ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƢƠNG THẢO
HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU KIỆN
CHUỘC LẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHƢƠNG THẢO
HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU KIỆN
CHUỘC LẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu
Hà Nội – 2017
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.............................................................1
2.Tổng quan tài liệu nghiên cứu.......................................................................2
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu ................................................................................. 2
3.2 Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 3
3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................3
4. Phạm vi nghiên cứu......................................................................................3
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn...................................3
6. Kết cấu của luận văn....................................................................................4
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN VỚI ĐIỀU
KIỆN CHUỘC LẠI
1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản........................................................5
1.1.1 Định nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản............................................... 5
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản .................................... 6
1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại........................7
1.2.1. Định nghĩa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại ............... 7
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
........................................................................................................................... 7
1.2.3 Nguyên tắc giao kết hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
......................................................................................................................... 10
1.3. Lịch sử phát triển của chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại.........................................................................................................13
1.4.Các hình thức tồn tại chủ yếu hiện nay của hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại và mối liên hệ giữa chúng...............................................22
1.4.1. Hợp đồng repo chứng khoán ................................................................ 22
1.4.2 Hợp đồng repo bất động sản .................................................................. 26
1.4.3. Hợp đồng cố đất .................................................................................... 28
1.5. Ý nghĩa thực tiễn của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc
lại....................................................................................................................30
PHỤ LỤC
vi
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bộ luật dân sự 2005 ra đời đánh dấu bƣớc phát triển của mới nền kinh
tế xã hội Việt Nam. Nó đã đặt ra những nguyên tắc cơ bản mang tính nền
tảng, định hƣớng cho sự phát triển của các giao lƣu dân sự. Tuy nhiên, trải
qua gần 10 năm thực thi bộ luật đã bộc lộ những khiếm khuyết nhất định.
Chính vì vậy, Quốc Hội đã tiến hành sửa đổi, ban hành bộ luật dân sự mới
BLDS năm 2015. Qua quá trình nghiên cứu về các chế định trong bộ luật
dân sự, tôi nhận thấy rằng chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại tại Điều 462 trong BLDS năm 2005 cần có những thay đổi đề phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện tại của đất nƣớc và quốc tế. Trong
BLDS năm 2015 chế định này đã đƣợc sửa đổi tại điều 454 cũng đã khắc phục
một số nhƣợc điểm của BLDS năm 2005 nhƣng chƣa có một nghiên cứu nào
tổng quát về chế định hợp đồng này mặc dù trên thực tiễn các cơ quan có
thẩm quyền tỏ ra lung túng, quan điểm không thống nhất, khi giải quyết các
tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại nhất là chấp về hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại trong lĩnh vực bất động sản dƣới
tên gọi hợp đồng cố đất là khá phổ biến. Hiện nay, cùng với sự phát triển của
thị trƣờng chứng khoán, giao dịch bất động sản thì hợp đồng mua bán tài sản
với điều kiện chuộc lại đã biến thiên, phát triển thành các hình thức nhƣ: hợp
đồng repo chứng khoán, hợp đồng repo bất động sản. Các hợp đồng này có
thể xem là các nhánh phái sinh của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại với những điểm giống và biến thiên khác biệt. Với sự xuất của loại
hình giao dịch mới này, pháp luật chuyên ngành chƣa có có những giải pháp
điều chỉnh nên thiết nghĩ việc cấp thiết hiện nay là hoàn thiện chế định chung
- PGS.TS Ngô Huy Cƣơng, Bàn về sửa đổi các quy định chung về hợp
đồng của Bộ luật dân sự 2005
3. Đối tƣợng nghiên cứu và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Những vấn đề lí luận và thực tiễn trong việc thực hiện hợp đồng mua
2
bán tài sản với điều kiện chuộc lại và những dạng hợp đồng này trên thực tế.
3.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở kết quả nghiên cứu của
các công trình nghiên cứu đi trƣớc, tập trung nghiên cứu những quy định của
pháp luật về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, phân tích,
đánh giá thực tiễn những quy định này đƣợc áp dụng trên thực tế. Từ đó đƣa
ra giải pháp cụ thể hoàn thiện chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều
kiện chuộc lại đóng góp vào sửa đổi BLDS.
3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu ngƣời viết chủ yếu vận dụng các
phƣơng pháp phân tích so sánh tổng hợp làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, pháp
lý cũng nhƣ thực tiễn của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
và đánh giá các đặc điểm pháp lý về hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại, đối chiếu để làm rõ những điểm hạn chế, bất cập của hợp đồng
mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại so với các sản phẩm phái sinh của nó
và pháp luật của Việt Nam trƣớc đây về các vấn đề có liên quan.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu tổng thể khái quát
những quy định của pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại và những hình thức tồn tại chủ yếu của dạng hợp đồng
này trên thực tế, từ đó và những bất cập của chế định này từ đó đóng góp vào
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN
VỚI ĐIỀU KIỆN CHUỘC LẠI
1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản
1.1.1 Định nghĩa của hợp đồng mua bán tài sản
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội có hai hình thức sản xuất
là sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất hàng hoá. Sản xuất tự cung tự cấp là
hình thức sản xuất mà sản phẩm lao động chỉ dùng để thoả mãn nhu cầu của
ngƣời sản xuất trong nội bộ kinh tế. Còn sản xuất hàng hoá là sản phẩm của
xã hội trong đó mỗi quan hệ sản xuất giữa ngƣời sản xuất biểu hiện ra thị
trƣờng, thông qua việc mua bán, trao đổi sản phẩm và dịch vụ. Hàng hoá có
thể thoả mãn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của con ngƣời thông qua việc trao
đổi với nhau. Quá trình phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hoá
đã làm xuất hiện tiền tệ. Tiền tệ làm thƣớc đo giá trị bản thân nó cũng là một
hàng hoá đặc biệt có giá trị nhƣ các loại hàng hoá khác. Giá trị của mỗi hàng
hoá đƣợc biểu hiện bằng một số tiền nhất định là giá cả.[33,tr11] Do vậy,
việc trao đổi hàng hoá và tiền tệ là một quan hệ pháp luật mà ngƣời mua và
ngƣời bán có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Ngƣời bán sẽ chấm dứt
quyền sở hữu đối với vật, tài sản đem bán đồng thời làm phát sinh quyền sở
hữu của ngƣời mua đối với tài sản, vật đó.[13]
Theo quy định của BLDS năm 2005 tại điều 428 quy định “hợp đồng mua bán tài
sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản
cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền
cho bên bán”.
Và theo BLDS hiện hành 2015 tại điều 430 thì hợp đồng mua bán tài sản
đƣợc quy định: “ hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên,
theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả
tiền cho bên bán”.
loại hợp đồng mà mỗi bên chủ thể sau khi thực hiện cho bên kia một lợi ích,
6
một công việc nhất định sẽ nhận lại đƣợc từ bên kia một lợi ích tƣơng đƣơng.
Tuy nhiên, không phải trong mọi trƣờng hợp nhất thiết hai bên đều nhận đƣợc
lợi ích vật chất thì mới coi là đền bù tƣơng ứng. Tính đền bù là điểm khác biệt
cơ bản của hợp đồng mua bán tài sản so với hợp đồng tặng cho tài sản – một
hợp đồng không có đền bù. [33, tr11-18]
1.2 Khái niệm hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
1.2.1. Định nghĩa hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại
Trƣớc sự phát triển không ngừng của xã hội nhu cầu mua bán, trao đổi của
con ngƣời cũng đa dạng và phức tạp hơn nên ngoài các hợp đồng mua bán tài
sản thông thƣờng BLDS 2015 còn quy định thêm về những dạng hợp đồng
đặc biệt trong đó có hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc. Thuật ngữ
"hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại" không phải là tên gọi chính
thức của luật và trong thực tiễn loại hợp đồng này còn có các tên gọi khác
nhƣ: hợp đồng mua bán tài sản có điều khoản chuộc lại, hợp đồng chuộc lại,
nhƣng xét về bản chất là giống nhau. Vì vậy, xuất phát từ bản chất chuộc lại
của loại hợp đồng này mà ngƣời viết thống nhất cách gọi trong luận văn là hợp
đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại nhằm phân biệt với các loại hợp
đồng mua bán khác và thuận tiện cho việc phân tích. Theo quy định tại trong
BLDS năm 2015 tại điều 454 “ Chuộc lại tài sản đã bán” và các quy định về
hợp đồng mua bán tài sản thì ta có thể hiểu hợp đồng mua bán tài sản với điều
kiện chuộc lại là: “Hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại là hợp
đồng mua bán tài sản mà trong đó bên bán và bên mua cùng nhau thoả thuận
về quyền chuộc lại tài sản đã bán sau một thời hạn.”
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại
thời bên mua phải chịu rủi ro đối với tài sản đó trong thời hạn chuộc lại. Tuy
nhiên, điều kiện chuộc lại đã hạn chế quyền sở hữu đối với vật mua của bên
mua. Trong thời hạn chuộc lại bên mua không đƣợc xác lập bất kỳ giao dịch
chuyển quyền sở hữu tài sản cho chủ thể khác nào có liên quan đến tài sản
mua nếu có nguy cơ ảnh hƣởng đến quyền chuộc lại tài sản của bên bán. Đây
8
là điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 cho phép các chủ sở
hữu tạm thời “ bên mua” đƣợc thực hiện các giao dịch nhƣ cho thuê, thế chấp,
cầm cố... nghĩa là không chuyển quyển sở hữu ( tăng quyền cho bên mua) và
phải chịu rủi ro đối với tài sản.
Từ những phân tích về hợp đồng mua bán tài sản với hợp đồng mua bán tài
sản có điều kiện chuộc lại thì có thể nói mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán
tài sản với điều kiện chuộc lại với hợp đồng mua bán tài sản thông thƣờng là
mối quan hệ giữa “cái riêng” và “cái chung”, giữa chúng có những điểm
tƣơng đồng và khác biệt ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, thời hạn chuộc lại tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại bên bán và bên mua có thể thỏa thuận hoặc không thỏa
thuận về thời hạn này tuy nhiên nếu không thỏa thuận về thời hạn chuộc lại
tài sản thì thời hạn này sẽ bị giới hạn không quá một năm đối với động sản và
năm năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm giao tài sản. Trong thời hạn
chuộc lại bên bán có quyền chuộc lại bất cứ lúc nào, nhƣng phải báo trƣớc
cho bên mua trong một thời gian hợp lý. Chính thời hạn chuộc lại này đã tạo
cho bên mua chỉ có quyền sở hữu “tạm thời” đối với tài sản, trong khi đó với
hợp đồng mua bán tài sản (thông thƣờng) quyền sở hữu sẽ chuyển giao thực sự
cho bên mua và bên bán không có quyền chuộc lại cho nên càng không thể có
thỏa thuận về thời hạn chuộc lại tài sản.
Thứ hai, quyền sở hữu của bên mua khi hợp đồng mua bán tài sản với điều
tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại điều 3
BLDS 2015:
Thứ nhất, mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không đƣợc lấy bất kỳ
lý do nào để phân biệt đối xử; đƣợc pháp luật bảo hộ nhƣ nhau về các quyền
nhân thân và tài sản. Tức là khi tham gia giao kết các bên đều đƣợc bình
đẳng về quyền và nghĩa vụ, khi có tranh chấp xảy ra, căn cứ vào các thỏa
thuận của các bên cũng nhƣ các quy định của pháp luật thì toàn bộ quyền và
nghĩa vụ về tài sản của các bên đều đƣợc pháp luật bảo vệ.
Thứ hai, cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa
10
vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi
cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã
hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải đƣợc chủ thể khác tôn
trọng.Theo nguyên tắc này này mọi cá nhân, tổ chức khi có đầy đủ tƣ cách chủ
thể đểu có quyền tham gia giao kết bất kỳ một hợp đồng dân sự nào nếu họ muốn
và không có ai có quyền ngăn cấm họ, bằng ý chí tự do của mình các chủ thể có
quyền giao kết hợp đồng. Chủ thể “tự do, tự nguyện giao kết” hợp đồng nhƣng
không trái đạo đức xã hội, vi phạm điều cấm của pháp luật. Điều này đã thể hiện
đƣợc quyền và nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng với nhau, chủ thể
ngoài việc đƣợc “ tự do giao kết” thì bên cạnh đó còn có nghĩa vụ tôn trọng pháp
luật và không đƣợc làm trái những gì mà mình đã giao kết, đảm bảo đƣợc sự công
bằng và tính công minh của pháp luật.
Nội dung của quyền tự do giao kết hợp đồng này bao gồm: Quyền tự do
lựa chọn đối tác ký kết hợp đồng cho phép các bên tự do lựa chọn giao kết
hay không giao kết hợp đồng với chủ thể khác, đảm bảo sao cho phù hợp và
có lợi nhất cho mình, mà không ai có quyền can thiệp hay cản trở; Quyền tự
do thỏa thuận nội dung và hình thức của hợp đồng khi giao kết hợp đồng
mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại phải đƣợc hình thành trên cơ sở ý chí
của các bên và ý chí đó phải hoàn toàn tự nguyện. Khi hai bên tham gia giao
kết hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại thì bên bán và bên mua
đƣợc bình đẳng đƣa ra các điều kiện, những nội dung phù hợp với lợi ích của
mình để đạt đƣợc mục đích đặt ra; bên bán và bên mua đƣợc hƣởng quyền và
nghĩa vụ tƣơng ứng với nhau trong phạm vi mà họ đã thỏa thuận; bên bán và
bên mua bình đẳng gánh chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm hợp đồng.
Nguyên tắc bình đẳng trong giao kết hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại có ý nghĩa trong việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mỗi bên,
đảm bảo sự công bằng trong giao kết hợp đồng dân sự. Bên cạnh đó, để nhanh
chóng đạt đƣợc sự thỏa thuận, thống nhất ý chí thì đòi hỏi bên bán và bên mua
trong hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại phải có một thái độ
thiện chí và hợp tác. Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên phải tôn
12
trọng ý chí của nhau trong quá trình thƣơng lƣợng, biết thừa nhận lợi ích của
nhau một cách công bằng và hợp lý. Hai bên phải tuân thủ khi giao kết đó là
nguyên tắc trung thực và ngay thẳng. Việc thực hiện nguyên tắc này nhằm
mục đích bảo đảm hiệu lực của hợp đồng đã giao kết. Theo đó, khi tham gia
giao kết hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại, một bên không
đƣợc lừa dối bên kia, không đƣợc cố ý đƣa ra các thông tin không đúng để
bên kia giao kết hợp đồng với mình, làm cho quyền lợi của bên kia bị thiệt
hại. [27]
1.3. Lịch sử phát triển của chế định hợp đồng mua bán tài sản với
điều kiện chuộc lại
1.3. 1.Trên thế giới
Hợp đồng chuộc lại tài sản là một chế định đã có từ thời trung đại trong
tập quán thƣơng mại của nhiều nƣớc Châu Âu. Trƣớc tiên phải nhắc đến
mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại chúng ta mới thấy đƣợc bối cảnh toàn
cục của vấn đề, những hạn chế, tiến bộ, của nó từ đó có những giải pháp sát hợp
để hoàn thiện pháp luật hiện tại. Trong phần này ngƣời viết xem xét lịch sử pháp
luật Việt Nam liên quan đến chế định hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện
chuộc lại trong giai đoạn từ thời Lý đến nay và để thuận tiện cho phân tích
ngƣời viết phân khúc thành bốn giai đoạn nhƣ sau:
+ Giai đoạn 1: Thời phong kiến (Thời Lý, Thời Hậu Lê, Thời Nguyễn)
Từ thời Lý trở đi, khi cơ sở chính trị đã vững vàng Nhà Lý, Trần, Lê (Hậu
Lê), Nguyễn nối tiếp nhau trong thời gian dài nên có điều kiện xây dựng nền
pháp chế độc lập và đã có các công trình pháp luật đáng kể.Những quy định về
hợp đồng mua bán tài sản với điều kiện chuộc lại đƣợc đề cập chủ yếu ở các bộ
luật thời Lý, Hậu Lê và Thời Nguyễn. Nhà Lý tồn tại từ năm 1010 đến năm
1225, bên cạnh việc củng cố bộ máy cai trị các vua nhà Lý còn chú trọng đến
việc thiết lập các triều nghi, điển chế pháp luật. Vào năm 1042, Lý Thánh
Tông cho ban hành Bộ luật Hình thƣ, đây là sách luật đầu tiên của một triều
đại Việt Nam. Cũng nhƣ pháp luật của các triều đại phong kiến sau này, pháp
luật thời Lý không có văn bản riêng điều chỉnh về lĩnh vực dân sự, mà xen kẻ
14
giữa các chế định hình sự, hành chính, là các chế định dân sự thuần túy. Chế
định về chuộc lại đã đƣợc Bộ luật Hình thƣ điều chỉnh nhằm bảo vệ quyền lợi
của ngƣời nông dân, nó giúp họ không phải từ bỏ quyền sở hữu đối với một tƣ
liệu sản xuất quan trọng đó là "ruộng nƣơng" trong lúc túng tiền bằng quy
định: "ngƣời nông dân khi túng tiền phải cầm cố ruộng nƣơng đƣợc chuộc lại
ruộng đất trong thời hạn 20 năm". Quy định này tỏ ra cần thiết và phù hợp, đặc
biệt là đối với nền kinh tế nông nghiệp nên những quy định về chuộc lại này
tiếp tục phát triển, cụ thể và đầy đủ hơn trong quy định pháp luật của các triều
đại tiếp theo.
Điều 89 của Hoàng Việt Luật lệ quy định: "Những ruộng đất, vƣờn rừng, đồ
dùng mà ngƣời ta bán có thời hạn đến mãn niên hạn, ngƣời chủ nô đem tiền
đến chuộc lại. Nếu ngƣời làm chủ tạm thời thoái thác nọ kia không cho chuộc
thì bị phạt 40 roi. Ngoài ra, huê lợi thu đƣợc trong năm ấy dƣ nhiều phải chu
cấp cho chủ, vẫn cho chuộc theo nguyên giá. Còn nhƣ hạn năm đã hết mà chủ
không có khả năng chuộc lại thì không ở trong luật này". Cũng trong điều
luật này còn quy định: "ngƣời bán không đƣợc bán hai lần đối với một tài
sản". Lần bán thứ hai là phi pháp, vì bán tài sản không còn thuộc quyền sở
hữu của mình trong một thời hạn nhất định. Ngƣời mua đầu tiên trở thành
chủ ruộng đất. Ngƣời mua thứ hai đƣợc nhận lại tiền. Quy định này rất công
bằng. Yếu tố biết hoặc không biết của ngƣời mua cũng quyết định mức độ
trách nhiệm của ngƣời này. Trong khế ƣớc điển mại phải ghi rõ thời hạn
chuộc lại. Trong thực tế có hai hình thức mua bán điển mại sau đây:
Thứ nhất, hai bên thỏa thuận về việc ngƣời bán có quyền chuộc lại tài
sản sau một thời hạn ghi rõ trong văn khế. Trong trƣờng hợp này, ngƣời bán
nhận lại ruộng đất và phải trả lại cho ngƣời mua số tiền chuộc lại. Hoa lợi mà
ngƣời mua đã thu đƣợc trong thời hạn chuộc lại đƣợc trừ vào tiền lời của giá
bán.
Thứ hai, ngƣời bán có thể chuộc lại tài sản đã ghi trong văn khế. Nếu
ngƣời bán chuộc lại trƣớc thời hạn thì phải hoàn trả tiền và trả cả lãi theo
thỏa thuận, nếu chuộc lại sau hạn chuộc thì chỉ phải hoàn trả tiền bán, vì
ngƣời mua đã đƣợc sử dụng tài sản thêm một thời gian nữa.
Đất ruộng đã điển mại thì đƣơng nhiên đƣợc chuộc lại và ngƣời bán
không phải trả tiền chuộc lại, vì ngƣời mua đã thu đƣợc hoa lợi do canh tác
đất ruộng. Do đó giá chuộc lại không quan trọng và đƣợc coi là tƣơng đƣơng
18
với hoa lợi mà ngƣời mua thu đƣợc.[8, tr 72-74]