Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
1 Đề tài:
“Pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch và thực
tiễn áp dụng tại công ty TNHH nhà nước một
thành viên Thăng Long”
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các giao dịch kinh tế diễn ra ngày
càng sôi động trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với sự phát triển đó
thì nhu cầu tất yếu là cần phải có một cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm cho việc
thực hiện các giao dịch này. Hợp đồng là một là một lựa chọn hàng đầu đối với
các nhà đầu tư. Hiện nay, đa số các giao dịch đều được cụ thể hóa dưới hình
thức hợp đồng, nó là căn cứ nhằm ràng buộc các bên vào những gì mà họ đã
cam kết, để khi có tranh chấp xảy ra thì đó là một trong các căn cứ quan trọng
thương mại. Do hoạt động du lịch của Công ty TNNHH Nhà nước một thành
viên Thăng Long GTC là tương đối rộng nên trong phạm vi hạn hẹp của bài báo
cáo chuyên đề này tôi chỉ đề cập đến Những hợp đồng dịch vụ du lịch
mang bản chất là hợp đồng dân sự ( tức là những hợp đồng du lịch
được ký kết giữa cá nhân khách du lịch ( người tiêu dùng dịch vụ du lịch) với
một bên là đại diện Công ty TNHH Nhà nước Thăng Long GTC
Nội dung chuyên đề: “PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ DU
LỊCH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT
THÀNH VIÊN THĂNG LONG -GTC”
Bài viết được chia làm 3 phần lớn là :
Chương I. Pháp luật về hợp đồng dịch vụ du lịch.
Chương II. Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ du lịch
tại Công ty TNHH Nhà nước Thăng Long GTC.
Chương III. Nhận xét và một số kiến nghị.
Để bài viết được thành công tôi rất hi vọng nhận được sự giúp đỡ của cán
bộ công ty và giáo viên hướng dẫn thực tập chuyên đề.
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
4
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
5
“ Tự chúng hàng hoá không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau
được. Muốn cho những vật đó trao đổi được với nhau, thì những người giữ
chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong hiện vật đó”.
(1)
Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận của các
chủ thể kinh doanh theo nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng. Nhà nước chỉ
có thể áp dụng pháp luật để tác động vào các quan hệ hợp đồng để đảm bảo lợi
ích chính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó và lợi ích chính
đáng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó và lợi ích của toàn xã hội.
Hợp đồng là công cụ, là cơ sở để xây dựng và thực hiện kế hoạch của
chính các chủ thể kinh doanh, làm cho các kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ có
thể được thực hiện nếu người sản xuất mua được nguyên vật liệu và kí được hợp
đồng tiêu thụ sản phẩm của mình. Đồng thời hợp đồng cũng được cụ thể hoá,
chi tiết hoá kế hoạch sản xuất mua bán, giá cả, thời gian giao hàng… Như vậy
nhu cầu sản xuất kinh doanh là do người sản xuất kinh doanh quyết định và thỏa
thuận với khách hàng nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh và thu lợi nhuận.
Thông qua việc đàm phán kí kết hợp đồng, người sản xuất có thể nắm bắt
được nhu cầu của thị trường về sản phẩm của mình và kiểm tra tính hiện thực
của kế hoạch sản xuất kinh doanh có phù hợp với nhu cầu thị trường hay qua
quá trình kí kết hợp đồng các doanh nghiệp chủ động cân nhắc tính toán chênh
lệch giữa chi phí và hiệu quả kinh tế của phương án kinh doanh.
Thông qua hợp đồng mà Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết các quan hệ
kinh tế, xã hội, hướng các quan hệ phát triển trong trật tự pháp luật. Khi hợp
Như vậy tự do kinh doanh không có nghĩa là muốn làm gì thì làm mà nó
phải đảm bảo sự tuân thủ pháp luật. Mọi thành phần kinh tế trong xã hội đều
bình đẳng trước pháp luật, chịu sự quản lý của Nhà nước. Mặc dù, mọi chủ thể
trong nền kinh tế khi có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi ( khi thoả
mãn những điều kiện do pháp luật quy định) theo quy định của pháp luật thì đều
có quyền tham gia giao kết hợp đồng kinh tế nhằm mục đích nhất định mà
không ai có quyền ngăn cản. Bằng ý chí tự do của mình, các chủ thể có quyền
giao kết những hợp đồng đã được pháp luật quy định cụ thể cũng như những
hợp đồng khác mà pháp luật chưa có quy định. Khi tham gia vào quá trình ký
kết hợp đồng các chủ thể được tự do thể hiện ý chí của mình, tự do đưa vào hợp
đồng những nội dung, điều khoản có lợi nhất cho mình để đảm bảo khả năng
thực hiện hợp đồng và giành được ưu thế khi có tranh chấp xảy ra
Hơn nữa tại Điều 50 Bộ luật dân sự 2005 cũng đã ghi nhận quyền tự do kinh
doanh:
(1)
Điều 15 Hiến pháp 1992
(2)
Điều 57 Hiến pháp 1992
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
7
“Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Cá nhân có quyền lựa chọn lĩnh vực, hình thức, ngành nghề kinh doanh, lập
doanh nghiệp, tự do giao kết hợp đồng, thuê lao động và các quyền khác phù
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
8
vừa có nghĩa vụ tôn trọng pháp luật và đạo đức xã hội.
Lợi ích cộng đồng (được quy định bằng pháp luật) và đạo đức xã hội được
coi là “sự giới hạn” ý chí tự do của mỗi chủ thể trong việc giao kết hợp đồng.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, tính cộng đồng và đạo đức xã hội không
cho phép tất cả các cá nhân được tự do ý chí tuyệt đối để biến các hợp đồng
thành phương tiện bóc lột.
Vì vậy, để bảo đảm cho một nền kinh tế phát triển bền vững, ổn định và
đặc biệt là hiện nay khi nước ta đã ra nhập WTO thì cần phải có một hành lang
pháp lý thông thoáng và đủ mạnh để làm kim chỉ nam cho việc giao kết và thực
hiện hợp đồng nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng cho cả doanh nghiệp trong
và ngoài nước nhưng đồng thời cũng ngăn chặn được các hành vi lợi dụng sức
mạnh của doanh nghiệp nước ngoài nhằm chèn ép các doanh nghiệp trong nước.
Hiện nay, hầu hết các quan hệ kinh tế đều được thực hiện thông qua hợp đồng
nên việc ban hành pháp luật về hợp đồng là hết sức cần thiết trong giai đoạn
hiện nay nhằm đáp ứng các yêu cầu khách quan của nền sản xuất hàng hoá, vì
khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển thì nhu cầu trao đổi hàng hoá giữa
các tổ chức sản xuất, kinh doanh với nhau ngày càng gia tăng. Điều này không
tránh khỏi việc cần phải có hình thức, biện pháp để ghi nhận, bảo vệ quyền lợi
của các bên tham gia vào việc trao đổi những hàng hoá đó. Chính vì vậy việc
ban hành pháp luật về hợp đồng trong đó nêu rõ những thoả thuận của các bên
phải thực hiện và việc giải quyết nếu có những hành vi vi phạm các thoả thuận
đó.
1.1.3. Nguyên tắc điều chỉnh bằng pháp luật đối với hợp đồng.
Trong quan hệ hợp đồng, khi giao kết các bên tham gia có vai trò quan
trọng trong việc xác định xem hợp đồng đó áp dụng luật nào để điều chỉnh.
Nguyên tắc điều chỉnh đối với các quan hệ hợp đồng có thể do các bên tự
bản của chuyên ngành du lịch thì áp dụng Luật du lịch 2005, Ngoài ra hoạt động
du lịch còn liên quan đến hoạt đồng xuất nhập cảnh của người và hành lý nên
hợp đồng dịch vụ du lịch còn chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh xuất nhập cảnh
năm 2000.
1.2. PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG.
1.2.1. Hợp đồng dân sự.
1.2.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng dân sự.
1.2.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng dân sự.
Hợp đồng ra đời từ nhu cầu thực tế của hoạt động sản xuất kinh doanh và
lưu thông hàng hoá, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế quốc
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
10
dân.
Hợp đồng bảo đảm cho việc duy trì một nền kinh tế thị trường vận hành
đúng quy luật. Trong nền kinh tế hàng - tiền thì mọi thoả thuận giữa các bên
trong quan hệ kinh tế đều phải hết sức rõ ràng và minh bạch có như vậy mới bảo
đảm cho việc thực hiện hợp đồng và là căn cứ cho việc xác định trách nhiệm
của các bên khi xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng.
Từ vai trò quan trọng đó của hợp đồng thì ở mọi Nhà nước đều có những
quy định về hợp đồng nhằm đảm bảo tính thống nhất trong việc áp dụng , tránh
tình trạng các bên tuỳ tiện đưa vào hợp đồng những nội dung vi phạm pháp luật
và trái với nguyên tắc hoạt động của Nhà nước.
Theo quy định của bộ luật dân sự năm 2005, tại điều 388 hợp đồng được
hiểu như sau: “ Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về viêc xác
lập, thay đổi chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
(1)
. Hợp đồng dân sự là một
giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận
để thay đổi chấm dứt các nghĩ vụ đó. Hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp
đồng dân sự là hai khái niệm không đồng nhất với nhau. Hợp đồng dân sự theo
nghĩa chủ quan là một quan hệ được hình thành từ sự thoả thuận của các bên để
thoả mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự. Còn pháp luật về hợp đồng dân
sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của Nhà nước đối với giao lưu dân sự đó.
a). Đặc điểm của hợp đồng dân sự.
- Chủ thể của hợp đồng dân sự: Chủ thể tham gia vào hợp đồng dân sự là
những người tham gia vào quan hệ đó. Vì hợp đồng dân sự chính là sự cụ thể
hóa của các quan hệ pháp luật dân sự. Nên chủ thể của hợp đồng dân sự là chủ
thể của quan hệ pháp luật dân sự. Như vậy chủ thể của hợp đồng dân sự gồm cá
nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước cũng là một chủ thể của
quan hệ hợp đồng dân sự . Tuy nhiên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dân sự
các chủ thể này độc lập với nhau về tổ chức và tài sản. Để tham gia vào quan hệ
dân sự cụ thể thì các chủ thể phải có tư cách chủ thể theo quy định của pháp
luật.
Vì vậy chủ thể của hợp đồng dân sự là rất rộng nó bao gồm đại bộ phận
dân cư trong xã hội.
- Mục đích của hợp đồng dân sự: Là cái mà các bên khi tham gia quan
hệ hợp đồng nhằm hướng tới. Trong hợp đồng dân sự thì mục đích của các chủ
thể khi giao kết hợp đồng là phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày.
- Hình thức của hợp đồng dân sự: Theo điều 401 Bô luật dân sự 2005 đã
nêu rõ: Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
hành vi cụ thể. Trong trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được giao
kết dưới hình thức cụ thể thì các bên phải tuân theo hình thức đó. Tại Điều 401
Bộ luật dân sự quy định:
1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản
hoặc hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định đối với loại hợp đồng đó phải
được giao kết bằng một hình thức nhất định.
2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể
+ Hình thức có chứng nhận chứng thực.
Đối với những hợp đồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và
đối tượng của nó là những loại tài sản mà Nhà nước cần phải quản lý, kiểm soát
khi chúng cần được dịch chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác thì các bên
phải lập văn bản có chứng nhận của công chứng Nhà nước, chứng thực của Uỷ
ban nhân dân có thẩm quyền. Hợp đồng được lập ra dưới hình thức này có giá
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
13
trị chứng thực cao nhất. Nên những hợp đồng mà Nhà nước không yêu cầu phải
lập theo hình thức này nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm, các bên vẫn
có thể chọn hình thức này để giao kết hợp đồng.
1.2.1.1.2. Phân loại hợp đồng dân sự.
Hợp đồng được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Vì vậy, để phân
loại hợp đồng thì ta cần phải căn cứ theo các tiêu chí đó để đảm bảo tính khách
quan và phù hợp với điều kiện thực tế đối với mỗi quốc gia. Ở nước ta thì quan
niệm về hợp đồng được thể hiện trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại có sự
khác biệt do tính chất của
quan hệ dân sự và quan hệ thương mại là khác nhau.
Hợp đồng dân sự là bản giao kèo để ghi nhận những quyền và nghĩa vụ
dân sự giữa các bên. Trong sự đa dạng của các hợp đồng dân sự, có thể dựa vào
các dấu hiệu đặc trưng để phân chúng thành từng nhóm khác nhau.
* Nếu dựa vào hình thức của hợp đồng, thì hợp đồng dân sự được phân
thành hợp đồng miệng, hợp đồng văn bản, hợp đồng có công chứng chứng nhận,
hợp đồng mẫu…
* Nếu dựa vào mối liên hệ về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên, thì
hợp đồng được phân làm hai loại là hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ:
- Hợp đồng song vụ: Là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa vụ.
quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên thoả thuận với
nhau xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng.
- Hợp đồng thực tế: là những hợp đồng mà sau khi thoả thuận, hiệu lực
của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối
tượng của hợp đồng.
Tóm lại. Việc phân chia hợp đồng dân sự thành các loại nói trên vừa dựa vào sự
quy định của BLDS, vừa dựa trên phương diện lý luận. Qua đó, nhằm xác định
được những đặc điểm chung và riêng của từng nhóm hợp đồng, góp phần nâng
cao hiệu quả trong quá trình điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự.
1.2.1.2. Nội dung hợp đồng dân sự.
Nội dung của hợp đồng là các điều khoản do các bên thoả thuận, thể hiện
quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Nội dung của hợp đồng
càng chi tiết cụ thể bao nhiêu thì càng có lợi cho việc thực hiện hợp đồng bấy
nhiêu. Như vậy, nội dung của hợp đồng nó thể hiện ý chí của các bên trong quá
trình thương lượng. Yêu cầu đặt ra là nội dung của hợp đồng phải hợp pháp, có
khả năng thực hiện, các điều khoản phải rõ ràng cụ thể, ý chí của các bên không
được mập mờ và mâu thuẫn.
Bộ luật dân sự 2005 là luật chung, nên các quy định của nó về nội dung
của hợp đồng là những quy định mang tính chất mở, và dùng làm định hướng
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
15
cho các lĩnh vực luật chuyên ngành.
Tại Điều 402 BLDS 2005 quy định nội dung của hợp đồng như sau
(1)
“ Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội
dung sau:
Điều 402 Bộ Luật dân sự 2005
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
16
để đổi lấy một cái gì đó
(2)
. Khái niệm này chỉ ra các tương tác của con người
hoặc một tổ chức khác trong quá trình hình thành dịch vụ. Khái niệm này cũng
thể hiện quan điểm hướng tới khách hàng vì giá trị của dịch vụ do khách hàng
quyết định.
Trong lý luận Marketing, Dịch vụ được coi như là một hoạt động của
chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, chúng có tính vô hình và không làm
thay đổi quyền sở hữu. Dịch vụ có thể được tiến hành nhưng không nhất
thiết phải gắn liền với quan hệ vật chất.( Nguồn Giáo trình kinh tế du lịch của
Trường ĐHKTQD trang 217)
Một khái niệm dịch vụ hiện được sử dụng rộng rãi là khái niệm dịch vụ
theo định nghĩa của ISO 9004: 1991 “Dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các
hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các
hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng”
( Nguồn Giáo trình Kinh tế du lịch của trường ĐHKTQD trang 278).
►Như vậy, Dịch vụ là kết quả của những hoạt động không thể hiện bằng
sản phẩm vật chất, nhưng bằng tính hữu ích của chúng và có giá trị kinh tế.
b). Hợp đồng dịch vụ.
● Khái niệm hợp đồng dịch vụ.
Trong BLDS 2005, hợp đồng dịch vụ là một hợp đồng có những đặc
điểm riêng. Các quy phạm của hợp đồng dịch vụ điều chỉnh các loại dịch vụ cụ
thể như: Dịch vụ sửa chữa tài sản,dịch vụ pháp lý, dịch vụ cung cấp thông tin
thương mại, dịch vụ quảng cáo…
công việc và mang lại kết quả như đã thoả thuận.
- Hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ: Cả bên cung ứng dịch vụ
và bên thuê dịch vụ đều có nghĩa vụ đối với nhau. Bên cung ứng dịch vụ phải
thực hiện hành vi pháp lý theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ, bên thuê dịch vụ
có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch
vụ.
● Đối tượng của hợp đồng dịch vụ.
Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được. Tức
là công việc ấy phải có thực, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội
(Điều 519 BLDS 2005 ).
c). Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ.
*. Bên thuê dịch vụ.
Bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền thù lao về kết quả công việc mà bên
cung ứng dịch vụ đã hoàn thành. Nếu đối tượng của hợp đồng dịch vụ yêu cầu
phải có thông tin từ bên thuê dịch vụ, thì bên thuê phải cung cấp tài liệu, thông
tin đầy đủ cho bên cung ứng dịch vụ ( dịch vụ pháp lý). Đối với những loại dịch
vụ yêu cầu phải có phương tiện để thực hiện, bên thuê phải cung cấp phương
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
18
tiện đó. (Điều 520 BLDS 2005).
Trong quá trình thực hiện dịch vụ nếu có những sai sót từ bên cung ứng
dịch vụ, bên thuê dịch vụ có quyền sửa chữa những sai sót đó. Nếu sai sót
nghiêm trọng đòi hỏi phải chi phí thêm, bên thuê dịch vụ có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
Bên thuê dịch vụ có quyền hủy hợp đồng nếu bên cung ứng dịch vụ hoàn
thành kết quả không như thỏa thuận. Hoặc hoàn thành công việc không đúng
thời gian mà công việc không còn ý nghĩa đối với bên thuê dịch vụ và yêu cầu
đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên thuê dịch vụ, mà không nhất thiết phải
chờ ý kiến của bên thuê dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên
thuê dịch vụ, nhưng phải thông báo ngay cho bên thuê dịch vụ”
(1)
Trong tình trạng bình thường, bên cung ứng dịch vụ không có quyền thay
đổi điều kiện của dịch vụ, nếu việc thay đổi đó không mang lại lợi ích cho bên
thuê dịch vụ. Trường hợp này cần phải thỏa thuận với bên thuê dịch vụ. Nhưng
khi cung ứng dịch vụ nếu không thay đổi điều kiện của dịch vụ sẽ gây thiệt hại
cho bên thuê dịch vụ, việc thay đổi này phải hoàn toàn xuất phát từ lợi ích của
bên thuê dịch vụ. Trong trường hợp này bên cung ứng dịch vụ được phép thay
đổi điều kiện dịch vụ và phải thông báo cho bên thuê dịch vụ. Khi thực hiện
dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ biết được việc tiếp tục làm dịch vụ sẽ có hại
cho bên thuê dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương đình chỉ
thực hiện hợp đồng mặc dù bên thuê dịch vụ không đồng ý. Bên thuê dịch vụ có
thể không thấy hoặc không lường trước hết được hậu quả xảy ra nếu tiếp tục
thực hiện công việc. Bên cung ứng dịch vụ cần phải giải thích cho bên thuê dịch
vụ sự cần thiết phải chấm dứt hợp đồng nếu không sẽ gây thiệt hại cho bên thuê
dịch vụ. Trong trường hợp này bên thuê dịch vụ phải thanh toán chi phí cho bên
cung ứng dịch vụ theo số lượng và chất lượng công việc mà họ đã làm.
Khi hợp đồng thực hiện một công việc mà các bên không thỏa thuận về
kết quả công việc đó và nếu hết hạn của hợp đồng mà công việc chưa hoàn
thành thì về nguyên tắc hợp đồng chấm dứt và cần thanh lý hợp đồng. Nếu bên
cung ứng dịch vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng cho đến khi hoàn thành mà bên
thuê dịch vụ không có ý kiến gì về việc kéo dài thời gian đó thì hợp đồng khi đó
được coi là kéo dài thời hạn. Trong trường hợp này bên thuê dịch vụ phải thanh
toán tiền công của thời gian đã kéo dài sau khi hết hạn hợp đồng (Điều 526
BLDS 2005).
Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà ở hợp
đồng này không cần thoả thuận nhưng ở một hợp đồng khác các bên lại buộc
thì các bên có thể không đưa các nội dung đó vào hợp đồng nhưng vẫn thực
hiện các nội dung đó trên thực tế.
* Điều khoản tuỳ nghi:
Ngoài những điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và
những điều khoản mà pháp luật đã quy định trước, khi giao kết hợp đồng các
bên có thể thoả thuận để xác định thêm một số điều khoản khác nhằm làm cho
nội dung của hợp đồng được cụ thể thuận lợi cho các bên trong quá trình thực
hiện. Điều khoản tuỳ nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết
hợp đồng tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
21
dân sự của các bên. Thông qua điều khoản tuỳ nghi bên có nghĩa vụ được phép
lựa chọn một trong các cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng sao cho thuận
lợi mà vẫn đảm bảo được yêu cầu của bên kia.
►Như vậy, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng có thể là điều
khoản cơ bản, có thể là điều khoản thông thường hoặc điều khoản tuỳ nghi.
1.2.3. DU LỊCH VÀ HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ DU LỊCH.
1.2.3.1. Khái niệm, đặc điểm về du lịch.
a). Khái niệm du lịch.
Theo khoản 1 Điều 4 Luật du lịch 2005: “ Du lịch là hoạt động có liên
quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú của mình nhằm đáp ứng
nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng, trong một khoảng thời
gian nhất định”
(1)
Theo định nghĩa đó thì hợp đồng du lịch là một loại hợp đồng được giao
kết nhằm đáp ứng các nhu cầu đó của khách du lịch ( là người đi du lịch hoặc
tố dân sự nhiều hơn đối với khách du lịch, còn đối với nhà cung cấp dịch vụ thì
thông qua việc đáp ứng nhu cầu của khách du lịch để thu được lợi nhuận, nên
mục đích thương mại là rất rõ ràng. Do có sự xung đột về mục đích giữa người
tiêu dùng dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ như vậy nên việc áp dụng pháp luật
đôi khi cũng gặp những vấn đề khó khăn.
Còn đối với người sử dụng dịch vụ du lịch là một pháp nhân, mua
chương trình lữ hành cho cán bộ nhân viên Công ty mình thì đó lại là nhằm mục
đích thương mại, vì đó là chính sách hoạt động của Công ty, và cũng là chiến
lược nhằm nâng cao năng suất lao động cho cán bộ nhân viên Công ty mình.
Nếu khách du lịch sử dụng dịch vụ du lịch nhằm mục đích tiêu dùng thì
khi giao kết hợp đồng luật áp dụng sẽ là Luật dân sự hiện hành, nhưng nếu bên
cung ứng dịch vụ và bên tiêu dùng dịch vụ thống nhất là áp dụng luật thương
mại thì trong trường hợp đó Luật thương mại sẽ được dung làm căn cứ pháp lý
khi giao kết hợp đồng ( theo Điều 1 Luật thương mại 2005).
b). Đặc điểm của dịch vụ du lịch:
Cũng như dịch vụ nói chung, dịch vụ du lịch có những đặc trưng sau:
* Tính phi vật chất.
Đây là tính chất quan trọng nhất của sản xuất dịch vụ du lịch. Tính phi
vật chất đã làm cho du khách không thể nhìn thấy hay thử nghiệm sản phẩm từ
trước. Cho nên đối với du khách thì dịch vụ du lịch là trừu tượng khi mà họ
chưa một lần tiêu thụ nó. Dịch vụ luôn đồng hành với những sản phẩm vật chất
nhưng dịch vụ mãi mãi tồn tại tính phi vật chất của mình. Du khách rất khó
đánh giá dịch vụ. Từ những nguyên nhân nêu trên, nhà cung ứng dịch vụ du lịch
cần phải cung cấp đủ thông tin và thông tin cần phải được nhấn mạnh tính lợi
ích của dịch vụ chứ không chỉ đơn thuần mô tả quá trình dịch vụ, qua đó làm
cho du khách phải quyết định mua dịch vụ của mình.
* Tính không chuyển đổi quyền sở hữu dịch vụ.
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
Dịch vụ bổ sung: là những dịch vụ phụ cung cấp cho khách hàng nhằm
thoả mãn những nhu cầu không bắt buộc dịch vụ cơ bản nhưng phải có trong
hành trình của du khách.
Khoá luận tốt nghiệp Khoa Luật kinh tế
SVTH: Nguyễn Thị Yến
24
* Dịch vụ đặc trưng: là những dịch vụ thoả mãn nhu cầu đặc trưng của
du khách như tham quan, tìm hiểu vui chơi giả trí. Việc thoả mãn nhu cầu này
cũng chính là nguyên nhân cũng chính là mục đích của chuyến du lịch.
* Tính không đồng nhất dịch vụ du lịch.
Do khách hàng muốn được chăm sóc như những người riêng biệt nên
dịch vụ du lịch thường bị cá nhân hoá và không đồng nhất.
* Sự khác nhau giữa thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ:
Thương mại hàng hoá có thể gọi là thương mại liên quan đến sản phẩm
vật chất, còn thương mại dịch vụ là một sản phẩm phi vật chất. Sự khác nhau
giữa hai loại hình này được thể hiện như sau.
Bảng 1 So sánh hoạt động dịch vụ và hoạt động kinh doanh vật chất
Sản phẩm vật chất Dịch vụ
Sản phẩm cụ thể Phi vật chất hay vô hình
Quyền sở hữu được chuyển giao khi mua bán Không có sự thay đổi về sở hữu
Được trưng bày trước khi mua bán Thông thường không được trưng bày hoặc
trưng bán nhưng không có hiệu quả trước khi
mua bán
Có thể được cất giữ lưu kho Không cất giữ hay lưu kho được
Sản xuất được tạo ra trước khi tiêu dùng Sản xuất và tiêu dung được tiến hành đồng
thời cùng một thời gian
Có thể được bán tiếp theo Không bán được tiếp theo
thương mại còn phụ thuộc vào mục đích của các chủ thể khi giao kết hợp đồng.
Đối với hợp đồng du lịch được giao kết giữa một cá nhân với bên cung
cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của cá nhân thì đó là hợp
đồng dân sự.
Đối với hợp đồng du lịch được giao kết giữa một tập thể người sử dụng
dịch vụ du lịch với một bên là người cung ứng dịch vụ mà cả hai bên đều nhằm
mục đích thương mại thì đó được coi là hợp đồng thương mại
1.2.3.2. Hợp đồng dịch vụ du lịch
1.23.2.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng du lịch.
a). Khái niệm hợp đồng du lịch.
Theo điều 38 Luật du lịch 2005: Ngành nghề kinh doanh du lịch là ngành
kinh doanh dịch vụ bao gồm các ngành nghề sau đây:
- Kinh doanh lữ hành.
- Kinh doanh lưu trú du lịch.
- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch.
- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch.
- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác.
Như vậy, dịch vụ du lịch bao gồm các nghiệp vụ nói trên nên khi giao kết
hợp đồng du lịch thì đó có thể là hợp đồng về một trong các nghiệp vụ đó.
Trong đó hợp đồng du lịch chủ yếu và mang lại doanh thu lớn cho các Công ty
du lịch là hợp đồng kinh doanh lữ hành. Hoạt động du lịch là hợp đồng được
giao kết giữa Công ty du lịch với người sử dụng dịch vụ du lịch.