Lời mở đầu
Sau hơn 3 năm ngồi trên ghế giảng đường đại học, được trang bị những kiến
thức về kinh tế và quản trị kinh doanh, đặc biệt là kiến thức về chuyên ngành quản trị
kinh doanh công nghiệp và xây dựng cơ bản, em đã được tham gia thực tập thực tế
tại công ty TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội. Đây thực sự là một cơ
hội tốt, giúp em tiếp cận và tự mình tham gia tìm hiểu hoạt động của một doanh
nghiệp hoạt động và kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, từ đó có những trải
nghiệm trong thực tiễn giúp em hiểu hơn những kiến thức đã được trang bị trên ghế
nhà trường và có cái nhìn bao quát hơn về ngành nghề mà mình lựa chọn.
Không chỉ được học những kiến thức từ thực tế, mà qua quá trình thực tập, hiểu
về những vấn đề đang gặp phải của doanh nghiệp, cũng chính là cơ hội tốt giúp em
có thể vận dụng những kiến thức đã được học để áp dụng vào trong hoạt động của
doanh nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Hoài Dung,
cán bộ hướng dẫn: Chú Trần Hồng Tuy, Phó Tổng giám đốc công ty, cô Nguyễn Thị
Mai Anh, trưởng phòng lao động tiền lương cùng toàn bộ tập thể cán bộ công nhân
viên công ty dệt 19/5 Hà Nội đã tạo điều kiện và tận tình giúp đỡ em trong đợt thực
tập vừa qua.
Chuyên đề tốt nghiệp này bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà
Nội.
Chương 2: Thực trạng công tác hoạch định nhân sự tại công ty TNHH Nhà
nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác hoạch định nhân sự tại công ty
TNHH Nhà nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
CHƯƠNG 1
THÔNG TIN CHUNG TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC
MỘT THÀNH VIÊN DỆT 19/5 HÀ NỘI
đến nay, công ty đã trải qua gần 50 năm trưởng thành và phát triển, cùng với những
thay đổi của đất nước. Ban đầu khi mới thành lập, công ty là một xí nghiệp nhỏ với
hoạt động chính khi đó chủ yếu là dệt bít tất và các loại vải như: vải Kaki, phin kẻ,
Popơlin, khăn mặt…theo chỉ tiêu của Nhà nước, phục vụ cho quốc phòng và lĩnh vực
bảo hộ lao động. Qua từng giai đoạn phát triển, đến nay lĩnh vực hoạt động của công
ty bao gồm sản xuất các loại vải bạt dùng trong công nghiệp sản xuất giầy vải xuất
khẩu, giường, ghế gấp, balô, túi cặp sách, các trang thiết bị nội thất, bảo hộ lao động
và các loại vải lọc dùng trong công nghiệp thực phẩm như đường, bia, sản xuất thuỷ
tinh, sành sứ và sản xuất sợi các loại. Bên cạnh đó, công ty còn tham gia kinh doanh
trên các lĩnh vực như: sản phẩm sợi, may mặc, cho thuê nhà ở, xưởng, văn phòng,
kho tàng, bến bãi, máy móc, trang thiết bị. Đến nay, công ty TNHH Nhà nước một
thành viên Dệt 19/5 Hà Nội đã khẳng định được tên tuổi của mình trên thị trường
trong nước và trở thành một doanh nghiệp sản xuất vải kỹ thuật hàng đầu của Việt
Nam.
Công ty chính thức chuyển đổi hình thức kinh doanh sang công ty TNHH Nhà
nước một thành viên dệt 19/5 Hà Nội từ ngày 1/9/2005 theo quyết định số
132/2005/QĐUBND TP.Hà Nội và theo quyết định số 94/2005/QĐ-TTg của thủ
tướng chính phủ (phê duyệt phương án sắp xếp và đổi mới công ty Nhà nước thuộc
Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội).
II/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Nhà nước một thành
viên Dệt 19/5 Hà Nội :
Quá trình hình thành và phát triển của công ty đã trải qua 4 giai đoạn :
1. Giai đoạn thứ nhất từ năm 1960 đến 1973 :
Đây là thời kì đánh dấu sự ra đời của công ty từ sự hợp nhất một số cơ sở tư
nhân như: công ty Việt Thắng, Hoà Bình, Tây Hồ và đã được Thành phố Hà Nội
công nhận là xí nghiệp quốc doanh dệt 8/5. Trong những ngày đầu mới thành lập, nhà
máy có cơ sở sản xuất đặt tại số 4, ngõ1, phường Hàng Chuối, TP.Hà Nội. Lúc đó
3
nhiệm vụ sản xuất chủ yếu của Nhà máy là thực hiện làm gia công cho Nhà nước,
phục vụ thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sản phẩm khi đó chủ yếu là dệt bít tất và
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà máy thực hiện chế độ hạch toán
độc lập tự chủ về tài chính, thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước (năm 1993 nhà
máy chuyển sang hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp Nhà nước). Có thể
nói đây là thời kỳ khó khăn nhất của nhà máy. Nhà máy gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ
trước cơ chế thị trường. Trong thời kì này nhu cầu về vải bạt của nhà máy sụt giảm,
hệ quả là sản lượng tiêu thụ của nhà máy chỉ còn 1triệu mét vải 1 năm. Cũng trong
thời kỳ này, theo hiệp định ký với Liên Xô, nhà máy được cung cấp dây chuyền dệt
kim để sản xuất quần ấo, sản phẩm sản xuất ra sẽ được Liên Xô bao tiêu, xong không
bao lâu thì Liên Xô tan rã, máy móc thiết bị nhập về chưa hoàn chỉnh thì nguồn bao
tiêu lại không còn. Trước tình hình đó, nhà máy đã đầu tư mua các thiết bị Nam Triều
Tiên, Nhật Bản để hoàn thiện dâu chuyền sản xuất và tìm nguồn tiêu thụ mới.
Trong giai đoạn khó khăn này, nhà máy đã phải tiến hành giải quyết chế độ
176 cho các công nhân của nhà máy, giảm số lượng công nhân của nhà máy xuống
còn 300 người. Những khó khăn ban đầu đã giúp nhà máy từng bước trưởng thành và
dần dần nhà máy đã thích ứng được với cơ chế kinh tế mới. Năm 1993, nhà máy
chuyển sang hoạt động theo lụât doanh nghiệp Nhà nước và đổi tên thành “Công ty
Dệt 19/5 Hà Nội“. Đây là một thuận lợi cho sự phát triển của nhà máy, đồng thời mở
rộng quan hệ đối ngoại, tiếp xúc với thị trường trong nước và quốc tế. Để thích nghi
với cơ chế thị trường, công ty Dệt 19/5 Hà Nội chủ động đi tìm kiếm mở rộng thị
trường tiêu thụ trong nước đồng thời tích cực tìm kiếm các đối tác liên doanh để giải
quyết sự khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp đã liên doanh với một
số công ty của Singapore, góp một phần đất đai và nhà xưởng sản xuất tại phường
Nhân Chính, Quận Thanh Xuân, TP.Hà Nội, chuyển toàn bộ dây chuyền sản xuất
hàng dệt kim và hơn một nửa số lao động sang liên doanh. Đến nay hơn 10 năm hoạt
động sản xuất, liên doanh đã ngày càng lớn mạnh và đã nộp lãi về cho công ty, giải
quyết được việc làm cho hơn 500 lao động.
Từ năm 1994 đến năm 1997, công ty được cấp trên đầu tư thêm 1,7 tỷ đồng.
Công ty đã đào tạo thêm 100 lao động mới, bảo đảm việc làm đầy đủ, ổn định cho
người lao động. Đến năm 1998, công ty lắp đặt dây chuyền sản xuất sợi tự cung cấp
5
của người lao động đạt mức 2,178 triệu đồng/người/tháng).
6
- Chăm lo bữa ăn giữa ca, ca sáng, ca 3 cho người lao động đạt chất lượng cao.
- Chăm lo tốt sức khỏe cho cán bộ công nhân viên: Hàng năm khám sức khỏe định kỳ
để phát hiện bệnh nghề nghiệp và giải quyết cho 100% cán bộ công nhân viên đi nghỉ
mát.
- Tặng quà sinh nhật cho cán bộ công nhân viên (theo cùng một tháng sinh), tiêu
chuẩn 50.000đ.
- Trang bị nhu cầu cần thiết cho các lao động nữ (phát băng vệ sinh cho chị em công
nhân nữ).
- Làm tốt công tác đền ơn đáp nghĩa: Chăm lo cho gia đình thương binh, liệt sỹ, gia
đình cán bộ công nhân viên có khó khăn, quyên góp tiền để xây dựng nhà tình nghĩa
cho bà mẹ Việt Nam anh hùng, giúp đỡ trẻ em nghèo ở trại trẻ mồ côi Hà Cầu.
- Tuyên dương và tặng thưởng quà cho con cán bộ công nhân viên đạt học sinh giỏi.
- Tổ chức vui tết trung thu, tặng quà ngày 1/6 cho con cán bộ công nhân viên.
- Tổ chức phong trào văn nghệ, thể dục thể thao trong cán bộ công nhân viên, đã đạt
nhiều thành tích.
Sau 45 năm hoạt động, công ty đã được tặng thưởng:
01huân chương lao động hạng nhất.
01 huân chương lao động hạng nhì.
01 huân chương lao động hạng ba.
01 huân chương chiến công hạng ba.
Đảng bộ công ty nhiều năm liền đạt tiêu chuẩn Đảng bộ trong sạch vững mạnh và
năm 2004 đạt tiêu chuẩn vững mạnh xuất sắc.
Công đoàn công ty nhiều năm liền được Liên đoàn Lao động Thành phố Hà nội tặng
cờ và danh hiệu đơn vị có hoạt động Công đoàn vững mạnh xuất sắc.
Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh công ty đạt danh hiệu vững mạnh.
Hệ thống quản lý chất lượng của công ty đã được tổ chức QMS cấp chứng chỉ ISO
9002 và đang triển khai TQM và ISO 14000, triển khai SA 8000.
Sản phẩm của công ty đạt được nhiều giải vàng, giải bạc tại hội chợ triển lãm trong
có thể được giải thích trên ba lí do :
- Trong những năm gần đây, doanh nghiệp đã có những chiến lược nhằm đa dạng
hoá sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh, điều này đã khiến cho tỉ lệ doanh thu
từ sản phẩm vải trong tổng doanh thu của toàn doanh nghiệp giảm xuống.
- Một lí do khác, đó là công nghệ sản xuất tại các phân xưởng dệt thuộc nhà máy dệt
Hà Nội đã trở nên cũ kĩ và lạc hậu, điều này làm ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất,
làm ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
các doanh nghiệp. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, doanh nghiệp đã có
8
những bước đi chiến lược nhằm tạo ra sức bật mới cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình, thông qua việc đầu tư một dây chuyền sản xuất dệt chất lượng cao
tại khu công nghiệp Đồng Văn, Tỉnh Hà Nam.
Bảng 9. Cơ cấu các loại vải trong tổng số sản phẩm vải được tiêu thụ
Loại vải Năm 2003 Năm 2004 Biến động
Loại vải mộc ( vải chưa
qua khâu xử lý tẩy,
nhuộm, hấp )
Vải bạt 2 20% 18% Giảm 2%
Vải bạt 3 15% 14% Giảm 1%
Vải bạt 8 23% 22% Giảm 1%
Vải bạt 10 18% 16% Giảm 2%
Vải phin 8% 7% Giảm 1%
Vải chéo 11% 10% Giảm 1%
Loại vải đã qua khâu xử
lý tẩy, nhuộm, hấp
Vải tẩy nhuộm 5% 13% Tăng 8%
( nguồn : Phòng kế hoạch thị trường )
Khi phân tích sâu hơn về cơ cấu tiêu thụ các loại vải trong tổng số sản phẩm vải được
tiêu thụ của công ty ta nhận thấy một xu hướng tiêu thụ phản ánh một thực tế: Tỉ
trọng các loại vải bạt mộc trong tổng số các loại vải được tiêu thụ của công ty đang
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Doanh thu tỷ đồng 50 54 60 70,5 92 105 120 140
Giá trị sản xuất
công nghiệp
tỷ đồng 33,43 42 50,4 62 73,8 95 110 130
Kim ngạch xuất
khẩu
tỷ đồng 9,232 20,88 2,928 2,976 7,936 15 18 25
Nộp ngân sách tỷ đồng 1,652 1,901 0,754 0,841 1,925 1,72 1,98 2,82
Thu nhập doanh
nghiệp
tỷ đồng 0,155 0,25 0,501 4,023 1,761 1,6 2,48 2,82
Tổng số lao động người 459 596 692 623 740 810 905 986
Thu nhập bình
quân người lao
động
1000đ/
tháng
863 821 818,1 806,8 1.112 1.171 1.449 1.540
(Nguồn : Phòng tài vụ )
Qua bảng số liệu, chúng ta nhận thấy, hai chỉ tiêu có xu hướng tăng qua các
năm: đó là chỉ tiêu doanh thu và chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp của công ty.
Nếu như năm 2000 hoạt động của công ty tạo ra giá trị doanh thu là 50 tỉ và giá trị
sản xuất công nghiệp là 33,43 tỉ đồng thì đến năm 2006 doanh thu của công ty đã đạt
120 tỉ đồng tương ứng với mức tăng là 70 tỉ (140%) và giá trị sản xuất công nghiệp
thấp nếu so với mặt bằng mức lương trung bình của nền kinh tế (năm 2006 lương
bình quân của người lao động trong các doanh nghiệp là từ 2 triệu – 2,037 triệu
đồng/tháng). Chính vì vậy thu nhập bình quân của người lao động vẫn là một bài toán
11
của công ty trong những năm sắp tới đòi hỏi công ty phải có những quyết sách đúng
đắn.
3.Đánh giá chung.
Qua việc phân tích đặc điểm kinh tế kĩ thuật chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty dệt 19/5 Hà Nội cũng như những kết quả sản xuất
kinh doanh mà công ty đã đạt được trong vòng 5 năm trở lại đây . Chúng ta có thể rút
ra được những thành công và hạn chế còn tồn tại của công ty dệt 19/5 Hà Nội .
3.1.Thành công và các nguyên nhân.
3.1.1 Thành công trong sản xuất kinh doanh.
Thành công đầu tiên mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy, đó là sự tăng
trưởng về doanh thu của công ty qua các năm. Nếu như năm 2000 doanh thu của
công ty mới đạt 50 tỷ đồng thì đến năm 2007 doanh thu của công ty đã đạt được 140
tỉ đồng. Bên cạnh sự tăng trưởng doanh thu thì doanh nghiệp cũng đạt được sự tăng
trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp (năm 2000 giá trị sản xuất công nghiệp của
doanh nghiệp đạt mức 33,43 tỷ đồng, đến năm 2007 giá trị sản xuất công nghiệp của
doanh nghiệp đã đạt 130 tỷ đồng). Điều nay chứng tỏ công ty đã vượt qua được
những khó khăn ban đầu khi bước vào nền kinh tế thị trường. Đồng thời sự tăng
trưởng liên tục qua các năm với tốc độ đạt trên hai con số đã cho thấy hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng, thị phần ngày càng được củng
cố và phát triển (nếu như năm 2005 dệt 19/5 Hà Nội mới chiếm 11,1% thị phần thì
đến năm 2006 thị phần của doanh nghiệp đã là 15%). Điều đó sẽ xây dựng được uy
tín và thương hiệu của công ty trên thị trường, trở thành vũ khí cạnh tranh quan trọng,
đồng thời nó cũng là nền tảng vững chắc giúp công ty phát triển trong thời gian sắp
tới.
Chính nhờ những thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã giúp
doanh nghiệp luôn thực hiện tốt nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước (nếu như năm
Điều đó không những tạo ra một hình ảnh đẹp về công ty dệt 19/5 Hà Nội, mà nó còn
trở thành triết lý kinh doanh góp phần động viên thôi thúc sự cố gắng nỗ lực của tập
thể cán bộ công nhân trong lao động và sản xuất.
Mặt khác, ngoài việc quan tâm tới đời sống vật chất của người lao động (lương
trung bình của cán bộ công nhân viên không ngừng được cải thiện qua các năm),
công ty cũng rất quan tâm tới đời sống tinh thần, đến những nhu cầu của người lao
động. Ngoài các hoạt động vui chơi, giải trí, tổ chức đi tham quan, các cuộc hội
13
thao…công ty còn quan tâm tới việc bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ tay nghề
cho cán bộ công nhân viên của công ty thông qua các khoá đào tạo.
Những thành công trong sản xuất kinh doanh cũng như trong các hoạt động xã
hội, có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Đây chính là chìa khoá vô hình quan trọng giúp
công ty tiếp túc xây dựng, và phát triển trong những năm sắp tới.
3.2. Hạn chế và các nguyên nhân:
Bên cạnh những thành công đã đạt được, công ty dệt 19/5 Hà Nội cũng đang
đứng trước những hạn chế, đòi hỏi công ty phải tìm ra nguyên nhân và có những giải
pháp phù hợp để khắc phục .
Mặc dù đã có rất nhiều chính sách, thể hiện sự quan tâm tới đời sống vật chất
và tinh thần của cán bộ công nhân viên, biểu hiện là trong những năm gần đây thu
nhập bình quân của người lao động đã không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên mức
lương 1.540.000đ/tháng vào năm 2007 vẫn còn là thấp so với mặt bằng mức lương
nói chung của nền kinh tế (lương bình quân của các doanh nghiệp là từ 2 triệu đến
2,037 triệu đồng/tháng). Chính vì vậy thu nhập bình quân của người lao động vẫn là
một bài toán của công ty trong những năm sắp tới đòi hỏi công ty phải có những
quyết sách đúng đắn. Bởi lẽ lao động trong ngành dệt may cần phải có sức khoẻ tốt,
có trình độ tay nghề, phải làm việc trong môi trường độc hại…Trong khi đó, với mức
lương thấp như hiện nay thì công nhân cũng chưa thể đảm bảo cho cuộc sống sinh
hoạt hàng ngày, cho điều kiện chỗ ở, cho đời sống tinh thần, cho sức khỏe vì vậy
không có gì đảm bảo họ có sự cam kết gắn bó lâu dài của mình với doanh nghiệp, từ
đó ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp,
trong việc nâng cao hiệu quả lao động, giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm, làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, việc phải phân tán nguồn lực vào việc phát triển và mở rộng trên cả ba lĩnh
vực là sợi, dệt, may mặc đã khiến cho doanh nghiệp giảm khả năng cạnh tranh. Mặt
khác việc phải tiến hành các khoản đầu tư để xây dựng và phát triển hoạt động sản
xuất của mình, cũng đã khiến công ty đứng trước những nguy cơ rơi vào tình trạng
khó có khả năng thanh toán các khoản nợ.
Trong cơ cấu sản phẩm hiện nay của doanh nghiệp, thì doanh thu từ sản phẩm
vải đang chiếm một phần rất lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp. Điều này là
rất mạo hiểm, bởi khi có những biến động trên thị trường tiêu thụ sản phẩm vải, sẽ
trực tiếp ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp. Trong sản phẩm vải, doanh
15
nghiệp cũng phụ thuộc rất lớn vào dòng sản phẩm vải mộc (năm 2003 doanh thu của
sản phẩm vải mộc chiếm tới 95% tổng doanh thu các sản phẩm vải được tiêu thụ của
doanh nghiệp) là loại vải chưa qua khâu xử lý tẩy nhuộm, hấp, nhưng thị trường
những năm gần đây đang có xu hướng chuyển sang tiêu thụ các sản phẩm vải mộc, vì
vậy đây thực sự là một hạn chế mà doanh nghiệp phải có những biện pháp khắc phục.
Nguyên nhân là do, công ty đã có bề dày truyền thống, kinh nghiệm trong ngành dệt,
các sản phẩm vải của công ty, đặc biệt là các loại vải bạt mộc, cũng đã có uy tín trên
thị trường trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, hiện nay nguyên phụ liệu của công ty chủ yếu là nhập khẩu từ nước
ngoài. Do hiện nay nước ta mới chỉ cung cấp được khoảng 10% tổng nhu cầu bông,
bên cạnh đó chất lượng bông trong nước cũng chưa đảm bảo về mặt chất lượng,
chính vì vậy hầu hết nguyên phụ liệu bông phục vụ cho hoạt động của nhà máy được
nhập khẩu từ nước ngoài, vì vậy chịu ảnh hưởng của sự biến động của thị trường
bông quốc tế. Giá bông quốc tế hiện nay dao động trong khoảng: 1,5USD-1,7USD/
1kg bông. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo giá bông sẽ luôn ổn định. Và thực tế, việc
các nước trồng, sản xuất và xuất khẩu bông ở Châu Phi, và Mĩ la tinh đã kiện Mĩ lên
tổ chức thương mại thế giới (WTO) về chính sách trợ giá bông của quốc gia này, điều
đó báo hiệu một thị trường nguyên liệu bông có thể biến động bất cứ lúc nào.
quyết tiền lương, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động.
17
- Phòng KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá mua về và hàng sản xuất của
công ty, thường trực ISO.
- Phòng vật tư: Cung ứng vật tư cho sản xuất kinh doanh, bảo quản kho tàng, vận
chuyển hàng hoá.
- Phòng hành chính tổng hợp: Đảm bảo an ninh, an toàn trong công ty và chăm sóc
sức khỏe ban đầu cho người lao động.
Sơ đồ 1. Mô hình tổ chức bộ máy quản trị của doanh nghiệp :
(Nguồn: Phòng hành chính tổng hợp)
18
Phòng
hành
chính
tổng
hợp
Chủ tịch kiêm tổng
giám đốc
Phó tổng giám đốc
phụ trách kĩ thuật và
đầu tư
Phó tổng giám đốc
phụ trách kinh
doanh
Phó tổng giám đốc phụ
trách tài chính - nội
chính
Phòng
kế
hoạch
HCM
Nhà
máy
dệt Hà
Nội
Nhà
máy
sợi Hà
Nội
Nhà
máy
may
thêu
Hà
Nội
Nhà
máy
dệt Hà
Nam
Chi
nhánh
tại Hà
Nam
1.2. Cơ cấu tổ chức sản xuất.
Công ty có 04 nhà máy sản xuất, đó là :
* Nhà máy sợi Hà Nội: trụ sở hoạt động tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Quận Thanh
Xuân, TP.Hà Nội. Tại đây hiện đang sản xuất các loại sợi tổng hợp phục vụ cho nhà
máy dệt của doanh nghiệp và một phần bán ra ngoài thị trường.
* Nhà máy dệt Hà Nội: gồm một phân xưởng hoạt động tại số 89 đường Lĩnh Nam,
phường Lĩnh Nam, Quận Hoàng Mai, TP. Hà Nội và một phân xưởng hoạt động tại
công ty đã tiến hành liên doanh, liên kết và hợp tác sản xuất với:
* Các đối tác phía Singapore (Norfolk textile) trong liên doanh Norfolk Hatexco.
* Công ty TNHH Tập đoàn sản xuất hàng dệt may 19/5 Hà Nội.
* Công ty nhuộm Trung Thư.
2. Đặc điểm về sản phẩm.
Tuy hoạt động và kinh doanh trên nhiều lĩnh vực nhưng sản phẩm chủ lực,
đóng góp đáng kể vào tổng doanh thu của công ty là :
- Sản phẩm sợi tổng hợp: là sản phẩm công nghiệp (được sản xuất tại nhà máy sợi Hà
Nội) được sản xuất ra để phục vụ cho nhu cầu nguyên phụ liệu sợi tại các phân
xưởng dệt của doanh nghiệp (theo số liệu thống kê của nhà máy thì 30% đến 50% sợi
thành phẩm sản xuất ra là nguyên phụ liệu đầu vào cho các phân xưởng dệt của
doanh nghiệp), đồng thời một phần phục vụ cho các ngành công nghiệp dệt may,
công nghiệp da giày, công nghiệp sản xuất các loại bao tải...
Sản phẩm vải: bao gồm các loại vải công nghiệp và các loại vải tiêu dùng như: vải
bạt 2, vải bạt 3, vải bạt 8, vải bạt 10, vải phin, vải chéo, vải lọc, vải tẩy nhuộm. Được
sản xuất ra với nhiều kiểu dáng, chất lượng, mẫu mã và chủng loại khác nhau phục
vụ trên thị trường các yếu tố sản xuất, đối tượng khách hàng chủ yếu là các công ty
dệt và giày vải xuất khẩu. Đây chính là sản phẩm chủ lực của doanh nghiệp, đem lại
cho doanh nghiệp nguồn thu lớn trong tổng doanh thu của doanh nghiệp.
Ngoài ra, sản phẩm của công ty còn là các loại quần áo được sản xuất tại nhà máy
may thêu Hà Nội, phục vụ cho thị trường trong và ngoài nước.
Nhìn chung các sản phẩm của doanh nghiệp luôn được thiết kế và sản xuất dựa trên
nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Việc luôn định hướng các sản phẩm của mình
theo đối tượng khách hàng mục tiêu đã tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các sản phẩm
của doanh nghiệp với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đây cũng chính là triết
lý kinh doanh của công ty.
20
3. Đặc điểm về thị trường.
Trong thời kì bao cấp, hoạt động tiêu thụ của công ty chủ yếu dựa trên sự phân bố
của Nhà nước, sản phẩm chủ yếu khi đó cũng chỉ là các loại vải bạt phục vụ quốc
trên 10%
thị phần
Dệt Minh Khai 13,2% 3 14,1% 4 Tăng 1,1%
Dệt 19/5 Hà Nội 11,1% 4 15% 3 Tăng 3,9%
Dệt Vĩnh Phú 19% 1 21,5% 1 Tăng 2,5%
Dệt Phong Phú 16,7% 2 19,4% 2 Tăng 2,7%
Các công
ty chiếm
dưới 5%
thị phần
Công ty Phương
Nam
0,8% 8 2,56% 6 Tăng 1,76%
Dệt len Mùa
Đông
1,6% 7 3,2% 5 Tăng 1,6%
Nhuộm Tô Châu 5% 5 1,3% 8 Giảm 3,7%
Dệt kim Hà Nội 2,2% 6 1,9% 7 Giảm 0,3%
Sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài 30,4% 21,04% Giảm
9,36%
(Nguồn: Phòng kế hoạch thị trường)
Bốn doanh nghiệp có thị phần chiếm lĩnh hàng đầu trên thị trường (là những doanh
nghiệp chiếm trên 10% thị phần) đều có mức tăng trưởng về mặt thị phần. Tuy nhiên,
do có tốc độ tăng trưởng thị phần lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng về mặt thị phần
của công ty dệt Minh Khai nên công ty dệt 19/5 Hà Nội đã chuyển từ vị trí thứ 4 lên vị
trí thứ 3 trong bảng xếp hạng, chứng tỏ những hướng đi đúng đắn của doanh nghiệp
trong chiến lược sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp…Bốn
doanh nghiệp có mức thị phần dưới 5% đang diễn ra hai xu hướng: Trong khi Công ty
Phương Nam và Dệt len Mùa Đông có mức tăng trưởng thị phần khá ấn tượng, và nếu
như giữ được tốc độ tăng trưởng thị phần như vậy, thì đây sẽ là những đối thủ cạnh
Máy mắc Pháp 1 1966 15.600.000
Máy mắc TQ 2 1993 20.500.000
Máy dệt TQ 44 1966 8.000.000
Máy dệt UTAS 24 1999 6.500.000
Máy chải 3 1998 7.260.000
Máy ghép 1 1998 3.400.000
Máy thô 1 1998 7.200.000
Máy sợi con 4 1998 4.500.000
Máy thêu Úc 12 2003 20.000.000
(Nguồn : Phòng kĩ thuật )
* Nhà máy dệt Hà Nội: đặt tại 89 Lĩnh Nam quận Hoàng Mai, và Thôn Văn, xã
Thanh Liệt, Huyện Thanh Trì. Tại các phân xưởng này, hầu hết là các máy móc thiết
bị lạc hậu, đã được công ty sử dụng trong nhiều năm, nhiều máy đã hết thời gian
khấu hao, phần lớn là các máy móc được nhận viện trợ từ Trung Quốc, Liên Xô, các
nước Đông Âu từ thời bao cấp.
* Nhà máy sợi Hà Nội: hoạt động tại 203 Nguyễn Huy Tưởng, Thanh Xuân. Tại đây,
công nghệ sản xuất ở mức trung bình, 80% dây chuyền sản xuất được đầu từ năm
2000 trở lại đây, công nghệ chủ yếu là bán tự động, do Trung Quốc sản xuất.
- Năm 1998: công ty tiến hành đầu tư mở rộng phân xưởng sợi, tăng công suất của
dây chuyền sản xuất sợi lên 1500 tấn sợi/năm.
- Năm 2001: công ty tiến hành đầu tư mở rộng phân xưởng sợi, tăng công suất của
dây chuyền sản xuất sợi lên 1750 tấn sợi/năm.
- Năm 2007: công ty hoàn thành việc đầu tư mở rộng phân xưởng sợi, với công suất
dự kiến của dây chuyền sợi đạt 3000 tấn sợi/năm.
24
* Nhà máy may thêu Hà Nội: với một phân xưởng may (được đầu tư xây dựng vào
năm 2003 với công suất dự kiến 500.000 sản phẩm/năm) và một phân xưởng thêu
(được đầu tư xây dựng vào năm 2004 với công suất dự kiến 600.000.000 mũi
thêu/năm). Do mới được đầu tư nên dây chuyền sản xuất của hai phân xưởng được
đánh giá là khá hiện đại, hoạt động chính của hai phân xưởng là may thêu các sản