VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN HUY BÌNH
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN CÁC CÔNG TY
CHẾ BIẾN THAN THUỘC TẬP ĐOÀN THAN KHOÁNG
SẢN VIỆT NAM (TKV)
Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN VĂN BIÊN
HÀ NỘI, NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân. Các
số liệu sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy
định. Kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tác giả
Đoàn Huy Bình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Bảng 2.2. Tình hình tiêu thụ các sản phầm than trong 3 năm 2015-2017 ................38
Bảng 2.3. Phân tích tinh hình tiêu thụ theo các phân xưởng (phân vùng địa lý) ......40
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động mua bán hàng hoá là một hoạt động trung tâm trong giao lưu
thương mại, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước cũng như phát triển
quan hệ kinh tế giữa các quốc gia. Quan hệ mua bán hàng hoá được thể hiện dưới
hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hoá. Hiện nay, khi bước vào nền kinh
tế thị trường, trong bối cảnh toàn cầu hóa dần mở rộng nhiều quan hệ mua bán hàng
hóa, việc mua bán hàng hóa không chỉ diễn ra trong lãnh thổ một nước với nhau mà
còn thực hiện các quan hệ trao đổi mua bán hàng hóa quốc tế. Hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại nói riêng là một yêu cầu cấp bách
của thực tiễn. Chính vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu các vấn đề pháp lý cơ bản về hợp
đồng mua bán hàng hoá để từ đó đưa ra các phương hướng hoàn thiện pháp luật là
rất cần thiết.
Mặt khác, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, các
giao dịch kinh doanh ngày càng sôi động đòi hỏi Nhà nước phải ban hành quy định
điều chỉnh chi tiết cho quá trình thiết lập và thực hiện đúng các bạn trong giao dịch
phải có sự hiểu biết đầy đủ các quy định pháp luật hợp đồng nhằm bảo đảm cho
việc thực hiện các giao dịch này. Trên thực là việc giao kết hợp đồng mua bán hàng
hóa của các thương nhân, giữa các doanh nghiệp với nhau ngày càng tăng về số
lượng. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để nâng cao hiệu quả của việc giao kết và thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, làm thế nào để doanh nghiệp có được sự chủ
động trong công tác này giúp cho việc xác lập và đảm bảo thực hiện hợp đồng một
cách tốt nhất đưa đến lợi nhuận tối ưu, tránh các thiệt hại không đáng. Điều này phụ
thuộc trước hết vào hệ thống pháp luật, đồng thời cũng phụ thuộc vào khả năng
nhận biết cũng như trình độ thực hiện pháp luật của doanh nghiệp. Thực tiễn cho
thấy, ngoài một số lỗ hổng từ hệ thống pháp luật thì sự hiểu biết về pháp luật của
Law, Cambrige;
Melvin
A.
Eisenberg
(2004), The Revocation
of Offer, Berkeley Law; Cheong May Fong (2007), Civil remedies in Malaysia,
Sweet and Maxwell Asia Publishe; W. J. Wagner (1963), Some Problems
of Revocation and Termination of Offer: Necessity of Communication-Time of
Revocation-Death, NotreDame Law Review, Volume 38…
Nội dung của các công trình này đề cập đến một số khía cạnh của hợp đồng
mua bán hàng hóanhư: những vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa trong
đó có hợp đồng điện tử, hợp đồng online… một số tình huống về hợp đồng mua bán
hàng hóa… Tuy nhiên, chưa có công trình nào phân tích toàn diện và chuyên sâu về
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập Kinh tế
quốc tế. Mặc dù vậy, những tài liệu liệt kê ở trên là nguồn tài liệu tham khảo rất cần
thiết để thực hiện luận văn này.
2.2. Ở Việt Nam
Nghiên cứu về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là vấn đề đã được nhiều
học giả quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu từ
2
thực tế giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa của một doanh nghiệp cụ thể để từ đó
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam, TP.
Hồ Chí Minh;
3
- Đỗ Văn Đại (2017), Luật Hợp đồng Việt Nam,Tập 1 và 2, Nxb Hồng Đức,
Hà Nội;
- Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân
sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh;
- Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp
đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội;
- Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm
2005, Tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
- Bài tạp chí của tác giả Lê Thị Diễm Phương (2013), Đề nghị và chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng - nhìn từ góc độ so sánh, Tạp chí Khoa học pháp lý Đại
học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2013, (Số 2), tr. 68-74
- Bài tạp chí của tác giả Đỗ Đăng Khoa, “Kỹ năng soạn thảo hợp đồng
thương mại” đăng trên Tạp chí Luật học Trường đại học Luật Hà Nội, số 11/2008.
- TS. Thái Trí Dũng, (2005); Kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh
doanh, NXB Thống kê;
- Nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp, http://news.
vibonline.com.vn/Home/Su-kien-Binh-luan/10367/Nang-cao hieu-qua-tro-giupphap-ly-cho-doanh-nghiep…
Như vậy, cho đến nay chưa có đề tài nào thực sự đi sâu vào việc nghiên cứu về
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp
chế biến than thuộc ngành than nhằm chỉ ra các giải pháp đảm bảo cho việc giao kết
thực hiện các hợp đồng, hạn chế những rủi ro pháp lý phát sinh trong đàm phán,
soạn thảo và ký kết hợp đồng thương mại.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện
Để thực hiện mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn dựa trên nền tảng lý
luận là các nguyên tắc và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về pháp luật. Ngoài ra tác
giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: duy vật biện chứng; phương pháp
thống kê; phương pháp tổng hợp và khái quát hoá; tra cứu sách, tài liệu tham khảo
tại thư viện, trên mạng internet.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài có cơ cấu
gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
và thực tiễn thực hiện tại các Công ty Chế biến than thuộc Tập đoàn Than Khoáng
sản Việt Nam (TKV)
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA
1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiện nay, hợp đồng mua bán tài sản là loại hợp đồng thông dụng chiếm một
số lượng lớn. Tại Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015 có nêu khái niệm chung về hợp
đồng: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đối với hoạt động mua bán hay hợp đồng mua bán
hàng hóa cũng là sự xác lập, thay đổi quyền sở hữu đối với tài sản. Mua bán hàng
hóa tức là sự thỏa thuận giữu hai bên trong đó bên bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở
lưu thông hàng hóa. Các doanh nghiệp trong môi trường kinh tế, tạo ra các mối
quan hệ giữa người mua và người bán đi kèm với quyền lợi và nghĩa vụ được pháp
luật bảo hộ, tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh giúp nền kinh tế ngày
một phát triển.
Ngày nay, khi nghiên cứu về hợp đồng, không thể không nhắc tới một phương
cách ký kết hợp đồng đang ngày một phát triển như là xu hướng của thời đại hiện nay
đó là hợp đồng điện tử. Trước khi đề cập đến vấn đề này chúng ta xem xét qua khái
niệm hợp đồng trong pháp luật một số quốc gia so sánh với quan niệm của Việt Nam.
Về khái niệm hợp đồng, Điều 1, Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform
Commerce Code – UCC) của Hoa Kỳ quy định “hợp đồng là tổng hợp các nghĩa vụ
pháp lý phát sinh từ sự thỏa thuận của các bên”. Luật Hợp đồng năm 1999 của
Trung Quốc quy định “hợp đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên của các tổ chức
(Điều 2). Những quy định này có sự tương đồng với quy định của Việt Nam ở chỗ
coi hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên để quy định quyền, nghĩa vụ đối với
nhau. Điều khác nhau là ở chỗ Luật Việt Nam đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự
còn Luật Hoa Kỳ gọi là hợp đồng.
Với cách phân tích ở trên có thể hiểu một cách đơn giản hợp đồng điện tử là
sự thỏa thuận giữa các bên, thông qua các phương tiện điện tử, nhằm quy định
quyền và nghĩa vụ đối với nhau. Về cơ bản, hợp đồng điện tử cũng giống hợp đồng
truyền thống về chức năng, nội dung và giá trị pháp lý. Điểm khác biệt nổi bật là
hình thức thể hiện, phương thức ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử. Điều 11, mục
1, Luật mẫu về Thương mại điện tử của UNCITRAL (1996) quy định: “Về hình
thức hợp đồng, trừ khi các bên có quy định khác, chào hàng và chấp nhận chào hàng
có thể được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu. Khi thông điệp dữ liệu được sử dụng
để hình thành hợp đồng, hợp đồng đó không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì nó
được thể hiện bằng thông điệp dữ liệu”. Cùng với sự phát triển của thương mại điện
tử, hợp đồng điện tử cũng đã được luật pháp thừa nhận là một công cụ pháp lý để
ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.
hành một công việc nhất định. Hợp đồng điện tử, do đó, có tất cả các đặc điểm của
một hợp đồng nói chung và cũng có những đặc điểm riêng, đặc thù của nó.
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.2.1. Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa
Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân (hoạt
động thương mại độc lập thường xuyên liên tục, nhằm mục đích lợi nhuận, có đăng
ký kinh doanh) và thỏa mãn các điều kiện về độ tuổi, năng lực hành vi…bao gồm bên
8
mua, bên bán và bên trung gian (nếu có). Theo quy định tại Điều 6 Luật Thương mại
2005 thì: thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân
hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các nghành nghề mà đã đăng ký
trong giấy phép đăng ký kinh doanh đồng thời là những ngành nghề không bị pháp
luật cấm. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước
bảo hộ. Tuy nhiên, trong quá trình mua bán hàng hóa, các bên chủ thể không nhất
thiết đều phải là các thương nhân, đó có thể là các cá nhân, các tổ chức khác… mà
thỏa mãn điều kiện có đăng ký kinh doanh, quan hệ với nhau vì mục đích lợi nhuận.
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài lãnh
thổ. Như vậy, chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân
hoặc không phải là thương nhân, ngoài các thương nhân Việt Nam thì còn thương
nhân nước ngoài.
1.1.2.2. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa
Tại Điều 24 Luật Thương mại 2005 có quy định về hình thức của hợp đồng
mua bán hàng hóa (MBHH): hợp đồng MBHH được thể hiện bằng lời nói, bằng văn
bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng MBHH mà pháp
luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Chủ yếu
các hợp đồng trong hoạt động thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa được lập thành
thỏa thuận khác phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp. Đó có thể là những
thỏa thuận bên ngoài, không được ghi trong hợp đồng hoặc những tiền lệ đã có từ
trước đã có giữa các bên. Trong quy định của luật dân sự và luật thương mại có quy
đinh các nội dung chủ yếu như sau:
Thứ nhất, về đối tượng của hợp đồng
Là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc không được làm. Đối tượng của
hợp đồng mua bán hàng hóa phải được xác định rõ trong hợp đồng tranh xảy ra
những sai sót dẫn đến tranh chấp giữa các bên. Mặc dù ngay từ đầu xác định giao
kết hợp đồng, bên mua vốn đã biết trước nhu cầu của mình với hàng hóa rồi mới tìm
đến các bên đối tác, hoặc bên bán có những hàng hóa như thế nào khi xác định đề
nghị giao kết chào hàng.
Thứ hai, về số lượng và chất lượng
Những quy định về vấn đề này được ghi trong hợp đồng thỏa thuận giữa hai
bên. Quy định chất lượng hàng hóa nhằm phân biệt giữa các chủng loại khác nhau,
mẫu mã, tránh việc nhầm lẫn có thể xảy ra. Các bên có thể thoả thuận về số lượng
nhất định hàng hoá cụ thể mà bên bán phải giao. Và nghĩa vụ của bên bán là phải
giao đủ số lượng hàng hóa đã quy đinh trong hợp đồng. Khi bên bán không giao đủ
số lượng như đã thỏa thuận thì có thể dựa vào những điều khoản đã quy định trong
hợp đồng để đảm bảo lợi ích của mình.
Thứ ba, về giá và phương thức thanh toán
Đây là nghĩa vụ của bên mua đối vơi bên bán khi đã giao hàng hóa đạt yêu
cầu về số lượng cũng như chất lượng. Giá cả ngoài đơn giá, bảng giá chung thì các
bên có thể thỏa thuận mức giá hợp lý cho cả hai bên, đồng thời phương thức thanh
10
toán. Việc thanh toán có thể diễn ra bằng nhiều cách, nhưng chủ yếu hiện nay là
thông qua tài khoản tại ngân hàng. Thanh toán có thể thanh toán một lần vào cuối
khi đã giao toàn bộ hàng hóa cho bên mua, cũng có thể thanh toán theo từng lần
xâm hại đến lợi ích của tập thể, của xã hội. Trong hoạt động thương mại, các bên
11
hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa,
ngăn cản bên nào.
- Thứ ba là nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại. Theo
đó, trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói
quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã
biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật.
- Thứ tư là nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại. Theo
đó, trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không
có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng
không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật Thương mại và trong Bộ
luật Dân sự.
- Thứ năm là nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Theo
đó, trước nhất, thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin
đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh
và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó. Bên cạnh đó,
thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng,
tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh.
- Thứ sáu là nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong
hoạt động thương mại. Theo đó, trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu
đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được
thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản.
1.2.1.1. Trình tự giao kết hợp đồng
*Đề nghị giao kết hợp đồng
Khoản 1 điều 386 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Đề nghị giao kết hợp đồng
là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của
pháp lý.
Trong trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu
bên đề nghị giao kết lại giao kết hợp đồng với một chủ thể thứ ba khác trong thời
hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị
mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh. Đây chính là điều kiện
ràng buộc của bên đề nghị đối với bên kia, trong trường hợp vi phạm theo đề nghị
giao kết.
Ngoài ra theo điều 388 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời điểm đề nghị giao
kết có hiệu lực do bên đề nghị giao kết là người chủ động đề nghị ấn định. Nếu bên
đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên đề
nghị nhận được được đề nghị đó.
Đề nghị giao kết có thể được thay đổi, rút lại trong các trường hợp nếu bên
được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại trước hoặc cùng
thời điểm nhận được đề nghị. Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong
trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện
đó phát sinh. Bên cạnh đó việc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng nếu trong đề nghị
giao kết hợp đồng có nêu rõ quyền này trong đề nghị đồng thời phải thông báo cho
13
bên được đề nghị và thông báo này có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được
thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Nếu không bên đề nghị giao kết sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt
hại xảy ra, nó cũng giống như trường hợp giao kết với bên thứ ba trước thời hạn bên
được đề nghị giao kết trả lời.
Theo điều 391 Bộ luật Dân sự 2015 đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt
trong trường hợp sau đây:
- Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng;
- Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận;
dịch): hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết
hợp đồng.
- Hợp đồng được giao kết bằng lời nói: thời điểm giao kết hợp đồng là thời
điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng
của thời hạn đó.
Theo quy định hiện hành, hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực từ thời
điểm giao kết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác (Điều 401 Bộ luật Dân sự 2015).
1.2.1.3. Rút lại, thay đổi, hủy bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết
Các nội dung trên được quy định tại các điều 389, 390, 391, 392 của Bộ luật
Dân sự 2015.
- Thay đổi, rút lại đề nghị (Điều 389 Bộ luật Dân sự 2015)
Một trong những lý do trên thực tế việc xác định thời điểm bản đề nghị bắt đầu
có hiệu lực là rất quan trọng. Cho đến thời điểm đó, bên đề nghị có quyền đổi ý và
quyết định không tham gia giao kết hợp đồng nữa, hoặc đổi lại đề nghị cũ bằng một đề
nghị mới khác, bất kể là bản đề nghị ban đầu đó bị thu hồi lại hay chưa. Chỉ cần người
nhận đề nghị phải được thông báo về sự thay đổi ý định của người đưa ra đề nghị, trước
hoặc vào đúng thời điểm mà bên nhận đề nghị nhận được đề nghị ban đầu.
- Huỷ bỏ đề nghị giao kết
Điều 390 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Bên đề nghị giao kết hợp đồng
có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị
nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Việc một đề nghị có thể được phép huỷ bỏ hay không là một trong những
vấn đề phức tạp nhất trong việc giao kết hợp đồng. Vì ở đây không có sự hoà hợp
giữa hai cách nhìn của hai bên tham gia ký kết hợp đồng, việc quy định như vậy sẽ
dẫn tới một số trường hợp không được phép huỷ bỏ, và chỉ trong một số ngoại tệ nó
mới được phép được huỷ bỏ.
nhiệm quyền và nghĩa vụ hai bên. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc uỷ quyền
và việc phân công công việcnhiệm vụ lại tương đối giống nhau và Bộ luật Dân sự
Việt Nam 2015 chưa phân biệt rõ ràng.
1.3. Pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
1.3.1. Nguồn luật điều chỉnh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật
khác nhau như pháp luật quốc gia, các điều ước về MBHHQT, các tập quán thương
mại, thói quen thương mại …Việc nguồn luật nào điều chỉnh còn tuỳ vào từng
trường hợp cụ thể.
16
1.3.1.1. Pháp luật quốc gia
Trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam, nguồn luật được áp
dụng là những văn bản do cơ quan là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục và dưới những hình thức nhất
định, có nội dung là các quy phạm pháp luật dân sự, thương mại, có hiệu lực bắt
buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng
cưỡng chế nhà nước.
Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: " Văn
bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo
đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này".
Nguồn pháp luật quốc gia trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa không
phải là tất cả các văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ bao gồm những văn bản quy
phạm pháp luật có các quy phạm pháp luật dân sự, thương mại,… tức là những
quy phạm pháp luật được ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong hoạt động giao kết hợp đồng.
Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy pháp luật về giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa có hệ thống nguồn khá đa dạng. Ngoài Luật Dân sự, Luật
viên Hội đồng tương trợ kinh tế (ĐKCGHSEV 1968/1988) điều chỉnh quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Một điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực MBHHQT là công ước Viên
về mua bán hàng hoá quốc tế ngày 1/1/1980. Đến nay đã có hơn 60 nước phê chuẩn
công ước này.
Quy tắc La Hay ngày 15/6/1955 về Luật áp dụng vào hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế.
Công ước Rôma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
được ký tại Rôm ngày 19/6/1980.
Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được ký ở
Mehico City ngày 17/5/1994, được thông qua bởi Hội nghị quốc tế Liên Mỹ về tư
pháp quốc tế tổ chức tại Mehico City.
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 60 Hiệp định thương mại song
phương. Trong đó phải kể đến: Hiệp định Buôn bán hàng dệt may Việt Nam – EU là
hiệp định thương mại chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất xứ của hàng
hoá, điều khoản liên quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng.
Việc ký kết các hiệp định thương mại, là thành viên của các công ước quốc tế sẽ tạo
cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất cho hoạt động MBHHQT giữa các thương
nhân Việt Nam với các thương nhân nước ngoài.
1.3.1.3. Tập quán thương mại, thói quen thương mại
Các tập quán thương mại quốc tế hình thành từ rất lâu đời. Các tập quán này
sẽ trở thành nguồn luật đìều chỉnh các hợp đồng MBHH, nhất là hợp đồng
MBHHQT nếu các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng chấp nhận các tập quán
thương mại quốc tế sẽ là nguồn luật điều chỉnh.
18
Khi được dẫn chiếu vào hợp đồng MBHH, hợp đồng MBHHQT các tập quán
thương mại sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết, chúng được
của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin
và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục
19
đích trái pháp luật khác. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Về thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực (điều 388) được xác
định như sau: (i) Do bên đề nghị ấn định; (ii) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề
nghị giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị
đó, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Các trường hợp sau đây được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng:
(i) Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá nhân; được
chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân; (ii) Đề nghị được đưa vào hệ
thống thông tin chính thức của bên được đề nghị; (iii) Khi bên được đề nghị biết
được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua các phương thức khác.
- Về thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 389), theo đó, bên đề
nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong
trường hợp sau đây: (i) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi
hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; (ii) Điều kiện
thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về
việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh. Khi bên đề nghị
thay đổi nội dung của đề nghị thì đó là đề nghị mới.
- Việc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 390): Bên đề nghị giao kết
hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được
đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông
báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Theo Điều 391 đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau
đây: (1). Bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng; (2). Bên được đề nghị trả
kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung
giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị.
Trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó
chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội
dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị.
Về rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng (Điều 397) Bên được đề
nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu
thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận
được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
Nội dung của hợp đồng được quy định tại Điều 398. Theo đó, các bên trong
hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung trong hợp đồng. Hợp đồng có thể có các
nội dung sau đây: (a) Đối tượng của hợp đồng; (b) Số lượng, chất lượng; (c) Giá,
phương thức thanh toán; (d) Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng;
(đ) Quyền, nghĩa vụ của các bên; (e) Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; (g) Phương
thức giải quyết tranh chấp.
21