báo cáo tốt nghiệp “ pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty cổ phần vinalines logistic việt nam” - Pdf 35

MỤC LỤC

1

1


LỜI CẢM ƠN
Để hiểu rõ hơn về vấn đề nghiên cứu, em đã có cơ hội thực tập tai: Công ty
cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam . Em xin gửi lời cám ơn tới các cán bộ, nhân
viên trong công ty đã tạo điều kiện để em thực tập, hoàn thành tốt nhất có thể khóa
luận tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô giáo Khoa Kinh tế- Luật, Khoa
và Nhà trường đã tạo điều kiện để em có cơ hội thực tập, nghiên cứu chuyên sâu.
Đặc biệt, em xin gửi lời cám ơn tới cô giáo Nguyễn Kim Thanh đã định hướng, giúp
đỡ, hỗ trợ em rất tận tình trong suốt quá trình thực hiện và cho đến khi hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp.
Tuy vậy, do thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm, kiến thức còn hạn chế
nên khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong
nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo để em có cơ hội bổ
sung, hoàn thiện kiến thức của mình nhằm phục vụ tốt cho công việc thực tế.
Em xin chân thành cảm ơn!

2

2


LỜI MỞ ĐẦU
1.


mua bán hàng hóa với sứ mệnh là nền tảng pháp lý của mọi sự thỏa thuận tự nguyện
3

3


luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập quan hệ hợp đồng mua bán hàng
hóa bình đẳng, an toàn, cùng có lợi cho các bên tham gia quan hệ hợp đồng với mục
đích đạt được lợi nhuận tối đa; đã trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia
quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong điều kiện như vậy, pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa có tầm quan trọng lớn về nhiều mặt, nhiều khía cạnh khác
nhau. Pháp luật Việt Nam đang sửa đổi bổ sung và ngày càng hoàn thiện hơn pháp
luật về hợp đồng mua bán hàng hóa để phù hợp với sự phát triển của thế giới, nhất
là khi cánh cửa tự do thương mại của Việt Nam đang ngày càng được mở rộng.
Thiếu sót lớn nhất của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam là có sự trùng lặp, thiếu nhất
quán và không đồng bộ. Ở nước ta hiện nay, những quy định về hợp đồng được quy
định ở rất nhiều văn bản. Ngoài văn bản quy định chung như Bộ luật Dân sự, thì
trong từng lĩnh vực cụ thể, việc ký kết và thực hiện hợp đồng còn chịu sự chi phối
của các văn bản mang tính chuyên ngành dưới những hình thức khác nhau như:
Luật Thương mại, Luật thuế, Luật đầu tư,…
Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiên, những tài liệu
về hợp đồng được xuất bản ở nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề pháp lý
về hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn là một vấn đề gây nhiều ý kiến trái chiều. Bên
cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa lại là công cụ đắc lực cho các công ty trong
quá trình kinh doanh của chính bản thân họ. Hợp đồng mua bán hàng hóa có ý
nghĩa rất lớn không chỉ với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại, mà còn
là điều kiện không thể thiếu được của một xã hội văn minh, công bằng và nhân đạo.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về hợp đồng mua bán
hàng hóa là hết sức cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra định hướng, giải pháp cụ thể
nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật nhằm giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn

luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Cổ
phần Vinalines Logistic Việt Nam” để nghiên cứu. Hi vọng rằng với những nghiên
cứu này sẽ góp phần hoàn thiện những vấn đề bất cập về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa tại công ty.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Đối với các công trình nghiên cứu về pháp luật mua bán hàng hóa nói chung
và pháp luật về việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa từ trước đến nay đã được
đào sâu, nghiên cứu khá kỹ. Trong lĩnh vực này, có các công trình nghiên cứu như:
-

Tháng 1/2012, Bộ Công thương phối hợp với Trung tâm WTO - VCCI đã hoàn
thành việc nghiên cứu khả năng Việt Nam tham gia Công ước Viên 1980 từ góc độ
của Nhà nước. Theo quy trình quy định, Bộ Công thương tiến hành công khai kết
quả nghiên cứu và lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp về việc này. Kết quả nghiên
cứu được tổng hợp trong “ Báo cáo nghiên cứu khả năng gia nhập công ước viên
5

5


1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa” . Bài nghiên cứu đã đưa ra những cái nhìn
tổng quan, dựa trên việc phân tích và so sánh vấn đề nội dung của công ước viên
1980 và pháp luật về giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam để từ đó
đưa ra những ý kiến về lợi ích cũng như những lưu ý của Việt Nam khi tham gia
công ước viên này. Công ước Viên đóng vai trò là một khung pháp lý hiện đại, công
bằng và an toàn để giúp doanh nghiệp thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế và giải quyết tranh chấp phát sinh, từ đó có điều kiện cạnh tranh công bằng hơn
trên trường quốc tế.
-


Nghiên cứu về thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần
Vinalines Logistics Việt Nam để rút ra bài học kinh nghiệm.
6

6


-

Đánh giá thực trạng giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần
Vinalines Logistics Việt Nam.
- Đưa ra các quan điểm hoàn thiện pháp luật đối với việc thực hiện hợp đồng
mua bán hàng hóa tại công ty
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cũng như nâng cao tính
khả thi của pháp luật về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu đề tài:
Pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại
công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn
thiện vấn đề pháp luật giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, giúp công ty hoạt động
hiệu quả hơn trong quá trình kinh doanh của mình.
* Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài:
Xuất phát từ những vấn đề bất cập cũng như những thiếu sót của các doanh
nghiệp trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, đề tài nhằm đưa ra
những đánh giá khách quan để từ đó tìm ra nguyên nhân cũng như đưa ra những
kiến nghị nhằm hạn chế những thiếu sót đó, góp phần xây dựng hệ thống pháp lý tại
công ty nói chung và vấn đề giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng.
* Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Về thời gian: Khóa luận sẽ nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa tại Luật Thương mại 2005 kể từ khi được ban hành cho đến nay.

-

Phương pháp thống kê để thấy được số lượng hợp đồng mua bán hàng hóa Công ty
cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam được ký kết. Từ đó, dựa vào số liệu thống kê
được đánh giá tầm quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa tại các công ty ở
Việt Nam hiện nay.

-

Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn nhằm nắm bắt được những khó khăn,
vướng mắc của cơ quan quản lý trong quá trình thực tiễn áp dụng các quy định về
hợp đồng mua bán h àng hóa
6. Kết cấu khóa luận.

Trên cơ sở lí luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và những kết quả thực tiễn
trong giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty, đề tài này xin đưa ra một số
ý kiến nhằm giúp công ty đạt được hiệu quả cao hơn trong giao kết loại hợp đồng
mua bán hàng hóa. Nội dung đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về pháp luật giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua
bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Vinalines Logistics Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp (kiến nghị) hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối
với việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa tại công ty Cổ phần Vinalines
Logistics Việt Nam.
CHƯƠNG I

8

8


1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa.
9

9


Trong nền kinh tế thị trường, hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò rất quan
trọng, điều tiết, điều chỉnh quá trình lưu thông hàng hóa, tiền tệ. Hợp đồng mua bán
hàng hóa nhìn chung cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản
trong dân sự như:
+ Là hợp đồng ưng thuận: nó được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa
thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ
thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành
động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.
+ Có tính đền bù: Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì
sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận
dưới dạng khoản tiền thanh toán.
+ Là hợp đồng song vụ: Mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng
buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên
kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai
nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của
bên bán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh
toán cho bên bán.
Bên cạnh đó, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định, xuất
phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa:
- Thứ nhất, chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa: Theo quy định của
luật thương mại 2005, ít nhất một trong các bên chủ thể của hợp đồng mua bán hàng
hóa là thương nhân. Thương nhân bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập hợp
pháp, cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên và có đăng kí kinh

mua thì có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền. Những điều khoản cơ bản của một hợp
đồng mua bán hàng hóa bao gồm: tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương
thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao nhận hàng.
1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết
hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1. Cơ sở ban hành
Với đặc trưng của nền kinh tế thị trường, mua - bán là phương thức chủ yếu
của quá trình lưu thông từ khâu sản xuất đến khâu tiêu dùng. Người trao đổi hàng
hóa có quyền tự do lựa chọn trên thị trường ở ba mặt: tự do lựa chọn nội dung trao
đổi, mua bán; tự do lựa chọn đối tác và tự do lựa chọn giá cả theo phương hướng
thuận mua vừa bán. Hoạt động mua bán hàng hóa được thực hiện thường xuyên,
liên tục và rộng khắp trên cơ sở một kết cấu hạ tầng cần thiết để hoạt động mua bán
hàng hóa diễn ra được thuận lợi, an toàn với một hệ thống thị trường ngày càng phát
triển đa dạng, mạnh mẽ: Các đối tác hoạt động trong nền kinh tế thị trường đều theo
11

11


đuổi lợi ích của mình; lợi ích cá nhân trở thành động lực trực tiếp cho sự phát triển
kinh tế và tự do cạnh tranh là thuộc tính của nền kinh tế thị trường, đồng thời là
động lực thúc đẩy sự tiến bộ kinh tế - xã hôi. Trong nền kinh tế hiện nay, hầu hết
những giao dịch nhằm thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ,
nghiên cứu... đều liên quan đến việc thiết lập quan hệ hợp đồng – một thoả thuận
ràng buộc về mặt pháp lý thì có thể khẳng định rằng, những điều kiện ra đời của nền
sản xuất hàng hoá cũng chính là những điều kiện ra đời của hợp đồng.
Thêm vào đó, ở nước ta, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện công cuộc
đổi mới nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường với nhiều thành phần sở hữu
phát triển bình đẳng có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình, các đơn vị kinh tế thuộc mọi

ý chí của các bên giao kết hợp đồng phù hợp với ý chí của nhà nước. Hay nói cách
khác, sự tự do ý chí giao kết hợp đồng của các chủ thể phải nằm trong khuôn khổ,
giới hạn nhất định – giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội
và trật tự công cộng. Nếu để các bên tự do vô hạn, thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành
phương tiện để kể giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung
của xã hội. Chính vì vậy, trong xã hội ta – xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của
toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ
chức nào được lợi dụng ý chí tự do để biến những hợp đồng thành phương tiện bóc
lột. Bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ thể phải chú ý tới quyền, lợi
ích của người khác và của toàn xã hội. Tự do của mỗi chủ thể không được trái pháp
luật và đạo đức xã hội. Lợi ích của cộng đồng, của toàn xã hội được quy định bởi
pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi
tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.
+ Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng:
Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồng không
ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình, đồng thời thể hiện bản
chất của quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng.
Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình
đẳng với nhau, không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần
xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ
dân sự. Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng mua bán
hàng hóa chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện.
Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng mua bán hàng hóa được
13

13


giao kết khi thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể.
Tuy nhiên trên thực tế, việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí

ký kinh doanh, các tổ chức kinh tế trở thành thương nhân và có quyền tham gia giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích, nhu cầu kinh doanh.
14

14


Khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, mỗi bên phải cử ra một đại diện hợp pháp
của mình để tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.
Có thể chia thương nhân thành hai nhóm là thương nhân có tư cách pháp
nhân và thương nhân không có tư cách pháp nhân. Trong đó:


Thương nhân có tư cách pháp nhân bao gồm:
Công ty TNHH hai thành viên trở lên: người đại diện theo pháp luật của công
ty TNHH hai thành viên trở lên là Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc
(Tổng giám đốc) theo quy định cụ thể tại Điều lệ công ty.
Công ty TNHH một thành viên: Người đại diện theo pháp luật của công ty
TNHH một thành viên là Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty hoặc
Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định tại Điều lệ công ty.
Công ty cổ phần: Người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Hội đồng quản trị
hoặc Giám đốc (Tổng giám đốc) theo quy định tại Điều lệ công ty.
Công ty hợp danh: Người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh là các
thành viên hợp danh theo quy định tại Điều lệ công ty.



Thương nhân không có tư cách pháp nhân bao gồm:
Doanh nghiệp tư nhân: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư
nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân. Trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân thuê

Có hai hình thức ủy quyền:
- Ủy quyền thương xuyên: Là loại hình ủy quyền diễn ra trong một thời
gian dài nhằm ký kết nhiều giao dịch, nhiều hợp đồng. Việc ủy quyền thường xuyên
có thể được ghi nhận trong Điều lệ, quy chế hoặc quy định do thương nhân ban
hành.
- Ủy quyền vụ việc: Là loại hình ủy quyền diễn ra trong một thời gian ngắn
nhằm ký kết một hoặc một số hợp đồng cụ thể.
Người được uỷ quyền chỉ được phép hoạt động trong phạm vi được uỷ quyền
và không được uỷ quyền lại cho người khác.
Ngoài ra, chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là thương nhân
Việt Nam hay có thể là thương nhân nước ngoài.


Chủ thể không phải là thương nhân
Căn cứ vào mục đích sinh lợi, trong rất nhiều trường hợp, tổ chức, cá nhân

không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa khi họ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân.
Khác với bên là chủ thể là thương nhân, bên chủ thể không phải là thương
nhân có thể là mọi chủ thể có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa. Đó có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân

16

16


hoặc không có tư cách pháp nhân hay cũng có thể là hộ gia đình, tổ hợp tác,...
không hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và liên tục.
1.2.2.3. Pháp luật điều chỉnh trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng mua bán



Thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực:
17

17


Căn cứ theo Điều 391 BLDS 2005, thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng có
hiệu lực được xác định là thời điểm đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có
hiệu lực do bên đề nghị ấn định. Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết
hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.
Các trường hợp được coi là đã nhận được đề nghị giao kết hợp đồng được
xác định như sau:
Thứ nhất: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú, nếu bên được đề nghị là cá
nhân; được chuyển đến trụ sở, nếu bên được đề nghị là pháp nhân.
Thứ hai: Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên
được đề nghị.
Thứ ba: Khi bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua
các phương thức khác.


Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 392 BLDS 2005, bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay
đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất: Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc
rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị.
Thứ hai: Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp
bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó
phát sinh.

Sửa đổi đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa do bên được đề nghị đề
xuất:
Căn cứ theo Điều 395 BLDS 2005, khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao
kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã
đưa ra một lời đề nghị giao kết mới.


Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
Chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa thực chất là việc bên được

đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhận lời đề nghị và đồng ý tiến hành
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa với bên đã đưa ra lời đề nghị giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa đó.


Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa:
Căn cứ theo Điều 397 BLDS 2005, khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời
thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó, nếu
bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp
nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.
Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do
khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông
báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời
ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện
thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp
nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời.




Tự do thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng trong giao kết
hợp đồng. Điều này có nghĩa, các bên được tự do lựa chọn hình thức phù hợp khi giao
kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Tuy nhiên, tự do lựa chọn trong khuôn khổ pháp luật
cho phép.
Về nguyên tắc, hình thức giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp
với hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa. LTM 2005 không quy định hình thức
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, song có thể dựa vào quy định của LTM 2005
20

20


về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa để xác định hình thức giao kết hợp đồng
mua bán hàng hóa.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 24 LTM 2005 quy định, hình thức của hợp đồng
mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng
hành vi cụ thể. Do đó, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được xác lập
dưới ba hình thức: lời nói, văn bản hoặc hành vi.
Đối với giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa được xác lập bằng hình thức lời
nói (hay còn gọi là hình thức miệng), các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội dung cơ bản của hợp đồng. Giao
kết hợp đồng dưới hình thức này rất thuận tiện, nhanh chóng và thường áp dụng cho
những trường hợp mà các bên tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa đã
quen biết và có sự tin tưởng lẫn nhau hoặc đối với những hợp đồng mua bán hàng
hóa ngay sau khi giao kết sẽ thực hiện và chấm dứt ngay. Hình thức này có giá trị
pháp lý không dễ xảy ra tranh chấp khi thực hiện hợp đồng.
Đối với giao kết hợp đồng được xác lập bằng hình thức văn bản, các bên khi
tham gia giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ ghi nhận nội dung giao kết hợp
đồng mua bán hàng hóa bằng một văn bản chứa đựng đầy đủ các nội dung cơ bản
của hợp đồng và có chữ ký xác nhận của các bên. Hình thức này tạo ra chứng cứ

mua bán hàng hóa.
Căn cứ theo Điều 402 BLDS 2005 quy định nội dung của hợp đồng: “Tuỳ
theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
1. Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc
không được làm.
2. Số lượng, chất lượng.
3. Giá, phương thức thanh toán.
4. Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng.
5. Quyền, nghĩa vụ của các bên.
6. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
7. Phạt vi phạm hợp đồng.
8. Các nội dung khác.”
Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều
khoản mà các bên thỏa thuận với nhau. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
trước hết là các điều khoản do các bên thỏa thuận. Đồng thời, trên cơ sở các quy
định của BLDS, LTM và tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, có thể
thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm: đối
tượng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời gian thanh toán,

22

22


thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng,... Tuy nhiên, với từng hợp đồng mua bán
hàng hóa cụ thể lại có sự khác nhau.
Các điều khoản trong nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể chia
ra thành ba loại:
Loại thứ nhất: Điều khoản cơ bản
Các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu và là những điều khoản

thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Các điều khoản này được
gọi là điều khoản tùy nghi2.
Điều khoản tùy nghi là những điều khoản mà các bên tham gia giao kết hợp
đồng tự ý lựa chọn và thoả thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân sự
của các bên. Thông qua điều khoản tùy nghi, bên có nghĩa vụ được phép lựa chọn
một trong những cách thức nhất định để thực hiện hợp đồng, sao cho thuận lợi mà
vẫn bảo đảm được quyền yêu cầu của bên kia 3. Dựa vào tính chất các điều khoản
tùy nghi có thể chia ra làm hai loại là điều khoản tùy nghi ngoài pháp luật và điều
khoản tùy nghi khác pháp luật4.
Như vậy, tùy từng hợp đồng cụ thể, một điều khoản trong nội dung của hợp đồng
mua bán hàng hóa có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điều khoản thông thường
hay cũng có thể là điều khoản tùy nghi.
1.3. Yêu cầu pháp luật điều chỉnh vấn đề giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa
1.3.1. Yêu cầu tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh tồn tại như một nhu cầu tất yếu của sự phát triển
kinh tế, xã hội. Quyền tự do kinh doanh là một phần hợp thành đóng vai trò quan
trọng trong hệ thống các quyền tự do của con người. Giá trị của quyền tự do kinh
doanh được thể hiện ở chỗ, mọi chủ thể trong nền kinh tế đều được tự do hoạt động
kinh doanh của mình theo khuôn khổ của pháp luật.
Dưới góc độ chủ thể, quyền tự do kinh doanh là khả năng hành động có ý
thức của các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong quá trình
tồn tại và phát triển. Quyền tự do kinh doanh bao gồm các khả năng mà cá nhân,
pháp nhân có thể xử sự như: Tự do đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa
chọn mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa chọn đối tác để thiết lập quan hệ kinh
doanh, tự do cạnh tranh, tự do lựa chọn giải quyết phương thức tranh chấp trong
kinh doanh,...
Dưới góc độ là một chế định pháp luật, quyền tự do kinh doanh là một chế
định pháp luật bao gồm hệ thống các quy định pháp luật và những bảo đảm pháp lý
do Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền tự do

Quyền sử dụng: Là quyền chủ sở hữu khai thác công dụng hưởng hoa lợi, lợi
tức tài sản theo ý chí của mình nhưng không gây thiệt hại, ảnh hưởng đến lợi ích
công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Quyền đinh đoạt: Là quyền quan trọng nhất của chủ sở hữu và chỉ có chủ sở
hữu mới được hưởng quyền này. Chủ sở hữu được thực hiện quyền định đoạt thông
qua việc chuyển giao quyền sở hữu cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.
Chủ sở hữu có thể tự mình tặng cho, cho vay hay thực hiện các hoạt động mua bán
đối với tài sản mà mình sở hữu.
25

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status