này.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu pháp luật về hợp đồng, nhưng nhu cầu
việc tiếp tục nhận thức các quy định của pháp luật hiện hành về pháp luật mua bán
hàng hóa còn nhiều. Tất cả những thành công của các công trình nghiên cứu nêu trên
đều là cơ sở cho em thực hiện nghiên cứu, nhằm hướng tới nhận thức thêm, nhận thức
sâu hơn, nhận thức đầy đủ hơn một số khía cạnh pháp luật hợp đồng, cụ thể là pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hóa trong luật thương mại.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhìn nhận cả về lý luận và thực tiễn, em chọn đề
tài: “Pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật Thương mại
2005.Thực tiễn áp dụng tại công ty TNHH NHẬT- VIỆT”.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề liên quan đến việc thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo luật Thương mại 2005, thực tiễn áp dụng tại
công ty TNHH NHẬT- VIỆT.
4.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát
thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn áp dụng Luật Thương mại trong hợp đồng
mua bán hàng hóa tại doanh nghiệp, để có thể:
- Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của Luật thương
mại về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên cũng như thực tiễn thi hành các quy
định trong luật này;
- Đánh giá việc thực hiện Luật thương mại 2005 trong hợp đồng mua bán hàng hóa của
doanh nghiệp;
- Lập luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu lực của pháp luật cũng như tính
hiệu quả của hợp đồng mua bán hàng hóa kinh doanh của doanh nghiệp.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung và hướng tiếp cận: Tên đề tài nghiên cứu luận văn là : “Pháp luật về
đã thu thập các tài liệu của Công ty TNHH NHẬT- VIỆT như: Điều lệ, các Quy chế,
quy trình, Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2012-
2014, các hợp đồng mua bán hàng hóa của công ty.
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, em
phân tích đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
được thực hiện trong Chương 1 và thực trạng áp dụng chúng trong giao kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty TNHH NHẬT- VIỆT.
Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn,
tìm ra được bản chất, quy luật vận động của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
nói chung cũng như Luật thương mại nói riêng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
8
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.
Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài ngoài tóm lược, lời
cảm ơn, lời mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung, thì khóa luận
gồm có 3 chương:
Chương 1. Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
hàng hóa
Chương 2. Các quy định của Luật thương mại 2005 về thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH NHẬT- VIỆT
Chương 3. Một số đề xuất cho việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua
bán hàng hóa và áp dụng quy đinh của Luật thương mại 2005 tại công ty TNHH
NHẬT- VIỆT
Kết luận
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
9
9
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
sự phát triển của đất nước
a. Lịch sử hình thành pháp luật về hợp đồng
Đầu tiên là hợp đồng trong Bộ Luật Hồng Đức- Bộ luật được coi là nổi bật nhất,
quan trọng nhất và có vai trò rất đặc biệt trong lịch sử pháp quyền phong kiến Việt
Nam. Hợp đồng thời này chủ yếu được quy định điều chỉnh trong vấn đề về hợp đồng
ruộng đất, sở hữu ruộng đất. Vấn đề này được quy định tại Chương Điền sản. Trong bộ
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
10
10
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
luật Hồng Đức, do đã có chế độ lộc điền- công điền tương đối toàn diện về vấn đề
ruộng đất công nên trong bộ luật này quyền sở hữu nhà nước về ruộng đất chỉ được thể
hiện thành các chế tài áp dụng đối với các hành vi vi phạm chế độ sử dụng ruộng đất
công: không được bán ruộng đất công( Điều 342), không được chiếm ruộng đất công
quá hạn mức( Điều 343)…… Bên cạnh đó việc bảo hộ quyền sở hữu tư nhân, hợp
đồng về ruộng đất tư cũng được quy định rõ ràng. Chẳng hạn: “ Điều 357. Nếu xâm
phạm chiếm bờ cõi ruộng đất, nhổ bỏ mốc giới của người khác, hay tự mình lại lập ra
mốc giới, thì xử biếm hai tư”.
“ Điều 356. Những tá điền cấy nhờ ruộng ở nhà của người khác, mà dở mặt tranh
làm của mình, thì phải phạt 60 trượng, biếm hai tư; nếu người chủ ruộng đất có văn tự
xuất trình thì người tá điền phải bồi thường gấp đôi số tiền ruộng đất, không có văn tự
thì trả nguyên tiền thôi”.
“Điều 355. Người nào ức hiếp để mua mua ruộng đất của người khác thì phải
biếm hai tư và cho lấy lại tiền mua”….[I,6, tr133]
Từ những quy định trên, có thể thấy bộ luật đã điều chỉnh ba loại hợp đồng về
ruộng đất:
• Mua bán ruộng đất: hợp đồng mua bán ruộng đất được coi là hợp pháp khi có đủ cả
hai điều kiện: ruộng đất đem ra bán là của mình và không được ức hiếp để mua ruộng
đất;
• Cầm cố ruộng đất: Đây là loại hợp đồng rất thông dụng, vì ruộng đất đối với nông dân
thông qua ngày 10/05/1997 cũng có những quy định về hợp đồng trong một số hành vi
thương mại.
Ngày 14/06/2005, Bộ luật Dân sự mới đã được Quốc hội khóa XI thông qua và
bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Bộ luật Dân sự 2005 được ban hành thay thế
cho Bộ luật Dân sự 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989. Đây được coi là đạo
luật chung, áp dụng cho tất cả các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, tạo sự thống
nhất về pháp luật, đặc biệt trong việc điều chỉnh những quan hệ hợp đồng.
Luật Thương mại 1997 cũng được thay thế bởi Luật Thương mại mới được Quốc
hội thông qua ngày 14/06/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. Đây là nguồn luật
chính điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại.
b. Hợp đồng mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 2005
Thực tế vài năm trở lại đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới cơ chế
kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh. Quá trình đổi
mới kinh tế ở nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu nổi bật. Tuy nhiên, nước
ta gặp phải những vấn đề trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này đòi hỏi
nước ta cần phải hoàn chỉnh khung pháp lý về Thương mại để có thể điều chỉnh hoạt
động đó đúng đường lối, chính sách của Đảng cũng như theo kịp xu thế phát triển của
thời đại.
Đứng trước yêu cầu đó, ngày 14-11-2005, Quốc hội đã ban hành Luật Thương
mại( LTM) số 36/ 2005- QH 11 quy định về hoạt động thương mại( chính thức có hiệu
lực từ ngày 01/01/2006, thay thế LTM năm 1997) nhằm tạo thành một hành lang pháp
lý hoàn chỉnh cho các thương nhân trong hoạt động thương mại. Cũng giống như Luật
Thương mại năm 1997, Luật Thương mại 2005 cũng quy định khá đầy đủ và chi tiết
về mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa.
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
12
12
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thể
Theo quy định tại Điều 401 BLDS 2005: Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể
giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi vụ thể. Tại điều 24 LTM 2005 cũng
có quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa: Hợp đồng mua bán hàng
hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
13
13
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập
thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Chủ yếu các hợp đồng trong hoạt
động thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa được thành lập bằng văn bản, bởi việc
giao kết hợp đồng bằng văn bản mang tính đảm bảo cao hơn so với các hình thức khác.
Và do hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra là nhằm mục đích sinh lợi nên việc ký kết
hợp đồng phải được giao kết bằng văn bản.
1.2.3. Đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa
Căn cứ Khoản 2- Điều 3- Luật Thương mại 2005: “ Hàng hóa bao gồm:
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b) Những vật gắn liền với đất đai”.[ I,3,tr 9].
Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa được phép giao dịch,
không nằm trong đối tượng hàng hóa bị cấm. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng
hóa trở nên phong phú bao gồm nhiều loại, có thể là vật hữu hình hay vô hình, động
sản hay bất động sản… đều là những đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa. Mỗi
đối tượng đều có hình thức trao đổi khác nhau, nhưng vẫn phải tuân theo những
nguyên tắc chung trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
1.2.4. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện
quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.
Luật Thương mại 2005 không quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao
gồm nội dung bắt buộc nào. Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng, một hợp hợp đồng mua bán
hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả,
người mua đã trả tiền và trong hợp đồng các bên không thỏa thuận về địa điểm giao tài
sản.
+ Điều khoản tùy nghi là những điều khoản được dựa vào hợp đồng, căn cứ vào
khả năng, nhu cầu và sự thỏa thuận của hai bên.
Điều 402- BLDS 2005 có quy định: “ Tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có
thể thỏa thuận về những nội dung sau đây:
1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phỉa làm hoặc không
được làm;
2. Số lượng, chất lượng;
3. Giá, phương thức thanh toán;
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên;
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
7. Phạt vi phạm hợp đồng;
8. Các nội dung khác”.
Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng mà các bên có thể thỏa thuận hay
không thỏa thuận tất cả các điều ghi trên. Các bên cũng có thể bổ sung thêm vào hợp
đồng những điều khoản không có quy định nhưng các bên cảm thấy cần thiết. Ví dụ
như hiệu lực của hợp đồng hay giá trị tồn tại pháp lý của hợp đồng; một số vấn đề liên
quan đến vận chuyển hàng hóa hay giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm khi có tình
huống bất khả kháng…
Khi xem xét về nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa chúng ta có thể dựa
trên các quy định của Bộ luật dân sự. Theo đó trong hợp đồng mua bán hàng hóa các
bên có thể thỏa thuận những nội dung chủ yếu sau:
Đối tượng của hợp đồng:
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
15
15
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo Luật Thương mại
Phương thức thanh toán:
Phương thức thanh toán là các cách thức mà bên mua và bên bán thỏa thuận, theo
đó bên mua phải thanh toán cho bên bán tiền hàng đã mua theo phương thức nhất định.
Có nhiều phương thức thanh toán nhưng việc lựa chọn phương thức nào cũng xuất
phát từ nhu cầu của người bán là thu tiền nhanh đầy đủ và yêu cầu của người mua là
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
16
16
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
nhận được hàng đúng số lượng, chất lượng, thời hạn như đã thỏa thuận và không có rủi
ro vào sự thỏa thuận giữa các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.
Sự lựa chọn phương thức thanh toán cũng căn cứ vào mức độ an toàn của phương thức
thanh toán và phí tổn cho việc thanh toán.
Thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng:
Thời gian thực hiện hợp đồng là khoảng thời gian mà bên bán phải hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng cho bên mua theo đúng đối tượng của hợp đồng, địa điểm giao
hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng thời gian,
địa điểm và trả tiền cho bên bán. Các bên có thể thỏa thuận với nhau sao cho hợp lý
với tình hình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi bên.
Địa điểm giao hàng có thể do hai bên thỏa thuận, phù hợp với điều kiện thực tế,
thuận tiện và có lợi cho cả hai bên. Khi thỏa thuận cần thỏa thuận cụ thể địa chỉ giao
hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương tiện vận chuyển,
đảm bảo an toàn cho phương tiện. Theo quy định của pháp luật, địa điểm giao hàng
được thỏa thuận như sau:
Nếu như quá trình vận chuyển hàng hóa từ bên bán đến bên mua qua nhiều trung gian
vận chuyển thì bên bán phải giao hàng cho bên trung gian vận chuyển đầu tiên đúng
thỏa thuận. Và sau khi bên bán giao hàng cho bên vận chuyển đầu tiên, mặc dù bên
mua chưa nhận được hàng hóa nhưng nghĩa vụ giao hàng của bên bán đã thực hiện
xong và mọi trách nhiệm sự hư hỏng hàng hóa sẽ do bên trung gian gánh vác.
Nếu như lúc ký hợp đồng, bên bán biết địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng
2.1.2. Quy định của Luật thương mại 2005 về thực hiện mua bán hàng hóa
2.1.2.1. Giao hàng và chứng từ có liên quan
a. Giao hàng
- Điều 34- LTM 2005 quy định:
1. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng,
chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy trình khác trong hợp đồng.
2. Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và
chứng từ có liên quan theo quy định của Luật này”.
Chiếu theo Luật thì bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp
đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy trình khác
trong hợp đồng. Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể thì bên bán có nghĩa vụ giao
hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật. Nếu hợp đồng mua bán hàng hóa
mà phải qua người vận chuyển thì bên bán phải ký hợp đồng vận chuyển, hợp đồng
bảo hiểm rủi ro trên đường vận chuyển. Nếu hợp đồng quy định bên bán không ký hợp
đồng bảo hiểm mà bên mua ký thì bên bán phải cung cấp cho bên mua những thông tin
về hàng hóa để họ tiến hành ký hợp đồng bảo hiểm( Khoản 3- Điều 36- LTM 2005).
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
18
18
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
Mọi vấn đề liên quan đến giao hàng các bên có thể thỏa thuận ghi vào hợp đồng.
Nếu những vấn đề này không được ghi vào hợp đồng thì sẽ theo quy định chung của
pháp luật.
b. Địa điểm giao hàng
Chiếu theo Điều 35- LTM 2005 có quy định: Các bên có thể thỏa thuận về địa
điểm, thời hạn và phương thức giao hàng tùy theo tính chất của hàng hóa trong hợp
đồng khi đã thỏa thuận về địa điểm giao hàng thì các bên phải tôn trọng thỏa thuận và
phải thực hiện đúng thỏa thuận đó. Bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng, bên mua phải
có nghĩa vụ nhận hàng đúng địa điểm đã thỏa thuận.
Trong trường hợp không thỏa thuận địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng
thanh toán…Khi đó bên mua phải tuân thủ đúng các phương thức thanh toán và thực
hiện thanh toán theo trình tự , thủ tục theo thỏa thuận. Nếu các bên không có sự thỏa
thuận này thì sẽ tuân theo quy định của pháp luật, điều này được quy định tại LTM
2005: Xác định địa điểm thanh toán theo quy định tại Điều 54, thời hạn thanh toán
theo quy định tại Điều 55 và khoản 3 Điều 50.
Trong trường hợp bên mua hàng vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng thì
phải trả lãi trên số tiền trả chậm đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường
tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian trả chậm, khi bên vị phạm yêu cầu,
trừ trường hợp có thỏa thuận khác Điều 306 LTM 2005. Khi người mua vị phạm nghĩa
vụ thanh toán thì người bán cũng có thể căn cứ vào Khoản 4 Điều 51, Điều 308 về tạm
ngưng thực hiện hợp đồng, Điều 312 về hủy bỏ hợp đồng, Điều 321về hình thức xử lý
hành vi vi phạm pháp luật thương mại.
2.1.2.4. Chuyển quyền sở hữu và quyền rủi ro đối với hàng hóa từ người bán
sang người mua
Chuyển rủi ro tại Điều 57 đến Điều 61 LTM 2005 có quy định: Vấn đề chuyển
rủi ro trong việc mua bán hàng hóa và một vấn đề cơ bản mà các bên cần nắm. Các
bên cần thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro để tránh phát sinh tranh chấp. Trong
hợp đồng không có thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro, nếu bên bán có nghĩa vụ
giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định, thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng
được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho bên mua. Nếu hợp đồng
không có quy định về việc vận chuyển hàng hóa cũng như địa điểm giao hàng nhất
định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua khi hàng
hóa đã được chuyển giao cho người vận chuyển đầu tiên. Trong các trường hợp cụ thể
thời điểm chuyển rủi ro được pháp luật quy định chi tiết hơn.
Chuyển quyền sở hữu tại Điều 62 LTM 2005 có quy định: Việc chuyển quyền sở
hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua là do hai bên thỏa thuận hoặc nếu không có
thỏa thuận thì quyền sở hữu được chuyển sang người mua là tại thời điểm giao hàng.
Bên bán phải bảo đảm quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị
tranh chấp bởi bên thứ ba; hàng hóa đó phải hợp pháp; việc chuyển giao hàng hóa là
hợp pháp.
tự sửa chữa khuyết tật của hàng hóa và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý.
- Bên bị vi phạm phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng nếu bên vi phạm đã thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Phạt vi phạm:
Theo Điều 300- LTM 2005 quy định: “ Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu
cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có
thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của Luật thương mại”.
Theo Điều 301- LTM 2005 : “ Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc
tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không
quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy đinh tại Điều
266 của Luật này”. Như vậy, theo quy đinh của LTM 2005 thfi vấn đề phạt vi phạm
hợp đồng là do các bên thỏa thuận tuy nhiên không được vượt quá 8% giá trị phần
nghĩa vụ hợp đồng, trừ trường hợp vi phạm hợp đồng dịch vụ giám định.
Buộc bồi thường thiệt hại:
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
21
21
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
Bồi thường thiệt hại là việc buộc bên vi phạm trả tiền bồi thường những tổn thất
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn
thất thực tế, trực tiếp mà bên vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi
trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm( Điều
300 và Điều 301- LTM 2005).
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng: Tất cả những hành vi không theo đúng cam kết trong
hợp đồng đều bị coi là vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, không phải tất cả những hành vi
ấy đều dẫn đến việc áp dụng hình thức bồi thường thiệt hại. Chỉ những hành vi nào
trực tiếp dẫn đến những thiệt hại vật chất mà bên kia phải gánh chịu mới tạo thành cơ
sở của hình thức bồi thường thiệt hại.
- Có thiệt hại thực tế: Theo Điều 304- LTM 2005 thì những thiệt hại này phải là thiệt
đã thỏa thuận.
Việc hủy hợp đồng sẽ dẫn đến các hậu quả pháp lý sau:
- Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng. Hợp
đồng bị hủy sẽ không còn hiệu lực kể từ thời điểm giao kết.
- Mỗi bên có quyền đòi hỏi lại lợi ích cho việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình
theo hợp đồng. Nếu do việc hủy hợp đồng mà các bên đều có nghĩa vụ bồi hoàn thì
nghĩa vụ của họ phải được thực hiện đồng thời. Nếu không thể hoàn trả được bằng
chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.
- Quyền đòi bồi thường thiệt hại do hủy hợp đồng thuộc về bên bị vi phạm( Điều 314-
LTM 2005).
*Vi phạm hợp đồng do tình huống bất khả kháng
Theo quy định tại điểm b, Khoản 1- Điểu 294- LTM 2005 về các trường hợp
miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm, theo đó bên vi phạm hợp đồng sẽ được
miễn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng. Điều này có nghĩa là
dù hợp đồng có quy định hay không thì khi xảy ra sự kiện bất khả kháng dẫn đến việc
vi phạm hợp đồng, bên vi phạm vẫn được miễn trách nhiệm.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường
trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết
và khả năng cho phép.
Theo đó, để xem là bất khả kháng thì một sự kiện cần thỏa mãn 3 nội dung sau:
- Thứ nhất là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng. Tức là sự kiện nằm ngoài
phạm vi kiểm soát của bên vi phạm hợp đồng như các hiện tượng tự nhiên, bão lũ…
- Thứ hai là sự kiện xảy ra không thể dự đoán trước được.
- Thứ ba là sự kiện xảy ra mặc dù hậu quả để lại không thể khắc phục được dù đã áp
dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép, là sự kiện mà chúng ta không thể
tránh được về mặt hậu quả.
Để được áp dụng miễn trừ do sự kiện bất khả kháng thì bên có hành vi vi phạm
phải thông báo bằng văn bản cho bên kia đồng thời chứng minh được sự cố dẫn đến vi
phạm hợp đồng thỏa mãn 3 điều kiện trên.
Quy định tại Điều 296- LTM 2005: Khi xảy ra trường hợp bất khả kháng, các
chứng nhận ISO về quản lý chất lượng sản phẩm vào ngày 01/01/2000
Lấy biểu tượng làm thương hiệu cho công ty.
Công ty được thành lập theo quyết định số 073843 của sở kế hoạch đầu tư thành
phố Hải Phòng và được cấp giấy phép kinh doanh vào ngày 29/12/1999 và chính thức
đi vào hoạt động ngày 01/01/2000.
Vốn điều lệ: 35.000.000.000 đ
2.2.1.2. Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, thị trường của công ty TNHH NHẬT-
VIỆT
a. Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của công ty
Công ty TNHH NHẬT- VIỆT kinh doanh vật tư và sản phẩm giầy dép, thiết bị
máy móc xây dựng và giao thông; Dịch vụ Xuất nhập khẩu, xúc tiến thương mại và
đầu tư trong nước và nước ngoài; Sản phẩm sản xuất giầy dép
b. Thị trường của công ty
GVHD: Th.S Đỗ Hồng Quyên SVTH: Nguyễn Thị Hậu
24
24
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kinh tế - Luật
Về mặt thị trường, Công ty trách nhiệm hữu hạn NHẬT-VIỆT đã tham gia vào
thị trường Việt Nam và một số thị trường khác như: Nhật Bản, Bắc Mỹ,Ca-na-đa,
Trung quốc, Chủ yếu, NHẬT-VIỆT quan tâm trước hết đến thị trường nội địa.Trước
năm 2006, mỗi năm NHẬT-VIỆT sản xuất hàng triệu đôi giày,dép, túi, cặp trong đó
80% phục vụ cho thị trường trong nước. Từ năm 2007, nắm bắt được nhu cầu thị
trường NHẬT-VIỆT đầu tư mở rộng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất, nâng công suất
lên hơn gấp đối so với trước. NHẬT-VIỆT đã thiết lập được mạng lưới phân phối sản
phẩm từ Bắc vào Nam, với 18 tổng đại lý, mức tiêu thụ khá lớn.
c. Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
+ Tổng diện tích đất đai: 3.934,4 m
2
gồm:
- Khu nhà A với tổng diện tích: 2.482,34 m