ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRƯƠNG THỊ BÍCH
PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI KINH NGHIỆM SO SÁNH PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC VÀ
NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CHO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Bá Chiến
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật quốc tế
Mã số
: 60 38 60
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
1
1.1.2.
1.1.3.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
1.4.3.
1.4.4.
1.5
Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
Hàng hóa và hành vi mua bán hàng hóa trong quan hệ mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Thương nhân nước ngoài
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
Khái quát về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
Khái niệm, đặc điểm của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài
Xung đột pháp luật trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài
Quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài theo pháp luật và thông lệ quốc tế
Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
21
23
3.2.1.
26
3.2.2.
42
44
44
45
45
47
52
3.2.3.
3.3.
3.3.1.
3.3.2.
52
3.3.3.
52
65
68
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
Sự cần thiết và những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
Những phương hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật
Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng về
hội nhập kinh tế quốc tế
Hoàn thiện pháp luật vè hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài của Việt Nam cần đảm bảo sự phù hợp
với các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam
Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài của Việt Nam cần đảm bảo sự phù hợp với
pháp luật, thông lệ quốc tế và cần phải đặt trong giải pháp tổng
thể với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại
Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Hoàn thiện các quy định về quan hệ tiền hợp đồng trong giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Hoàn thiện các quy định về xử lý xung đột pháp luật và lựa
chọn luật áp dụng đối với hợp đồng trong giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Thực hiện hợp lý các điều ước quốc tế liên quan đến hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
4
tạp và còn có những mới mẻ cả về phương diện lập pháp và áp dụng trong thực
thương mại mà còn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại nói
riêng và hệ thống pháp luật kinh tế ở Việt Nam nói chung.
Nghiên cứu so sánh pháp luật Việt Nam và Trung Quốc về giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong sự tham chiếu với các quy
định của pháp luật, thông lệ quốc tế để nhận thấy những điểm chung, nét tương
đồng, sự khác biệt, nét đặc thù trong pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa với thương nhân nước ngoài của Trung Quốc - quốc gia láng giềng có nhiều
đặc điểm tương tự về kinh tế, văn hóa, xã hội, có chung đường biên giới trên bộ và
trên biển, có mối quan hệ lâu đời, nhiều mặt với Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn
của nghiên cứu này càng được khẳng định trong bối cảnh Trung Quốc trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2001,
có nhiều kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật thành công trong lĩnh vực giao kết
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài phù hợp với thông lệ quốc tế.
Từ những phân tích trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài "Pháp luật về giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài - Kinh nghiệm
so sánh pháp luật Trung Quốc và những định hướng hoàn thiện cho pháp
tiễn đòi hỏi phải được nghiên cứu. Nhiều quy định của pháp luật về giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài vẫn chưa tạo ra cơ sở pháp
lý quan trọng cho việc xác lập quan hệ mua bán hàng hóa với nước ngoài, chưa
thực sự thể hiện được đầy đủ chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ
kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập. Những bất cập này cần phải được loại bỏ
để phát huy hơn nữa vai trò của pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng
luật Việt Nam" cho luận văn thạc sĩ luật học.
hóa với thương nhân nước ngoài trong giai đoạn mới, thích ứng với yêu cầu hội
nhập kinh tế quốc tế. Từ thực tiễn và kinh nghiệm của các nước nói chung và
6
Thứ hai, nghiên cứu về lựa chon luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài;
mại của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2002. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề này đều quan niệm quá
Thứ ba, nghiên cứu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài;
trình giao kết phải trải qua hai giai đoạn là đề nghị giao kết hợp đồng và chấp
nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Thứ tư, nghiên cứu về các giai đoạn của giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa với thương nhân nước ngoài.
Nhiều nhà khoa hoc đã tiếp cận một số chủ đề riêng biệt liên quan đến giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài: ví dụ PGS.TS Trần Đình Hảo
Về quan niệm và việc xác định các tiêu chí của hợp đồng mua bán hàng hóa
đề cập đến thương nhân trong thương luật Mỹ, PGS.TS Phạm Hữu Nghị đề cập
với thương nhân nước ngoài, đã có nhiều công trình đề cập trong đó tiêu biểu là
tới pháp luật xuất nhập khẩu của Mỹ trong cuốn sách: "Bước đầu tìm hiểu pháp
Giáo trình Luật thương mại (năm 2002), Giáo trình Tư pháp quốc tế, của Khoa
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài chưa được các công trình
Nghĩa... trong các Giáo trình Luật Thương mại và Giáo trình Tư pháp quốc tế nêu
nêu trên khai thác hoặc khai thác chưa đầy đủ như quan hệ tiền hợp đồng, vấn đề
trên đã nêu bật các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
lựa chọn luật áp dụng và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng...
nhân nước ngoài. Trong nghiên cứu của mình, PGS.TS Nguyễn Bá Diến đã chỉ ra
Như vậy có thể nói, liên quan đến đề tài nghiên cứu nói trên, hiện nay có
rằng, pháp luật của mỗi nước có những quy định khác nhau về các điều kiện có hiệu
nhiều công trình nghiên cứu có giá trị được tiến hành. Tuy nhiên, cần phải khẳng
lực của hợp đồng và khi giải quyết về xung đột pháp luật về điều kiện hiệu lực của hợp
định rằng, lĩnh vực nghiên cứu này vẫn tồn tại một số vấn đề đang còn tranh
đồng, pháp luật nước ngoài áp dụng riêng biệt của hợp đồng.
luận cần tiếp tục làm rõ trong điều kiện hiện hành ở Việt Nam như:
Về các giai đoạn của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
+ Hiệu lực pháp lý của quan hệ tiền hợp đồng và trách nhiệm đối với hành vi
Ngoài ra, đề tài còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính phổ
Mục đích của đề tài là luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp
biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
với thương nhân nước ngoài ở Việt Nam do các điều kiện kinh tế, lịch sử cụ thể
ngoài; tiến hành phân tích, đánh giá so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật của
chi phối. Đề tài cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên
Trung Quốc về pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
thương nhân nước ngoài; qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật
5. Ý nghĩa và điểm mới của đề tài
Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
+ Đề tài cũng đề cập tới quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợp đồng
nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn khách quan trong điều kiện kinh tế thị
mua bán hàng hóa với thương nhân Trung Quốc. Khác với các cách tiếp cận
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài trên các tiêu chí: tổng quan về điều
+ Chỉ rõ những khác biệt giữa pháp luật nước ngoài và pháp luật Trung Quốc
chỉnh pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, các rủi ro cần
ngoài, chế độ trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm; xử lý xung đột pháp luật và
quan tâm khi giao kết hợp đồng và cách giải quyết những vấn đề đó. Luận giải và chỉ
lựa chọn luật áp dụng đối với giao dịch thương mại với thương nhân nước ngoài;
rõ đặc thù về vấn đề xung đột pháp luật trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài;
hàng hóa với thương nhân Trung Quốc, theo đó có những luật áp dụng có thể
+ Đề xuất các khuyến nghị những định hướng hoàn thiện cho pháp luật Việt
Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài.
được thỏa thuận để điều chỉnh hợp đồng trong giai đoạn giao kết hợp đồng,
nhưng cũng có luật áp dụng không được thỏa thuận vào thời điểm này mà có thể
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
được xác định cụ thể sau đó, đồng thời chỉ ra những phương thức chung trong
lực của hợp đồng, lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng... Đặc biệt đề tài đưa ra
hàng hóa. Mọi việc mua bán (trừ việc mua bán quyền sử dụng đất) đều làm
những phân tích và bình luận về những vấn đề nổi cộm của giao dịch với thương
chuyển dịch quyền sở hữu đối với hàng hóa. Tuy nhiên, khác với hành vi mua
nhân Trung Quốc nhưng còn ít được nghiên cứu ở Việt Nam như cấm vận, rửa tiền,
bán khác, hành vi mua bán hàng hóa do thương nhân thực hiện với tư cách là
mối quan hệ giữa luật công quốc gia và luật tư quốc gia... và tác động của những
thương nhân làm thay đổi chủ sở hữu hàng hóa là loại tài sản thuộc phạm vi áp
vấn đề này tới hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài.
dụng các quy định của pháp luật thương mại.
Có thể thấy rõ, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
có những đặc trưng riêng so với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước.
Những nét đặc thù này có thể nhận thấy thông qua nhiều yếu tố như: về luật điều
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về giao kết hợp đồng mua
hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Theo quan niệm của hầu hết pháp luật ở các nước trên thế giới, hành vi mua
bán hàng hóa có một đặc trưng sau đây:
Một là, bằng hành vi cụ thể quy định, hợp đồng bán hàng có thể được ký
kết bằng văn bản hoặc bằng thỏa thuận miệng hoặc một phần của hợp đồng thỏa
11
quyền, nghĩa vụ của công ty nước ngoài.
Như vậy, cho dù các nước trên thế giới có cách tiếp cận khác nhau và cách
gọi tên khác nhau đối với thương nước ngoài, nhưng điểm chung có thể nhận
thấy là các nước đều quan niệm thương nhân nước ngoài là chủ thể cư trú, sinh
sống bên ngoài lãnh thổ nước đó, được tổ chức theo một quyền tài phán khác
hoặc được thành lập ở nước ngoài.
12
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
Qua khái niệm trên, có thể thấy giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài có những nét đặc trưng sau đây:
Là một nội dung quan trọng của pháp luật thương mại quốc tế, hợp đồng
Thứ nhất, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài được ghi nhận trong nhiều điều
nhân nước ngoài
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
Theo hiểu biết chung, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài được coi là đã được xác lập khi thỏa mãn hai điều kiện:
Một là, các bên đạt được sự thỏa thuận các nội dung cần giao dịch trên tinh
thần tự nguyện, thiện chí và trung thực.
Hai là, sự thỏa thuận mà các bên đạt được phải được thể hiện dưới một
hình thức nhất định phù hợp với quy định của pháp luật hoặc phù hợp với sự
thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng.
Như vậy, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài là quá trình giữa các thương nhân có trụ sở thương mại ở các nước khác
nhau và/hoặc có quốc tịch khác nhau, mà kết quả cuối cùng của quá trình đó là
sự thống nhất ý chí của các bên về các nội dung cần giao dịch dưới hình thức
nhất định.
hợp đồng, sự điều chỉnh pháp luật đối với hàng hóa được xuất khẩu và nhập
khẩu theo hợp đồng, sự điều chỉnh pháp luật các nước đối với các thương nhân
là các bên của hợp đồng, thẩm quyền của cơ quan tài phán trong giải quyết tranh
chấp, cũng như tìm kiếm thông tin về đối tác…
Thứ ba, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
có sự thống nhất ý chí của các bên về các nội dung cần giao dịch, ví dụ, giá cả,
điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán, bảo hiểm, hợp đồng mẫu, điều kiện
chất lượng...
Thứ tư, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài được xác
lập dưới hình thức nhất định. Tuy nhiên, những đòi hỏi về hình thức của hợp
đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài thông thường được quy
định ngặt nghèo hơn so với các quy định về hình thức của hợp đồng mua bán
hàng hóa trong nước.
Có thể khẳng định rằng, quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
Nhân tố quan trọng đầu tiên khi xem xét quan hệ tiền hợp đồng là lời mời
của đạo luật. Tuy nhiên, nhìn chung pháp luật các nước đều thống nhất ở những
giao kết hợp đồng. Lời mời giao kết hợp đồng không phải là một đề nghị giao
điểm sau đây:
kết hợp đồng mà chỉ là một sư bày tỏ ý định thương lượng để đi đến tạo lập đề
Một là, các nước đều tôn trọng quyền tự do lựa chọn luật áp dụng đối với
hợp đồng của các bên có liên quan;
nghị giao kết hợp đồng. Lời mời giao kết hợp đồng thông thường là điểm khởi
đầu của quá trình đàm phán hợp đồng. Lời mời giao kết hợp đồng có thể thể hiện
Hai là, trong trường hợp các bên không lựa chọn được luật áp dụng đối với
hợp đồng, luật được áp dụng là luật có mối quan hệ gần gũi nhất với hợp đồng.
Ba là, luật được áp dụng có thể là luật của nước nơi người bán cư trú.
dưới nhiều dạng khác nhau như quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hóa, catalogue.
Các tài liệu ghi nhận và làm thuận tiện giao dịch
Một hình thức có thể được sử dụng trong đàm phán các hợp đồng mua bán
Việc lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong pháp luật các nước là các tài liệu ghi
nhân nước ngoài được ghi nhận trong nhiều điều ước và văn kiện quốc tế. Sự ra
Trên thế giới có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với các quan hệ tiền hợp
đồng, nhưng nhìn chung các cách tiếp cận này đều cho thấy quan hệ tiền hợp
đồng bao gồm các vấn đề sau đây:
hợp pháp, gây thiệt hại cho bên kia trong quan hệ tiền hợp đồng
- Trách nhiệm đối với việc vi phạm nghĩa vụ trung thực, thiện chí trong
quan hệ tiền hợp đồng;
- Trách nhiệm đối với hành vi vi phạm các nghĩa vụ khác trong quan hệ tiền
hợp đồng
1.4. Điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương
nhân nước ngoài
1. Hiệu lực của lời mời giao kết hợp đồng (ví dụ, quảng cáo, trưng bày giới
thiệu hàng hóa)
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm riêng của giao dịch với thương nhân nước
ngoài, ngoài những điều kiện chung đối với hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng
2. Các công cụ làm thuận tiện giao dịch (ví dụ, thư trao đổi sự hiểu biết lẫn
nhau, thư trao đổi ý định);
hóa với thương nhân nước ngoài có những nét đặc thù. Những nét đặc thù về
điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
3. Đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
15
ngoài có hiệu lực pháp lý thể hiện thông qua những điều kiện sau đây: Điều kiện
ngoài phải thuộc diện đối tượng có thể giao dịch được, không thuộc loại hàng hóa bị
Những cơ sở pháp lý này thể hiện trước hết thông qua quy định về bồi thường
cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, không thuộc diện bị hạn chế xuất, nhập khẩu.
thiệt hại, việc ghi nhận nguyên tắc trung thực, thiện chí, tự do giao kết hợp
1.4.3. Điều kiện về nội dung của hợp đồng
đồng, những trường hợp hợp đồng để được giao kết cần phải có sự chấp thuận
Liên quan đến nội dung của hợp đồng còn cần nhắc đến những thỏa thuận
trước, các quy định về quảng cáo, triển lãm, trưng bày, giới thiệu hàng hóa …
của các bên trong hợp đồng nhằm những mục đích nhất định như rửa tiền hay tài
Cùng với cách tiếp cận nêu trên, Luật hợp đồng của Trung Quốc 1999 đã
trợ cho hoạt động khủng bố. Đây là những hành vi xuất hiện nhiều trong thời
nêu rõ các nguyên tắc cơ bản khi xác lập hợp đồng như: bình đẳng (Điều 3),
gian gần đây trong giao lưu quốc tế.
quyền tự nguyện giao kết hợp đồng (Điều 4), công bằng (Điều 5) và lành mạnh
1.4.4. Điều kiện về hình thức của hợp đồng
Như vậy, trên thực tế không một hệ thống pháp luật nào lại miễn trừ hoàn
(b) Người có liên quan của những người nêu ở điểm a;
(c) Người quản lý công ty mẹ, người có thẩm quyền bổ nhiệm người quản
lý công ty mẹ;
(d) Người có liên quan của người quy định tại điểm c.
thương mại và pháp luật quốc gia.
17
18
Đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận lời đề nghị
Một nội dung khác trong việc điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với
quan hệ tiền hợp đồng là đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao
+ Pháp luật Việt Nam chưa có những quy định cụ thể về lựa chọn luật áp
dụng đối với các quan hệ tiền hợp đồng trong giao kết hợp đồng có yếu tố
nước ngoài.
kết hợp đồng. Việc giao kết hợp đồng được thể hiện thông qua một đề nghị
+ Các quy định hiện hành của Việt Nam về quảng cáo, trưng bày, giới thiệu
giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Theo pháp luật
hàng hóa, hội chợ, triển lãm thương mại... chưa cho phép làm rõ những trường
Việt Nam, đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp
đồng, pháp luật Việt Nam cũng có một số quy định đề cập đến chế độ trách nhiệm
hiện hành của pháp luật Việt Nam chưa cho phép lý giải đầy đủ những vấn đề
đối với các hành vi vi phạm không phát sinh từ hợp đồng.
này. Nhìn chung, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng
Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
đã quy định về chế độ trách nhiệm đối với việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng theo các Điều 604, 605 và 608.
và cụ thể về luật áp dụng đối với các quan hệ tiền hợp đồng.
+ Pháp luật Việt Nam chưa làm rõ được những trường hợp như một bên
đưa ra một lời mời chào để xúc tiến bán một loại hàng hóa thì pháp luật nào
Khác với cách tiếp cận của pháp luật hợp đồng của Việt Nam, Luật hợp
được áp dụng để điều chỉnh hành vi này, cũng như nếu một bên có hành vi lừa
đồng của Trung Quốc năm 1999 cũng có quy định chi tiết về trách nhiệm bồi
dối làm ảnh hưởng đến quyền lợi của một bên tham gia quan hệ nêu trên thì chế
thường thiệt hại trong giai đoạn tiền hợp đồng. Theo đó, nghĩa vụ bồi thường
độ trách nhiệm được giải quyết như thế nào, hệ thống pháp luật nào có thể được
thiệt hại sẽ phát sinh trong các trường hợp sau, khi một Bên:
pháp luật các nước và thông lệ quốc tế. Các yêu cầu về điều kiện hiệu lực của
19
20
hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài về cơ bản cũng được
xem xét với các nội dung sau đây:
+ Yêu cầu về hình thức của hợp đồng;
+ Yêu cầu về nội dung của hợp đồng;
+ Yêu cầu về chủ thể của hợp đồng;
+ Yêu cầu về đối tượng của hợp đồng;
Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc điểm đặc thù của hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài với hợp đồng mua bán hàng hóa trong
nước, những yêu cầu về điều kiện hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài ở Việt Nam và Trung Quốc có những nét đặc thù riêng.
2.3.1. Các quy định về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
Việc chỉ ra cụ thể và rõ ràng những yêu cầu bắt buộc về hình thức đối với
hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là nét đặc thù của Việt
Nam so với pháp luật các nước và thông lệ quốc tế. Theo Luật hợp đồng của
Trung Quốc năm 1999 và thông lệ quốc tế không đưa ra những quy định có tính
bắt buộc như pháp luật Việt Nam về hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tiễn áp
dụng pháp luật nói chung và xét xử nói riêng ở Trung Quốc cũng đang cho thấy
yêu cầu về hình thức đối với hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài ngày càng trở nên phổ biến và tồn tại trong nhiều đạo luật chuyên ngành
như: tín dụng, bảo hiểm, logistics....
2.3.2. Các quy định về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa với
Cả Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995 và Luật
Thương mại năm 1997 đều quy định những nội dung chủ yếu của hợp đồng,
trong đó Luật Thương mại năm 1997 cũn quy định thêm những nội dung chủ
yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài. Theo pháp
luật Việt Nam hiện hành, tùy theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận
về những nội dung sau đây (Bộ luật Dân sự, Điều 402):
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA VỚI THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI
3.1 Sự cần thiết và những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua
22
bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài là một yêu cầu mang tính tất yếu
khách quan vì những lý do cơ bản sau đây:
Thứ nhất, do những đòi hỏi khách quan của điều kiện kinh tế - xã hội trong nước.
Thứ hai, do những yêu cầu khách quan của việc hội nhập kinh tế quốc tế và
gia nhập WTO.
Thứ ba, do những điểm không phù hợp với thực tiễn kinh tế xá hội và hội
nhập quốc tế của pháp luật hiện hành về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài.
3.2. Những định hướng cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài
- Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chính sách của Đảng về hội nhập
kinh tế quốc tế.
+ Xây dựng và ban hành quy định về lời mời đưa ra đề nghị giao kết hợp
đồng và giá trị pháp lý của những lời mời này
+ Xây dựng và ban hành các quy định về giá trị pháp lý của các quan hệ có
tính chất tiến triển hướng tới việc giao kết hợp đồng nhưng trên thực tế hợp đồng
không được giao kết
+ Xây dựng và ban hành các quy định xác định cụ thể giá trị pháp lý của
các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán hợp đồng
+ Xây dựng và ban hành các quy định về chế độ trách nhiệm đối với những
hành vi xâm phạm quan hệ tiền hợp đồng
3.3.2. Hoàn thiện các quy định về xử lý xung đột pháp luật và lựa chọn
luật áp dụng đối với hợp đồng trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài
Thứ nhất, pháp luật hiện hành của Việt Nam đối với các tiêu chuẩn về kỹ
thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm ... là chưa đầy đủ, lạc hậu với yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế.
Thứ hai, pháp luật Việt Nam chưa làm rõ được trường hợp giao dịch được diễn
ra giữa một chi nhánh của thương nhân nước ngoài và một doanh nghiệp Việt Nam .
Thứ ba, khi điều chỉnh các giao dịch kinh doanh, pháp luật phản ánh, trực
tiếp hoặc gián tiếp, những giá trị đạo đức mà người kinh doanh cần phải hành
động khi quan hệ với người khác.
Thứ tư, pháp luật Việt Nam chưa làm rõ được hiệu lực pháp lý của những
giao dịch kinh doanh đối với đối tác nước ngoài được pháp luật, thông lệ quốc tế
xem là trái pháp luật:
+ Pháp luật Việt Nam chưa làm rõ được hiệu lực pháp lý của những giao
dịch kinh doanh đối với đối tác nước ngoài nhưng trong trường hợp bị nước đó
cấm vận.
24
khi hợp đồng được giao kết, quan hệ giữa các bên cũng có thể kéo theo những nghĩa
vụ nhất định. Vì lẽ đó, nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài không thể không tính đến các vấn đề nêu
trên và cần được tiến hành một cách toàn diện bao gồm cả các qui định pháp luật về
thương nhân nước ngoài, các quy định về quan hệ hợp đồng, điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng, phương thức giao kết hợp đồng, các quy định về xung đột pháp luật…
4. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới của Việt Nam, pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
với thương nhân nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Có thể khẳng định pháp
luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài đã thể
chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc điều chỉnh pháp
luật về giao kết hợp đồng, tạo lập khung pháp lý đảm bảo quyền tự do hợp đồng.
5. Nhìn chung, pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với
thương nhân nước ngoài của Việt Nam đã thể hiện được những thay đổi tích cực
phù hợp với điều kiện hoàn cảnh Việt Nam và nhiều quy định phù hợp với pháp
luật và thông lệ quốc tế, ví dụ các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng... Tuy
nhiên, một số quy định cụ thể về giao kết hợp đồng vẫn còn bộc lộ những bất
cập nhất định, trong đó quan trọng có thể kể đến là các quy định về quan hệ tiền
hợp đồng, các quy định liên quan đến các xu hướng mới hiện nay trong quan hệ
thương mại với nước ngoài như chống rửa tiền, cấm vận...
6. Nhìn chung, doanh nghiệp Việt Nam đã có ý thức tìm hiểu pháp luật và
thông lệ quốc tế khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước
ngoài, nhưng những hiểu biết của doanh nghiệp Việt Nam vẫn phần nào còn hạn
chế. Điều này dẫn tới sự hạn chế trong việc tìm kiếm thông tin về chủ thể giao
kết hợp đồng, lựa chọn luật điều chỉnh hợp đồng và chưa làm quen với những
thông lệ mới nhất trong giao dịch hàng hóa với nước ngoài.
7. Từ sự cần thiết của việc phải nhanh chóng hoàn thiện pháp luật về giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài trong điều kiện