Pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại năm 2005. Thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ Hùng Hòa - Pdf 35

LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Kinh tế - Luật Trường Đại Học Thương Mại và
sự đồng ý của Cô giáo hướng dẫn - Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình, tác giả đã thực hiện đề
tài: “Pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại
năm 2005. Thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ
Hùng Hòa”.
Để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp cuối khóa với đề tài: “Pháp luật về
thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo Luật thương mại năm 2005. Thực
tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ Hùng Hòa”, bên
cạnh sự nỗ lực của bản thân, trong thời gian thực tập tại công ty, tác giả đã nhận được
sự giúp đỡ nhiệt tình từ phía cán bộ và nhân viên của công ty. Xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên công ty đã giúp tác giả
có được một khoá thực tập thật bổ ích .
Về mặt kiến thức chuyên ngành, tác giả xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo
– Tiến sĩ Nguyễn Thị Tình, sự tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện của cô đã giúp tác giả
rất nhiều trong quá trình hoàn thành khóa luận.
Mặc dù đã cố gắng, tuy nhiên do trong thời gian thực tập chưa nhiều, việc nắm
bắt thực tế chưa sâu nên bài khóa luận thực tập tổng hợp không thể tránh khỏi một số
thiếu sót. Vì vậy tác giả kính mong nhận được sự quan tâm và giúp đỡ từ Quý Thầy
Cô để bài khóa luận của tác giả được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

1

1


MỤC LỤC

2


nằm ngoài xu hướng đó, điều đó đã được thể hiện rõ trong quá trình xúc tiến gia nhập
tổ chức thương mại quốc tế WTO trong năm 2006
Bản chất của hoạt động thương mại chính là việc giao kết và thực hiện hợp
đồng mua bán hàng hóa. Nhất là trong quan hệ mua bán hàng hóa hiện nay, thì việc
mua bán cung ứng dịch vụ với nhau thường được thể hiện dưới nhiều cách thức và nội
dung khác nhau nên các hành vi mua bán trong thương mại được thể hiện bằng một
hình thức nhất định đó là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa
rất phong phú, được điều chỉnh bởi nhiều nguồn luật và khá phổ biến trong hoạt động
kinh doanh của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Vì vậy, hoạt động thương mại của một
cá nhân, tổ chức hay tổng thể của cả một quốc gia chỉ có thể phát triển khi quốc gia đó
có một hành lang pháp lý , các quy định pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán
hàng hóa. Trong hệ thống pháp luật nước ta đã có những quy định cụ thể về sự điều
chỉnh quan hệ hợp đồng ngay từ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, tiếp đến là Bộ luật
Dân sự (BLDS) 1995, Luật Thương mại (LTM) 1997….và hiện tại, tiêu biểu là hai
văn bản pháp luật mới được ban hành: BLDS 2015 và LTM 2005. Kể từ khi gia nhập
WTO, tầm quan trọng của hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh tế nói chung
và hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng đối với nước ta càng được thể hiện rõ ràng.
Như vậy, có thể nói hợp đồng mua bán hàng hóa là một nội dung không thể thiếu
trong hoạt động kinh doanh. Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về
hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp
đồng được thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ Hùng Hòa
là một công ty đang phát triển trong lĩnh vực bàn ghế cắt tóc gội đầu, giường thẩm mỹ
mát xoa, các loại máy phục vụ làm đẹp cho tóc và da dùng trong các Beauty Saloon,
Spa. Trong thời gian thực tập tại công ty, tác giả đã nhận thấy rằng việc ký kết và thực
hiện hợp đồng diễn ra thường xuyên, có tầm quan trọng lớn trong quá trình hoạt động
kinh doanh và sản xuất, trong đó hợp đồng mua bán hàng hoá chiếm tới 90% tổng số
các loại hợp đồng tại công ty. Qua xem xét việc ký kết và thực hiện hợp đồng tại công
ty, tác giả thấy có nhiều điều cần quan tâm, xem xét và tìm hiểu. Bởi vậy, tác giả đã
chọn đề tài: "Pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá theo Luật

sử dụng chủ yếu trong quá trình nghiên cứu đề tài:
Phương pháp thu thập thông tin: Mục đích của việc thu thập tông tin là làm cơ sở lý
luận khoa học hay luận cứ để đi sâu vào vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa.
+ Thu thập các quy định, các văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu tổng
quan quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán
hàng hóa nói riêng như Luật Thương mại 2005, các văn bản quy phạm pháp luật về
hợp đồng mua bán hàng hóa theo các giai đoạn lịch sử của nước ta. Từ đó đưa ra một
số nội dung pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa trong chương 1 về: Khái niệm, đặc
điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
+ Thu thập sổ sách, số liệu có liên quan đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng
hóa tại Công ty TNHH Bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ Hùng Hòa. Để làm rõ thực trạng
7


-

áp dụng Luật Thương mại 2005 trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa
tại công ty, Chương 2 của đề tài đã thu thập các tài liệu của Công ty TNHH bàn ghế và
thiết bị thẩm mỹ Hùng Hòa như: Điều lệ, các Quy chế, quy trình, Báo cáo tài chính,
báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh từ năm 2013- 2015, các hợp đồng mua bán hàng
hóa của công ty.
Phương pháp phân tích- tổng hợp: Dựa trên cơ sở các tài liệu đã thu thập được, em
phân tích đánh giá nội dung các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
được thực hiện trong Chương 1 và thực trạng áp dụng chúng trong giao kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Công ty TNHH bàn ghế và thiết bị thẩm mỹ
Hùng Hòa.
Từ những kết quả đã phân tích, tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn,
tìm ra được bản chất, quy luật vận động của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
nói chung cũng như Luật thương mại nói riêng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

động giao dịch buôn bán liên quan đến việc mua sắm vật tư kỹ thuật cho sản xuất
(thương mại đầu vào) và quá trình tiêu thụ sản phẩm (thương mại đầu ra). Đối với
doanh nghiệp, mỗi sản phẩm được sản xuất ra là nhằm để bán cho người tiêu dùng.
Hoạt động mua bán hàng hóa là một bộ phận chủ yếu của hoạt động thương mại và
được định nghĩa tại Khoản 8 - Điều 3 - LTM 2005 thì: Mua bán hàng hoá là hoạt
động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng
hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán,
nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận". Hàng hóa theo quy định của
LTM 2005 có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai;
hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.
Về cơ bản, hoạt động thương mại ở tất cả các nước đều diễn ra dưới hai hình
thức: mua bán nội địa và mua bán quốc tế, về bản chất đều là những hoạt động mà
trong đó người bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa, dịch vụ cho người mua. Còn
người mua có nghĩa vụ chuyển cho người bán một khoản ngang bằng với giá trị hàng
hóa, dịch vụ được trao đổi.
Như vậy dựa vào khái niệm tại khoản 8 - Điều 3 LTM 2005 thì hành vi mua
bán hàng hóa thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, các đơn vị kinh doanh
hợp pháp có khả năng và nhu cầu về hàng hóa và đồng thời đó cũng là quan hệ pháp
luật ràng buộc trách nhiệm giữa người mua và người bán. Mối quan hệ này có sự
tương xứng về quyền và nghĩa vụ.

9


Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa.
Có thể nói, hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng
xuất hiện từ rất lâu đời; nó được điều chỉnh bởi rất nhiều văn bản luật khác nhau theo
sự phát triển của đất nước
1.1.2.1.
Lịch sử hình thành pháp luật về hợp đồng.

tự nguyện ký kết với nhau để thực hiện các mục đích nhất định, nhằm phát triển kinh
1.1.2.

10


doanh công nghiệp và thương nghiệp, góp phầm thực hiện những công việc của nhà
nước giao cho. Hợp đồng kinh doanh được xây dựng trên nguyên tắc các bên tự
nguyện ký kết, cùng có lợi và đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân. Nội dung của
điều lệ còn quy định thêm một bên tham gia ký kết hợp đồng kinh doanh là tư doanh,
tuy nhiên các hợp đồng kinh doanh có tư doanh tham gia phải được đăng ký tại cơ
quan nhà nước có thẩm quyền (thông thường là cơ quan công thương tỉnh hay Ủy ban
hành chính cấp huyện). Điều lệ tạm thời về hợp dòng kinh doanh của Nghị định
735/TTg ngày 10/04/1975 đã đóng góp một phần nhất định trong viẹc khai thác các
thành phần kinh tế vào phát triển chung của nền kinh tế đất nước, cải tạo quan hệ cũ và
từng bước xây dựng quan hệ mới
Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quá trình lập
pháp Việt Nam, Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hòa, Hiến pháp của thời kỳ
xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Xây dựng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đã đặt ra yêu cầu "xoá bỏ lối quản lý hành chính cung cấp,
thực hiện phương pháp quản lý theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, … xây
dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đưa nền
kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa". Ngày
10/3/1975 Chính phủ đã ban hành bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh doanh (ban
hành kèm theo Nghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của hội đồng chính phủ). Nội dung
chính của Nghị định 54/CP chủ yếu gồm các vấn đề: Vai trò của hợp đồng kinh tế,
nguyên tắc ký kết, và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và trách nhiệm
do vi phạm chế độ hợp đồng … Đặc điểm chính của hợp đồng theo Nghị định 54/CP
là khi ký kết hợp đồng phải bảo đảm hai yêu cầu: bảo đảm yếu tố trao đổi tài sản và
bảo đảm tính kế hoạch của nhà nước. Việc quy định hợp đồng phải bảo đảm yếu tố kế

13


Đứng trước yêu cầu đó, ngày 14/11/2005, Quốc hội đã ban hành Luật Thương
mại (LTM) số 36/ 2005- QH 11 quy định về hoạt động thương mại (chính thức có hiệu
lực từ ngày 01/01/2006, thay thế LTM năm 1997) nhằm tạo thành một hành lang pháp
lý hoàn chỉnh cho các thương nhân trong hoạt động thương mại. Cũng giống như Luật
Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005 cũng quy định khá đầy đủ và chi
tiết về mua bán hàng hóa cũng như hợp đồng mua bán hàng hóa.
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một phương tiện quan trọng phục vụ cho nhu cầu
tiêu dùng cũng như sản xuất kinh doanh, trao đổi vật tư, sản phẩm giữa các chủ thể
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau:
Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao
hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có
nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận
của hai bên. Hoạt động mua bán hàng hóa được thể hiện dưới hình thức pháp lý là các
hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong Luật thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm cụ thể về hợp đồng
mua bán hàng hóa nhưng có thể hiểu rằng hợp đồng mua bán hàng hóa là thỏa thuận
giữa các thương nhân (hoặc một bên là thương nhân) về việc thực hiện hoạt động mua
bán hàng hóa nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về hợp đồng mua bán tài sản: “ Hợp đồng
mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản
cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán”.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng
giao kết giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên không
phải thương nhân trong việc mua bán tất cả các bất động sản, kể cả động sản được
hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai.
1.1.3. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò rất quan

khác. Hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại chủ yếu là để kinh doanh thu lợi
nhuận cho các thương nhân. Vì chủ thể chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá là
thương nhân, mà đã nói đến thương nhân thì khó có thể không nhắc đến lợi nhuận,
hoạt động chính của họ là kinh doanh và thu lợi nhiận, không có lợi nhuận họ không
thể tồn tại lâu dài dù vốn đầu tư có lớn đi nữa
- Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể giao kết bằng lời nói, văn bản
hoặc bằng hành vi cụ thể. Cũng tại điều 24 - LTM 2005 quy định về hình thức của hợp
đồng mua bán hàng hóa thì hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Chủ yếu các hợp đồng mua bán
hàng hóa được thành lập bằng văn bản, bởi việc giao kết hợp đồng bằng văn bản mang
tính đảm bảo cao hơn so với các hình thức khác. Hơn nữa, do hợp đồng mua bán hàng
hóa diễn ra là nhằm mục đích sinh lợi nên việc ký kết hợp đồng phải được giao kết
bằng văn bản.
- Thứ tư, đối tượng của hợp đồng là hàng hóa. Theo LTM 2005, hàng hóa được
định nghĩa “bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương
lai; các vật gắn liền với đất đai” ( khoản 2- điều 3 LTM 2005). Hàng hóa là đối tượng
mua bán phải không thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của Nhà
nước (Nghị định 59/2006/NĐ- CP ngày 12/06/2006). Nếu hàng hóa đó thuộc danh
15


mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện thì phải tuân theo đầy đủ các
quy định của pháp luật về mua bán các loại hàng đó.
- Thứ năm, hợp đồng mua bán hàng hoá thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
trong quan hệ mua bán. Bên bán thì có nghĩa vụ giao hàng và nhận tiền còn bên mua
thì có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền. Luật Thương mại 2005 không quy định hợp
đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắt buộc nào. Những điều khoản cơ
bản của một hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: tên hàng, số lượng, chất lượng, giá
cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao nhận hàng.
Khi các bên thỏa thuận được những nội dung chủ yếu thì hợp đồng mua bán

trên cơ sở những quy định áp dụng chung thì có luật áp dụng riêng đối với từng lĩnh
vực LTM, Bộ luật Lao động.
LTM thông qua ngày 14/06/2005 và có hiệu lực thực hiện ngày 01/01/2006
được dùng có quan hệ hợp đồng trong thương mại. Với hợp đồng mua bán hàng hóa,
Luật Thương mại đóng vai trò là luật riêng áp dụng, BLDS là luật chung áp dụng.
Trình tự áp dụng được tuân theo quy định chung, áp dụng luật riêng trước, nếu không
có những quy định liên quan thì sẽ áp dụng đến luật chung tức là BLDS.
Hiện nay, các văn bản điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là hai
văn bản này. Ngoài ra, còn có các hệ thống các văn bản khác có liên quan như:
+ Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ quy định chi
tiết LTM về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh.
+ Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/02/2007 quy định chi tiết LTM về hoạt
động mua bán hàng hóa.
+ Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết
Luật Thương mại về mua bán hàng hóa quốc tế và các đại lý mua bán, gia công và quá
cảnh với nước ngoài.
1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.
Luật Thương mại năm 2005 là một trong số những văn bản quan trọng quy định
đầy đủ nhất cho đến thời điểm này về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó
nổi bật là những nội dung chính:
- Giao hàng: Luật thương mại năm 2005 quy định rõ bên bán phải giao hàng hoá phù
hợp với quy định của hợp đồng; trong các hợp đồng mua bán hàng hoá, các bên
thường có thoả thuận với nhau về điều kiện kèm theo việc giao hàng thoả thuận về
điều kiện giao nhận hàng hoá nhằm mục đích xác định trách nhiệm và chi phí giao
hàng của các bên như đối với vận tải, bảo hiểm hàng hoá, gánh chịu rủi ro… Ngoài ra,
trong hoạt động mua bán hàng hoá, việc giao hàng còn liên quan đến việc giao nhận cả
các chứng từ liên quan đến hàng hoá. Nếu các bên không có sự thoả thuận hoặc sự
thoả thuận không cụ thể, thì bên bán phải có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan
kèm theo.
Các bên có thể thoả thuận về địa điểm, thời hạn và phương thức giao hàng tuỳ

không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường; và
bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó mà không thông báo cho bên
mua.
- Chuyển giao rủi ro: Rủi ro là sự kiện xảy ra nằm ngoài tầm kiểm soát của con người,
xảy ra sau thời điểm ký kết hợp đồng mà tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên không
thể tiên đoán được, không khắc phục hậu quả được. Rủi ro là hậu quả của tình huống
bất khả kháng. Vì vậy mà trong Luật Thương mại năm 2005, việc chuyển giao rủi ro
được quy định khá chi tiết từ Điều 57 đến Điều 61 LTM năm 2005.
- Chuyển quyền sở hữu: Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 thì khi bên
bán chuyển giao hàng hóa cho bên mua trên thực tế, đó cũng là thời điểm phát sinh
quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác. Chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa của bên bán cho bên mua là việc bên bán
chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt hàng hóa cho bên mua. Như vậy, sau khi
được chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa, bên mua sẽ trở thành người chủ thực sự
đối với những hàng hóa đó với đầy đủ các quyền năng của chủ sở hữu như đã nêu. Với
18


việc xác định quyền sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao hay chưa, địa điểm, thời
gian chuyển quyền sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tài sản của cá
nhân, tổ chức để xác định trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hóa.
- Thanh toán: Thanh toán tiền hàng được coi là nghĩa vụ quan trọng mà người mua
phải thực hiện. Người bán và người mua có thể thoả thuận những biện pháp ràng buộc
chặt chẽ nhằm đảm bảo việc thanh toán được đầy đủ và đúng hạn theo thoả thuận
trong trường hợp đồng. Bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng theo thoả
thuận và các bên có thể thoả thuận về phương thức, thời hạn và thời điểm thanh toán.
Khi đó bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán và thực hiện thanh toán theo
đúng trình tự, thủ tục theo thoả thuận và các quy định của Luật thương mại năm 2005
về thanh toán.
1.3. Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa.

công dân được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 và đáp ứng được các yêu cầu trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các quy định về giao kết, thực hiện hợp đồng đã thể
hiện quan điểm tăng cường quyền tự do hợp đồng thông qua việc các bên được toàn
quyền quyết định về đối tác tham gia ký kết hợp đồng, hình thức hợp đồng, nội dung
của hợp đồng và trách nhiệm của các bên khi có vi phạm. LTM 2005 phù hợp với
nguyên tắc tự do hoạt động thương mại đã được khẳng định tại Điều 57 Hiến pháp
năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc khẳng định rõ và bảo
đảm quyền tự do hoạt động của thương nhân là động lực chủ yếu khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động thương mại. Tự do ở đây được thể
hiện trong nội dung của hợp đồng, tức là các bên mua bán hàng hóa có thể tự do thỏa
thuận để tìm ra những điều khoản thuận lợi nhất cho các bên trong việc xác lập quyền
và nghĩa vụ khi thực hiện hợp đồng. Các bên có thể thỏa thuận bất kỳ nội dung mình
mong muốn nhưng không trái pháp luật, đây là điều kiện rất thuận lợi cho thương nhân
trong việc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Bên cạnh đó, việc quy
định quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa một các chi
tiết và chặt chẽ sẽ tạo cảm giác yên tâm cho các doanh nghiệp khi tham gia hoạt động
thương mại. Việc quy định như vậy thể hiện ràng buộc đối với các bên khi thực hiện
nghĩa vụ của mình đối với bên còn lại giúp cho các thương nhân có ý thức tôn trọng
hợp đồng. Thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa ở nước ta từ khi thực thi LTM 2005
đã phát triển một cách đa dạng. Ví dụ như số hợp đồng được giao kết giữa các doanh
nghiệp ngày càng nhiều, trong khi đó số vụ tranh chấp trong lĩnh vực thương mại được
giải quyết một cách nhanh gọn do nghĩa vụ của các bên được quy định chi tiết và cụ
thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa.

20


Tuy nhiên, từ thực trạng của nền kinh tế thị trường đang diễn ra mạnh mẽ hiện
nay thì không ít những trường hợp vi phạm hợp đồng mua bán, không đúng với quy
định của pháp luật đã diễn ra, điều này đã và đang là vấn đề bức xúc của người dân,

thực hiện các giao dịch dân sự và gắn liền với các hoạt động mua bán hàng hóa là hợp
đồng mua bán hàng hóa. Các hoạt động trao đổi, mua bán của các doanh nghiệp hiện

21


nay dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều đã sử dụng hợp đồng mua bán
hàng hóa như một công cụ hữu hiệu để thỏa thuận các điều khoản giữa các bên.
* Nhân tố chính trị, pháp luật:
Sự ổn định về chính trị, đường lối ngoại giao, sự cân bằng các chính sách của
nhà nước, vai trò và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ, sự điều tiết
và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội, các quyết định
bảo vệ người tiêu dùng, hệ thống pháp luật, sự hoàn thiện và hiện thực thi hành
chúng... có ảnh hường rất lớn đến hoạt động mua bán hàng hóa của doanh nghiệp.
Các chính sách bao gồm luật, các văn bản dưới luật, các quy trình quy phạm kỹ
thuật sản xuất tạo ra một hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động, các hoạt động
của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh hay hoạt động mua bán hàng hóa đều phải
dựa vào các quy định của pháp luật. Doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của
pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với người
lao động như thế nào là do pháp luật quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm
bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh
nghiệp, tuân thủ các yêu cầu trong khi thực hiện hợp đồng …).
2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh về thực hiện hợp đồng mua
bán hàng hóa.
2.2.1. Giao hàng.
Giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng
hóa. Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên bán đều có liên quan và nhằm mục đích
hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua. Cụ thể như sau:
- Giao chứng từ kèm theo hàng hóa: Theo điều 34 - LTM 2005, trường hợp có thỏa
thuận về việc giao chứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng

Nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng, bên bán giao không hàng không
phù hợp, thiếu…thì trong thời hạn đó bên bán có quyền giao lại hàng hoặc giao phần
còn thiếu, chi phí phát sinh do bên bán chịu trách nhiệm.
+ Về tên hàng hóa: Tên hàng hóa mua bán phải được nêu chính xác trong hợp đồng
nhằm tránh nhầm lẫn trong quá trình thực hiện hợp đồng. Tùy theo từng hàng hóa mà
cách viết điều khoản này có sự khác nhau. Các bên có thể viết điều khoản cùng với tên
khoa học, tên thông dụng của hàng hóa. Trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế, tên hàng còn được viết kèm theo tên của nhà sản xuất hàng hóa, tên địa danh sản
xuất ra hàng hóa, tên công cụng của hàng hóa…
+ Số lượng hàng hóa: có rất nhiều cách xác định số lượng và đơn vị tính số lượng khác
nhau tại mỗi quốc gia hay mỗi khu vực trên thế giới, có những cách xác định số lượng,
trọng lượng hàng hóa riêng. Song nhìn chung, có hai cách xác định số lượng, trọng
lượng hàng hóa, đó là xác định một cách chính xác hàng hóa và hàng hóa có dung sai.
Tỉ lệ dung sai các loại hàng hóa tại cá quốc gia khác nhau cũng có quy định khác nhau.
Do vậy, các bên cần thỏa thuận rõ một đơn vị đo lường hàng hóa của mình trong hợp
đồng.
+ Phẩm chất hàng hóa: được xác định bằng nhiều cách tùy thuộc tính chất của hàng
hóa. Các bên có thể thỏa thuận một tiêu chuẩn xác định cụ thể, hoặc xác định phẩm
chất hàng hóa theo mẫu. Việc xác định phẩm chất hàng hóa có thể dựa vào tiêu chuẩn
chất lượng đã đăng ký, hiện trạng hàng hóa, tài liệu kĩ thuật hoặc theo mẫu được các
bên thỏa thuận.
23


+ Giá cả: giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nghĩa là số lượng tiền phải
trả cho hàng hóa đó. Về nghĩa rộng đó là số tiền phải trả cho một hàng hóa, một dịch
vụ, hay một tài sản nào đó. Giá cả của hàng hóa nói chung là đại lượng thay đổi xoay
quanh giá trị. Khi cung và cầu của một hay một loại hàng hóa về cơ bản ăn khớp với
nhau thì giá cả phản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hóa đó, trường hợp này ít khi
xảy ra. Giá cả của hàng hóa sẽ cao hơn giá trị của hàng hóa nếu số lượng cung thấp

24


tiếp giao hàng cho bên mua mà việc giao hàng có thể được thực hiện thông qua người
thứ ba (như qua người làm dịch vụ vận chuyển hàng hóa…). Các bên có thể thỏa thuận
về vấn đề rủi ro đối với hàng hóa khi giao hàng qua người thứ ba. Nếu không có thỏa
thuận thì bên bán được coi là đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sau khi đã giao hàng
cho người thứ ba theo các điều kiện giao hàng do hai bên thỏa thuận.
+ Nếu hợp đồng không quy định về vận chuyển hàng hóa; nếu vào thời điểm giao
kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi
sản xuất, chế tạo hàng hóa thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó.
+ Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh
của bên bán, nếu bên bán không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư
trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng.
Trong khâu giao hàng, tùy vào thỏa thuận của hai bên mà có thể phải cần đến
việc thuê một bên thứ ba để vận chuyển hàng hóa. Công ty cũng thường xuyên phải ký
các hợp đồng thuê vận chuyển hàng hóa tới điểm giao hàng mà các bên đã thỏa thuận.
Dưới đây là một điều khoản về “phương thức giao nhận hàng hóa” được thỏa thuận và
giao kết giữa Bên Mua (Bên A) là: Công ty TNHH Bàn ghế và Thiết bị thẩm mỹ Hùng
Hòavà Bên Bán (Bên B): Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Viettool Việt Nam.

ĐIỀU KHOẢN 3: PHƯƠNG THỨC GIAO NHẬN
+ Bên B giao hàng chậm nhất vào ngày 21/12/2015 tại kho bên B
+ Chất lượng hàng hóa do bên A kiểm định hoặc do bên A chỉ định
+ Bốc xếp, chi phí bốc xếp do bên B chịu
+ Phương tiện và chi phí vận chuyển do bên A chịu
Trong điều khoản về phương thức giao nhận trên thì quy định về thời gian giao
hàng, về kiểm định chất lượng hàng hóa, phương tiện và chi phí vận chuyển,…

Tuy nhiên, pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa cũng có không ít bất cập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status