Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Nhà Nước một thành viên Cơ khí Hà Nội - Pdf 97

LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá trình gần 4 năm học tập ở trường, với sự giúp đỡ giảng dạy tận
tình của các thầy cô giáo, em đã hiểu khá đầy đủ về các vấn đề liên quan đến
nền kinh tế, đến sự phát triển và tồn tại của một doanh nghiệp cũng như các yếu
tố tác động đến nó.Bước vào nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có nhiều
cơ hội thuận lợi nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với không ít khó khăn và
khó khăn lớn nhất có lẽ là sức cạnh tranh gay gắt ở thị trường trong và ngoài
nước.
Trước tình hình đó, để tồn tại và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp phải
phát huy mọi lợi thế cạnh tranh của mình luôn luôn đổi mới, tìm tòi và lựa chọn
phương án sản xuất kinh doanh tối ưu. Đối với doanh nghiệp sản xuất việc nâng
cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm là tiền đề quan trọng giúp doanh
nghiệp đẩy mạnh tiêu thụ, tăng nhanh vòng quay của vốn và đem lại ngày càng
nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu phản ánh chất
lượng hoạt động sản xuất của doanh nghiệp nên luôn là những chỉ tiêu kinh tế
quan trọng được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm. Do đó công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một hoạt động thiết yếu đóng
vai trò quan trọng trong tất cả các công tác kế toán của doanh nghiệp sản xuất,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp tìm ra các biện pháp làm hợp lý hoá giá thành để
nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả
của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Nhà Nước một thành viên Cơ
khí Hà Nội, được đối chiếu với thực tế kết hợp với nhận thức của bản thân về
tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú trong công ty đặc biệt là
phòng kế toán và sự hướng dẫn trực tiếp của thầy Nguyễn Quốc Trân, em đã
1
nghiên cứu đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH Nhà Nước một thành viên Cơ khí Hà Nội”
Nội dung bài viết luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận gồm 3

đã hao phí.
2. Ph ân loại chi phí sản xuất
a) Ph ân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế (phân loại
theo yếu tố chi phí)
Chi phí sản xuất phân loại theo nội dung tính chất kinh tế được chia thành
5 loại:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm các loại nguyên vật liệu chính, vật
liệu phụ, nhiên liệu...doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất trong kỳ
4
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền công, phụ cấp và các khoản
trích trên tiền lương theo quy định của lao động trực tiếp sản xuất, chế tạo
sản phẩm, thực hiện công việc lao vụ trong kỳ.
- Chi phí khấu hao TSCĐ: Số trích khấu hao trong kỳ của toàn bộ TSCĐ
dùng vào sản xuất trong doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Gồm các khoản chi trả về các loại dịch vụ mua
ngoài , thuê ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất trong kỳ của doanh
nghiệp( như dịch vụ cung cấp điện, nước, sửa chữa TSCĐ...)
- Chi phí khác bằng tiền: Là toàn bộ chi phí bằng tiền chi cho hoạt động
sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp ngoài các loại chi phí đã kể trên.
 ý nghĩa cách phân loại trên
Việc phân loại CPSX theo nội dung, tích chất kinh tế có tác dụng to lớn
đối với việc quản lý chi phí của lĩnh vực sản xuất, cho phép hiểu rõ cơ
cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí là cơ sở để phân tích đánh giá tình hình
thực hiện dự toán CPSX, làm cơ sở cho việc dự trù hay xây dựng kế
hoạch cung ứng vật tư, tiền vốn, huy động sử dụng lao động.
b) Ph ân loại chi phí theo mục đích, công dụng (phân theo khoản muc )
Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất được chia thành các loại (thường gọi
là các khoản mục) sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại
nguyên vật liệu chính (kể cả nửa thành phẩm mua ngoài) vật liệu phụ, nhiên

xuất, như khấu hao máy móc thiết bị sản xuất, khấu hao nhà xưởng…
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi phí dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng (đội,
trại...) sản xuất như chi phí về điện nước, điện thoại, thuê sửa chữa TSCĐ…
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm các khoản chi bằng tiền ngoài các
khoản đã kể trên, sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng (đội,
trại...) sản xuất
 ý nghĩa cách phân loại:
6
Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ
cho việc quản lý chi phí theo định mức; là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình
hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức CPSX cho kỳ sau.
c) Ph ân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm(phân
loại theo quan hệ ứng xử của chi phí)
- Chi phí khả biến
Khái niệm: Là các chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay đổi mức độ
hoạt động. Khối lượng (hay mức độ) hoạt động có thể là số lượng sản phẩm
hoàn thành, số giờ máy hoạt động, số km thực hiện, doanh thu bán hàng thực
hiện.
Đặc điểm: - Xét về quy mô: Tổng chi phí khả biến tăng khi sản lượng
tăng và ngược lại( tỉ lệ thuận). Xét về một đơn vị sản phẩm: thì giữ nguyên
không đổi khi sản lượng tăng hoặc giảm
Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí khả biến:
+ Quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm, dịch vụ
+ Đặc điểm sản phẩm
+ Tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý
- Chi phí bất biến
Khái niệm: Là các chi phí mà tổng số không thay đổi cùng với sự thay đổi
về khối lượng hoạt động thực hiện.

- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếp đến việc sản
xuất một loại sản phẩm, một công việc, lao vụ hoặc một hoạt động, một địa
điểm nhất định và hoàn toàn có thể hạch toán, quy nạp trực tiếp cho sản phẩm,
công việc, lao vụ đó. Loại này thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí như
CPNVL trực tiếp, CPNC trực tiếp.
8
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, công
việc, lao vụ, nhiều đối tượng khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối
tượng bằng phương pháp phân bổ gián tiếp.
 ý nghĩa cách phân loại:
Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp kế toán
tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng được đúng đắn, hợp lý.
e) Ph ân loại theo cách thức kết chuyển của chi phí.
- Chi phí sản phẩm: Là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản
xuất ra hoặc được mua vào để bán lại. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, chi
phí sản phẩm bao gồm chi phí NVLTT, lao động trực tiếp và chi phí sản xuất
chung. Như vậy chi phí sản phẩm luôn gắn liền với sản phẩm và chỉ được thu
hồi khi sản phẩm tiêu thụ, còn khi chưa tiêu thụ thì chúng được nằm trong sản
phẩm tồn kho
- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ nào đó.
Nó không phải một phần giá trị sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua nên
được xem là các phí tổn, cần được khấu trừ ra từ lợi tức của thời kỳ mà chúng
phát sinh.
Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ khác nhau ở chỗ: Chi phí thời kỳ phát
sinh ở thời kỳ nào tính ngay vào thời kỳ đó, do đó chúng ảnh hưởng đến lợi tức
của kỳ mà chúng phát sinh. Nhà quản trị rất khó kiểm soát được chi phí thời kỳ
nếu để những chi phí này phát sinh quá mức cần thiết. Ngược lại, chi phí sản
phẩm chỉ tính ở kỳ mà sản phẩm được tiêu thụ. Chi phí sản phẩm cũng có ảnh
hưởng đến lợi tức doanh nghiệp. Nếu không tính đúng chi phí sản phẩm sẽ ảnh
hưởng đến nhiều kỳ, vì sản phẩm có thể được sản xuất ra kỳ này nhưng lại tiêu

cấp đối với những loại chi phí đó. Như vậy, các nhà quản trị cấp cao có nhiều
quyền quyết định và kiểm soát chi phí hơn.
10
Ví dụ chi phí tiếp khách sẽ là chi phí kiểm soát được của người quản lý
bán hàng nếu anh ta có quyền quyết định tổng số tiền và cách thức tiếp khách
hàng. Mặt khác, chi phí khấu hao phương tiện kho hàng không phải là chi phí
kiểm soát được của người quản lý bán hàng vì họ không có quyền quyết định
việc xây dựng kho hàng và như vậy thường ở các cấp quản lý thấp mới có những
chi phí không kiểm soát đựơc
Ngoài các cách phân loại trên còn có một số cách phân loại chi phí khác
nhằm mục đích ra quyết định.Bao gồm các chi phí
Chi phí chênh lệch: Mỗi phương án sẽ có một số chi phí liên quan và
chúng được đem so sánh với chi phí của các phương án khác. Một số chi phí ở
phương án này nhưng chỉ có một phần hoặc không có ở phương án khác cac loại
chi phí này được gọi là chi phí chênh lệch.
Chi phí cơ hội: Là lợi nhuận tiềm tàng bị mất đi khi chọn phương án hành
động này để thay thế một phương án hành động khác. Chi phí này không có trên
sổ sách kế toán nhưng chi phí này được xem xét một cách rõ ràng, dứt khoát
trong mọi quyết định của nhà quản lý. Tất cả mọi phương án hành động trước
mắt nhà quản lý đều là một sự hỗn hợp các nét đặc trưng tốt và xấu. Khi bỏ
phương án đang theo thì những điểm tốt có thể bị mất đi cùng các điểm xấu.
Điểm tốt thực của một phương án bị bỏ trở thành chi ph í cơ hội của phương án
được chọn.
Chi phí thích đáng và không thích đáng. Chi phí thích đáng cho việc ra
quyết định là mọi chi phí có thể tránh được. Đó là chi phí có thể hạn chế toàn bộ
hoặc một phần như là kết quả của sự lựa chọn giữa hai phương án trong một tình
huống ra quyết định. Tất cả các chi phí đều đươc xem là có thể tránh được ngoại
trừ các chi phí chìm( là loại chi phí doanh nghiệp phải chịu và vẫn sẽ phải chịu
dù DN chọn phương án hành động nào) và chi phí tương lai không chênh lệch
nhau giữa các phương án.

12
trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong
kỳ kế hoạch ( thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi
phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực
hiện kế hoạch giá thành
- Giá thành thực tế
Giá thành thực tế chỉ tính toán được sau khi kết thúc quá trình sản xuất,
chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành
đơn vị. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu
của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế - kỹ thuật-
tổ chức và công nghệ...để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác
định kết quả họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nghĩa vụ của
doanh nghiệp đối với nhà nước cũng như các đối tác liên doanh liên kết
 ý nghĩa cách phân loại này:
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định
được các nguyên nhân vượt( hụt) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó
điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp
b) C ăn cứ vào phạm vi phát sinh chi phí
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng)
Là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất
- Giá thành tiêu thụ(còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ)
Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến
việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức:
Giá thành toàn
bộ sản phẩm
=
Giá thành sản
xuất sản phẩm
+

trong kỳ.
Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi
phí tính vào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan
điểm tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định của
chế độ quản lý kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Những quan điểm
14
Giá thành
sản phẩm
Trị giá
sản
phẩm
làm dở
đầu kỳ
Tổng chi
phí sản
xuất phát
sinh trong
kỳ
Trị giá
sản
phẩm
làm dở
cuối kỳ
= + -
và quy định đó đôi khi không hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá
thành sản phẩm, đòi hỏi các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ
ràng đầy đủ dể sử dụng thông tin cho thích hợp.
Trong công thức tính giá thành sản phẩm nêu trên, giá thành sản phẩm
được hiểu là giá thành sản xuất, chi phí bao gồm các chi phí liên quan đến quá
trình sản xuất, chế tạo sản phẩm; không bao gồm chi phí liên quan đến việc tiêu

trong doanh nghiệp
- Khả năng trình độ quản lý, hạch toán.
Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất kiểu đơn chiếc thì từng sản phẩm,
công việc… là một đối tượng tính giá thành (ví dụ từng công trình, từng hạng
mục công trình trong doanh nghiệp XDCB, từng con tàu trong công nghiệp đóng
tàu). nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất hàng loạt thì từng loại sản phẩm, từng
đơn đặt hàng… là một đối tượng tính giá thành (ví dụ từng loại bàn, ghế trong
doanh nghiệp mộc; từng loại máy công cụ trong doanh nghiệp cơ khí chế tạo…).
Trường hợp doanh nghiệp tổ chức sản xuất nhiều với khối lượng lớn thì mỗi loại
sản phẩm là một đối tượng tính giá thành (Ví dụ: từng loại bánh kẹo trong doanh
nghiệp bánh kẹo, từng loại vải trong công nghiệp dệt…).
Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo cũng có ảnh hưởng quyết định đến
việc xác định đối tượng tính giá thành. Nếu doanh nghiệp có quy trình sản xuất
giản đơn thì đối tượng tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành
của quá trình sản xuất. ở những sản phẩm có quy trình công nghệ phức tạp kiểu
liên tục thì tùy theo yêu cầu quản lý, đặc điểm sử dụng nửa thành phẩm (bán ra
ngoài, nhập kho…) và khả năng tính toán mà đối tượng tính giá thành có thể chỉ
là thành phẩm hòan thành ở giai đoạn cuối cùng và cũng có thể bao gồm cả
thành phẩm và nửa thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ. Đối với sản phẩm
16
có quy trình công nghệ phức tạp kiểu song song thì đối tượng tính giá thành có
thể là từng bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc sản phẩm lắp ráp hoàn chỉnh.
Các yêu cầu quản lý, đặc biệt là yêu cầu thông tin cần thiết cho việc ra các
quyết định kinh doanh trong quản trị doanh nghiệp cũng là một căn cứ quan
trọng trong việc xác định đối tượng tính giá thành. Điều này thể hiện rõ tính mục
đích cụ thể của thông tin kế toán. Tuy nhiên, việc xác định đối tượng tính giá
thành cụ thể như thế nào (mức độ tổng hợp hay chi tiết…) còn phụ thuộc vào
khả năng quản lý nói chung và trình độ hạch toán của doanh nghiệp.
c) M ối quan hệ giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm

 Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: Trình độ cao
hay trình độ thấp.
Với trình độ cao Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm ở các góc độ khác nhau ngược lại với trình độ thấp thì đối tượng đó có thể
bị hạn chế và thu hẹp lại.
2.Phương pháp hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
a)Ph ương pháp hạch toán CPSX
- Khái niệm: Phương pháp hạch toán CPSX là một phương pháp hay
hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các CPSX
trong phạm vi, giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí
- Phân loại: Phương pháp hạch toán chi phí bao gồm các phương pháp
hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công
nghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm...Như vậy, tên gọi của phương
pháp hạch toán chi phí sản xuất là tên gọi của đối tượng hạch toán chi phí sản
xuất
18
- Nội dung chủ yếu: là kế toán mở sổ chi tiết hạch toán chi phí sản
xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên
quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng
b)Ph ương pháp chung tính giá thành sản phẩm
- Khái niệm: Là một phương pháp hoặc hệ thống phương pháp được sử
dụng để tính giá thành của đơn vị sản phẩm, mang tính thuần tuý kỹ thuật tính
toán chi phí cho từng đối tượng tính giá thành.
- Phân loại:
Tuỳ theo đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm cũng như yêu
cầu và trình độ của công tác quản lý, công tác kế toán của từng doanh nghiệp,
từng loại hình sản xuất cụ thể ,kế toán có thể sử dụng một trong các phương
pháp tính giá thành mang tính kỹ thuật- nghiệp vụ sau:
 Kế toán tính giá thành sản phẩm theo quá trình sản xuất.
Theo phương pháp này, đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất xác

=
Trong đó:
z : Giá thành đơn vị của loại sản phẩm
q : Số lượng sản phẩm hoàn thành
Trường hợp quy trình công nghệ sản xuất không có sản phẩm làm dở (sản
xuất điện, nước) hoặc sản phẩm làm dở ít và ổn định nên không đánh giá thì Z
sản
xuất
= C
Điều kiên áp dụng phương pháp này:
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình
sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ
sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác( quặng,
than, gỗ…
Đối tượng hạch toán CPSX là từng loại SP riêng biệt
Đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm và đơn vị sản phẩm hoàn thành
Kỳ tính giá thành thường cuối hàng tháng, hàng quý.
* Ph ương pháp tính giá thành theo hệ số:
Nếu gọi các loại sản phẩm là A, B, C...
Hệ số giá thành của từng loại là H
A
, H
B
, H
C
...
Sản lượng thực tế của từng loại sản phẩm là Q
A
, Q
B

Q
.
Q
Z
z
A
A
H
L
A
=
Điều kiện áp dụng
Trong trường hợp cùng một quy trình công nghệ sản suất, cùng sử dụng
một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng sản xuất ra nhiều loại sản
phẩm chính khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm
được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất( VD: Trong công nghiệp
hóa chất)
*Ph ương pháp tính gía thành theo tỷ lệ
áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy
cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giày, cơ khí chế
tạo( dụng cụ, phụ tùng)... để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến
hành tập hợp CPSX theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí
giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch( hoặc định mức), kế
toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm từng loại
* Ph ương pháp tính giá thành loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ
áp dụng cho các doanh nghiệp trong cùng quy trình công nghệ sản xuất
vừa thu được sản phẩm chính lại vừa thu được sản phẩm phụ( Các doanh nghiệp
chế biến đường, rượu, bia, mỳ ăn liền…)
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ sản
xuất, đối tượng tính giá thành là sản phẩm chính hoàn thành.

Sơ đồ công nghệ sản xuất chế tạo theo phương pháp phân bước có tính giá
thành nửa thành phẩm
* Phương pháp phân bước không tính giá thành nửa thành phẩm
(phương pháp phân bước kết chuyển chi phí song song)
- Điều kiện áp dụng: Đối tượng tính giá thành chỉ là thành phẩm ở giai đoạn chế
biến cuối cùng.
23
Chi phí
NVL
Chi phí
chế biến
bước 1
Giá
thành
bán
thành
phẩm
bước 1
Kho BTP 1
Bán ra
ngoài
BTP bước 1
Chi phí chế
biến bước 2
Giá
thành
bán
thành
phẩm
bước

theo ĐĐH thành giá thành sản xuất thực tế của ĐĐH đó.
Mối quan hệ giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất, đối tượng
tính giá thành và phương pháp tính giá thành
Đối tượng hạch
toán CPSX
Đối tượng tính giá
thành
Phương pháp tính giá thành
24
Chi phí
NVLC
Chi phí
bước 1
Chi phí
bước n-1
Chi phí
bước n
Tổng giá thành sản phẩm
Từng SP, từng công
trình
Chính là từng SP,
từng công trình
Phương pháp giản đơn. Trong DN
sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng
ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu
kỳ sản xuất ngắn
Nhóm sản phẩm
(A,B…)
Từng SP A,B…
trong nhóm

cùng
Phương pháp phân bước không tính
giá thành nửa thành phẩm
Từng đơn đặt hàng Từng đơn đặt hàng Phương pháp tính giá thành theo
công việc ( theo đơn đặt hàng)
3.Nhi ệm vụ hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
Với chức năng thông tin và kiểm tra về chi phí và giá thành làm cơ sở cho
việc đánh giá và đề ra các quyết định kinh doanh, hạch toán CPSX và tính giá
thành sản phẩm phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yêú sau:
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời các chi phí phát sinh thực tế trong
quá trình sản xuất tại các phân xưởng, bộ phận sản xuất
25

Trích đoạn Kiểm kờ, đỏnh giỏ sản phẩm dở dang cuối kỳ – tớnh giỏ thành sản phẩm hoàn thành. Một số nhận xột về cụng tỏc kế toỏn chi phớ và tớnh giỏ thành sản phẩm tại Cụng ty TNHH nhà nước một thành viờn Cơ khớ Hà Nộ PHẦN KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status