Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện ngày càng phát triển của nền kinh tế thị trường, đời
sống của con người ngày càng được nâng cao. Mọi nhu cầu của xã hội luôn có
sự thay đổi để phù hợp với xu thế phát triển kinh tế của thời đại, của đất nước
đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm cho mình con đường, giải pháp hữu ích
nhất trong thế giới kinh doanh, sản xuất của mình, phải chấp nhận cạnh tranh
gay gắt, dám đương đầu không né tránh, dám mạo hiểm và cũng phải chấp
nhận rủi ro. Vấn đề đặt ra cơ bản đó là: chất lượng, giá thành phù hợp của sản
phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. Để tìm được điều
này, việc mua hàng và dự trữ hàng hoá đúng chất lượng, đủ về số lượng giá cả
hợp lý để góp phần đẩy mạnh bán ra, tăng doanh số, tăng lợi nhuận, vẫn là
điều không thể thiếu được trong quá trình lưu thông hàng hoá của các doanh
nghiệp, nhất là các doanh nghiệp thương mại.
Ngày nay sự giao lưu kinh tế giữa các khu vực với nhau ngày càng sâu
sắc hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó điều kiện địa lý, phong tục tập quán từng
vùng miền khác nhau đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển thị hiếu tiêu
dùng, trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả kịnh doanh của một doanh nghiệp.Do
vậy cần có hình thức trung gian thương mại như đại lý bán hàng để có thể mở
rộng thị trường. Vì thế phương thức tiêu thụ này đang được mở rộng cả về
chiều rộng và chiều sâu. Sau khi tìm hiểu các phương thức bán hàng trên thị
trường, công ty Thực phẩm Hà Nội đã lựa chọn đại lý bán hàng làm trung
gian phân phối sản phẩm của mình.
Vì vậy tôi chọn đề tài: “Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng đại
lý bán hàng tại công ty TNHH Nhà nước một thành viên Thực phẩm Hà
Nội” cho bài báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình.
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đề tài nhằm kết hợp các kiến thức đã học, tình hình thực tế ở công ty
và các phương pháp phân tích tổng hợp để xem xét vấn đề được cụ thể.
hãm sự sáng tạo của mỗi cá nhân. Sản xuất hàng hoá trong nước không phụ
thuộc vào quy luật cung cầu của thị trường mà phụ thuộc vào mệnh lệnh hành
chính. Chính vì thế điều này đã làm giảm đi tính năng động của nền kinh tế,
thủ tiêu các tiến bộ khoa học kỹ thuật. Các quy luật chủ yếu phổ biến của nền
kinh tế như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luật hàng hoá- tiền
tệ…không có ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế bởi chỉ có hai thành phần kinh
tế là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể. Có thể nói hình thức tổ chức kinh tế
theo kế hoạch, tập trung quyền lực như vậy chỉ phát huy được sự phù hợp của
nó trong điều kiện sản xuất hàng hoá còn thiếu thốn, cung chưa đủ cầu. Còn
khi sản xuất đã ngày càng phát triển hơn thì nó không còn phù hợp nữa. Bởi
phát triển kinh tế như vậy thì mới chỉ là phát triển theo chiều rộng mà chưa
phát triển theo chiều sâu.
2. Kinh tế thị trường và các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế Việt Nam
Cơ chế thị trường là một cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường
do sự tác động của các quy luật vốn có của nó. Nói một cách cụ thể hơn, cơ
chế thị trường là một hệ thống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết
lẫn nhau của các yếu tố giá cả, cung cầu, cạnh tranh…trực tiếp phát huy tác
động lên thị trường để điều tiết nền kinh tế thị trường.
Cơ chế thị trường có những đặc điểm sau:
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Quy luật cung- cầu tác động đến phân bổ nguồn lực trong sản xuất,
trong xã hội.Sản xuất cho ai, sản xuất bao nhiêu là vấn đề sống còn của nền
kinh tế.Có làm tốt vấn đề phân bổ nguồn lực thì mới có thể tăng trưởng, phát
triển triệt để, tiết kiệm vật tư, phát triển bển vững được.
- Tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế. Trong cơ chế thị trường mọi hàng hoá
đều mang hình thái giá trị. Các quan hệ kinh tế đều nhằm mục đích tìm kiếm
giá trị, tìm kiếm lợi nhuận. Giá trị đều được biểu hiện bằng tiền. Vì vậy các
quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá.
những người khác. Sự phát triển ồ ạt của khoa học, sản xuất khiến cho người
giàu, người có tư liệu sản xuất ngày càng kiếm được nhiều tiền hơn. Vì vậy
khoảng cách giàu nghèo trong xã hội ngày một lớn hơn. Theo quan điểm duy
vật biện chứng:” Vật chất quyết định ý thức”. Từ đó mà hình thành sự bất
bình đẳng trong xã hội.
- Sự phát triển kinh tế thái quá dẫn đến sự lãng phí tài nguyên thiên
nhiên, đang dẫn đến nguy cơ đe doạ cạn kiệt tài nguyên. Kinh tế thị trường do
quá tập trung vào tăng trưởng kinh tế mà sử dụng tài nguyên bừa bãi, lãng
phí, dẫn đến nguồn tài nguyên phục vụ cho sản xuất đang ngày một cạn kiệt.
Yêu cầu bức thiết đối với loài người là phải tìm ra những nguồn tài nguyên,
năng lượng thay thế để tiếp tục phục vụ sản xuất, duy trì cuộc sống của con
người. Phát triển kinh tế phải đi đôi với cuộc sống bền vững.
- Vấn đề ô nhiễm môi trường. Sự phát triển thái quá của nền kinh tế
kiến cho con người phải gánh chịu một nguy cơ không mong muốn là môi
trường sống bị đe doạ. Sử dụng tài nguyên bừa bãi, di dân ồ ạt ra các thành
phố lớn tìm việc làm, khí thải công nghiệp nhiều… là những nguyên nhân
chính gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường, sự săn bắt không có giới hạn
các loài sinh vật đang khiến cho Trái Đất mất cân bằng sinh thái. Đây là thách
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thức không phải của riêng quốc gia nào, là trách nhiệm của chúng ta với chính
tương lai của mình.
Trong nền kinh tế thị trường con người tự do trao đổi hàng hoá, nhiều
khi để thoả thuận đó đảm bảo thực hiện người ta dùng một biện pháp đó là
hợp đồng.
Vì cơ chế thị trường vẫn tồn tại những khuyết tật, chưa thật hoàn hảo
nên cần có sự tham gia điều tiết của Nhà nước.
2.1. Sự điều tiết vĩ mô của nhà nước xã hội chủ nghĩa với cơ chế thị trường
Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
Ngay từ khi hình thành Nhà nước thì loài người đã hinh thành một công
cụ để quản lý xã hội, đó là pháp luật. Nhà nước và pháp luật là hai phạm trù
không thể tách rời. Có Nhà nước thì phải có pháp luật, có pháp luật thì tồn tại
Nhà nước. Nhà nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền, của dân, do dân, vì dân. Mọi cá nhân, tổ chức sống, học tập và làm
việc theo Hiến pháp và pháp luật. Đây là công cụ quan trọng nhất đối với mỗi
nhà nước, không riêng Việt Nam.
- Kế hoạch hoá: kế hoạch và thị trường là 2 công cụ có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Nhà nước thực hiện xây dựng đất nước theo chủ trương đường
lối mà Đảng cộng sản đề ra trong từng giai đoạn, thời kỳ nhất định. Mục tiêu
đó được cụ thể ra trong từng thời kỳ nhất định thành các kế hoạch phải hoàn
thành. Thị trường là môi trường để các kế hoạch đó trở thành thành tựu, kết
quả.
- Lực lượng kinh tế của nhà nước.
Kinh tế Nhà nước phải là nền tảng, giúp đỡ các thành phần khác khi có
sự cố ảnh hưởng đến hệ thống. Lực lượng kinh tế của Nhà nước là sức mạnh
vật chất để điều tiết theo kế hoạch đã đề ra. Đây là công cụ để Nhà nước điều
tiết nền kinh tế tránh bị tư hữu hóa, Nhà nước luôn ở trạng thái chủ động.
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại:
Các chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các biện pháp bảo đảm tín
dụng xuất khẩu… Thời đại ngày nay là thời đại của toàn cầu hoá, khu vực
hoá. Việt Nam muốn phát triển thì phải mở cửa giao lưu buôn bán với các
nước. Để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế, đảm bảo giữ đúng mục tiêu
an ninh kinh tế, quốc phòng, độc lập chủ quyền… thì Việt Nam phải sử dụng
các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại.
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể tự do trao đổi hàng hoá theo
quy luật hàng hoá tiền tệ dưới nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên do
thuộc hoạt động d ưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổng
đại lý.
+ Các hình thức đại lý khác mà các bên thoả thuận.
2.3.3. Ưu nhược điểm của bán hàng qua đại lý
*Ưu điểm:
+ Đại lý tạo điều kiện cho khách hàng thuận lợi hơn mua tại doanh
nghiệp, từ đó giúp tăng doanh số bán hàng. Bán hàng qua đại lý ưu việt hơn “
mua tận gốc, bán tận ngọn” là tiết kiệm chi phí vận chuyển, thời gian linh
hoạt, và số lượng hàng hoá cung cấp cho khách hàng cũng lớn nhỏ linh hoạt
hơn so với doanh nghiệp.
+ Thủ tục mua bán qua đại lý cũng thuận tiện hơn, đơn giản hơn, chiều
chuộng khách hàng hơn.
+ Bán hàng phải thông qua kênh phân phối làm cho quy mô của doanh
nghiệp được mở rộng hơn vì đại lý chính là một bộ phận bán hàng của doanh
nghiệp. Nhất là khi nguồn lực tài chính của doanh nghiệp còn yếu thì đại lý là
một công cụ đắc lực giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh.
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Bán hàng qua đại lý, doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm khối
lượng việc cần làm. Khi có chiến lược kinh doanh mới, như phát triển sản
phẩm mới thì doanh nghiệp cần bỏ ra rất nhiều chi phí để nghiên cứu thị
trường, quảng cáo… Có hệ thống đại lý bán hàng doanh nghiệp sẽ bớt một
phần gánh nặng.
+ Khi có một hệ thống đại lý bán hàng, đại lý sẽ chia sẻ rủi ro trong
kinh doanh với doanh nghiệp.
*Nhược điểm:
+ Sử dụng hình thức đại lý đặt ra cho doanh nghiệp vấn đề kiểm soát
đối với thị trường.
+ Vấn đề chính xác thông tin cũng rất quan trọng. Đại lý họ dược
dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh
doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng
và thực hiện kế hoạch của mình”.( Điều 1).Như vậy mục đích của hợp đồng
kinh tế là nhằm mục đích kinh doanh.
Đặc biệt, Pháp lệnh còn quy định về chủ thể của hợp đồng kinh tế phải
có ít nhất một bên là pháp nhân.Hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các bên là:
Pháp nhân với pháp nhân; Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo
quy định của pháp luật.
Còn hợp đồng dân sự được áp dụng trong những vụ việc về dân sự, tài
sản, hôn nhân gia đình.
Từ 01/01/2006, Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực, chỉ tồn tại một loại
hợp đồng, gọi là hợp đồng dân sự, còn trên các văn bản giao kết giữa các bên
“hợp đồng kinh tế” chỉ được sử dụng như một thói quen.
2. Hệ thống văn bản quy định về hợp đồng.
- Bộ luật Dân sự 27/6/2005, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006.
- Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004.
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Luật Doanh nghiệp 2005.
- Luật Thương mại 27/6/2005, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006.
- Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003.
- Nghị định số 25/Cp ngày 25/4/1996 ban hành quy chế đại lý mua
bán hàng hoá
- Thông tư số 10-TM/PC ngày 13/6/1996 hướng dẫn việc thực hiện
quy chế đại lý mua bán hàng hoá.
3. Quá trình hình thành và phát triển của hợp đồng kinh tế ở Việt Nam:
Hợp đồng kinh tế ta xem xét với ý nghĩa là một chế độ pháp lý. hợp
đồng kinh tế được đề cập đến trong các văn bản, là công cụ trong quản lý kinh
tế, quy định cụ thể việc ký kết, chủ thể, nội dung, quá trình thực hiện, xử lý
Tính chất của hợp đồng không đáng kể, chỉ mang tính hình thức.
* Thời kỳ cải tiến quản lý kinh tế( 1975-1989).
Ngày 10/3/1975 Hội đồng Bộ trưởng( Nay là Chính phủ) ban hành điều
lệ về chế độ hợp đồng kinh tế kèm theo Nghị định số 54/CP. Đây là những
văn bản pháp quy đầu tiên về hợp đồng kinh tế.
Do kết cấu, thành phần kinh tế trong nước ta không thay đổi so với
trước nên bản chất của hợp đồng vẫn không có gì khác.
* Thời kỳ đổi mới( 1989- nay):
Năm 1989, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế.
Hoạt động sản xuất kinh doanh do các chủ thể kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế thực hiện, bình đẳng với nhau trên thị trường, chủ thể đó là
các loại hình doanh nghiệp. Nhà nước bãi bỏ việc giao chỉ tiêu kế hoạch cho
các cơ quan. Kế hoạch sản xuất kinh doanh do chính các doanh nghiệp xây
dựng nên dựa vào nhu cầu của thị trường, kế hoạch của Nhà nước chỉ mang
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tính định hướng.Các doanh nghiệp tự chủ ký kết hợp đồng,một minh chứng
cho quyền tự do kinh doanh.
Ngày 27/6/2005, Bộ luật Dân sự ban hành một cách tập trung, khái
niệm “hợp đồng kinh tế “ nay được coi là hợp đồng dân sự, do Bộ luật Dân sự
và các luật chuyên nghành điều chỉnh điều chỉnh.
Việc áp dụng pháp luật như sau: Hợp đồng trong từng lĩnh vực cụ thể
sẽ do luật và các văn bản hướng dẫn thi hành của lĩnh vực đó điều chỉnh. Nếu
luật đó chưa quy định thì áp dụng Luật Thương mại 2005. Nếu Luật Thương
mại 2005 chưa quy định thì áp dụng luật gốc là Bộ luật Dân sự 2005.
4. Hợp đồng đại lý:
4.1. Khái niệm:
Hợp đồng đại lý là hình thức pháp lý của thoả thuận về đại lý bán hàng.
Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác
* Điều khoản phạt vi phạm hợp đồng:
Phạt vi phạm là sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng, theo đó bên
vi phạm có nghĩa vụ nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
Mức phạt do các bên tự thoả thuận.
Nếu các bên thoả thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp
dụng cả hai chế tài: phạt vi phạm và đòi bôi thường thiệt hại. Nếu các bên
không có thoả thuận phạt vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm chỉ có quyền
yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại.( Điều 422 Bộ luật Dân sự 2005, điều 307
Luât Thương mại 2005).
* Sửa đổi , chấm dứt hợp đồng đại lý:
Doanh nghiệp và đại lý có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng và giải
quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ khi pháp luật có quy định khác. Trong
trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản được công chứng, chứng thực,
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình
thức đó.
* Chấm dứt hợp đồng đại lý:
Điều 424 Bộ luật Dân sự 2005 quy đinh: Hợp đồng đại lý có thể bị
chấm dứt trong các trường hợp sau:
Hợp đồng đã được hoàn thành.
Hợp đồng chấm dứt theo thoả thuận của các bên.
Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân hoặc chủ thể khác chấm dứt
mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể đó thực hiện.
Hợp đồng bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện.
Khi đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, bên chấm dứt phải
thông báo cho bên kia biết việc chấm dứt hợp đồng.Nếu không thông báo mà
gây ra thiệt hại thì phải bồii thường. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt
thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từ thời điểm bên kia nhận được thông báo
bên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá. Mức chênh lệch gía được
xác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ cho
khách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý.
Trường hợp các bên không có thoả thuận về mức thù lao đại lý thì mức
thù lao được tính như sau:
Mức thù lao thực tế mà các bên đã được trả trước đó;
Trường hợp không áp dụng được cách xác định thù lao như trên thì
mức thù lao đại lý là mức thù lao trung bình được áp dụng cho cùng loại hàng
hoá, dịch vụ mà bên giao đại lý đã trả cho các đại lý khác;
Trường hợp không áp dụng được các cách tính trên thì mức thù lao đại
lý là mức thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụ
trên thị trường.
* Thanh toán trong đại lý:
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc thanh toán tiền hàng, tiền cung
ứng dịch vụ và thù lao đại lý được thực hiện theo từng đợt sau khi bên đại lý
hoàn thành việc mua, bán một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng một khối
lượng dịch vụ nhất định.
* Thời hạn đại lý:
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứt sau
một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn 60 ngày, kể từ ngày một trong hai
bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đại lý.
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên giao đại lý thông báo chấm
dứt hợp đồng theo cách trên thì bên đại lý có quyền yêu cầu bên giao đại lý
bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao
đại lý đó.
Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trung bình
trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bên giao
- Hoàn trả cho bên đại lý tài sản của bên đại lý dùng để bảo đảm ( nếu
có) khi kết thúc hợp đồng đại lý.
- Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên đại
lý, nếu nguyên nhân của h ành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của
mình gây ra.
* Bên đại lý:
Theo điều 174 Luật Thương mại 2005, quyền của bên đại lý được quy
định như sau:
Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, bên đại lý có các quyền sau
đây:
- Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý, trừ
trường hợp pháp luật quy định chỉ giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đại lý đối với một loại hàng hoá dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định
của pháp luật đó.
- Yêu cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đại lý;
nhận lại tài sản dùng để đảm bảo( nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý.
- Yêu cầu bên giao đại lý hướng dẫn, cung cấp thông tin và các điều
kiện khác có liên quan để thực hiện hợp đồng đại lý.
- Quyết định giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho khách hàng đối
với đại lý bao tiêu.
- Hưởng thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt động đại
lý mang lại.
Điều 175 Luật Thương mại 2005 quy định nghĩa vụ của bên đại lý như
sau:
Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên đại lý có các nghĩa vụ sau đây:
- Mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo giá hàng hoá, gía cung ứng
dịch vụ do bên giao đại lý ấn định;
đáng bị xâm hại, nêu yêu cầu cần giải quyết.
* Thẩm quyền giải quyết các vụ án dân sự:
Toà án nhân dân (TAND) huyện có thẩm quyền giải quyết các vụ án
dân sự theo thủ tục sơ thẩm.
TAND tại nơi cư trú của bị đơn, nơi đóng tru sở chính, chi nhánh của bị
đơn hoặc nơi thực hiện hợp đồng đại lý bán hàng cũng có thẩm quyền giải
quyết.
Trong trường hợp hai bên thoả thuận thì Toà án nơi nguyên đơn cư trú
giải quyết.
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Sau khi nộp đơn khởi kiện, TAND thụ lý vụ án, trướck khi toà đưa ra
xét xử, nguyên đơn có quyền thay đổi yêu cầu, hoặc rút lại đơn khởi kiện.
Khi nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn tạm ứng án phí để chứng tỏ trách
nhiệm của mình trước các cơ quan công quyền về hành vi khởi động bộ máy
tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Toà án, các cơ quan tố tụng tiến hành điều tra. Trong quá trình chuẩn bị
xét xử, tòa án tiến hành hoà giải hai bên đương sự. Toà án có quyền ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi
xét thấy vụ án chưa đủ điều kiện để xét xử hoặc vụ án không đáng xét xử ở
Toà án.
* Phiên toà sơ thẩm:
Xét xử sơ thẩm là quan trọng vì đây là xét xử lần đầu, cơ quan tố tụng
tiến hành tất cả các bước của việc xét xử một vu án dân sự.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm 1 Thẩm phán, 2 Hội thẩm nhân dân, do
Thẩm phán làm chủ toạ.
Những người tham gia phiên toà sơ thẩm gồm: các đương sự, người đại
diện cho Công ty Thực phẩm Hà Nội, người đại diện Đại lý bán hàng…
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, pháp luật còn một thời gian để
* Giải quyết tranh chấp theo thủ tục Giám đốc thẩm:
Giám đốc thẩm là việc xem xét lại bản án đã có hiệu lực nhưng bị
kháng nghị vì phát hiện những sai sót nghiêm trọng trong quá trình giải quyết
vụ án.
* Căn cứ để kháng nghị là:
- Kết luận của bản án, quyết định không phù hợp với tình thế khách
quan.
- Có hiện tượng vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Có hiện tượng phạm sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp
luật.
* Các chủ thể có quyền kháng nghị là:
- Chánh án Toà án tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
có quyền kháng nghị với các bản án của các TAND các cấp, trừ quyết định
của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
- Chánh án TAND cấp tỉnh, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh có quyền kháng cáo đối với bản án của TAND cấp huyện.
Thời hạn kháng nghị là 3 năm từ ngày bản án đã có hiệu lực.
* Thẩm quyền của Giám đốc thẩm (GĐT):
- Uỷ ban Thẩm phán TAND cấp tỉnh có quyền GĐT với bản án của
TAND cấp huyện.
- Toà chuyên trách của TAND tối cao có quyền GĐT với các bản án
của TAND cấp tỉnh.
- Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao có quyền GĐT với các bản án
của Toà kinh tế TAND tối cao.
* Kết quả của thủ tục GĐT:
- Giữ nguyên bản án đã có hiệu lực pháp luật.
- Giữ nguyên bản án đã được sửa đổi, huỷ bỏ, phục hồi bản án bị sửa
thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển,
đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp
luật.
- Người ký thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy
định của pháp luật.
- Một bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ;
Trịnh Thị Minh Hồng Lớp: Luật kinh doanh 45
25