Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - Pdf 33

1 Khoản 8 điều 3 luật thưomg mại 2005

Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHÒA LUÃT
CHƯƠNG 1 :TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ VÀ HIỆU Lực CỦA HỢP
cs DĐỒNG
so
MUA BÁN HÀNG HÓA
QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:
1.1.1

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế:

Bắt đầu từ việc phục vụ những nhu cầu thiết yếu, con nguời tiến hành
trao
đổi hàng hóa với nhau. Sau đó với mục đích lợi nhuận mua bán hàng hóa dần
LUẬN VÃN TÔT NGHIỆP
xuất
(Khoá
32, nămgiao
họctài
2006
hiện. Mua bán là phuơng thức
để chuyển
sản- 2010)
và quyền sở hữu tài sản
từ

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị cẩm Hường
Do nhu cầu và lợi nhuận thúc đẩy, việc mua bán hàng hóa đuợc mở
MSSV: 5062327
rộng
ra
Lớp:
Thương
mại
1 quốc gia mà liên quan đến nhiều quốc gia khác
không trong
phạm
vi của
một
nhau, gọi là mua bán hàng hóa quốc tế và cơ sở pháp lý của việc mua bán
hàng
hóa quốc tế là họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Việc làm rõ khái niệm họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có ý nghĩa
quan trọng trong lý luận và thực tiễn xét xử bởi nó gán liền với việc xác định

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường
4 Thơ - 2010
Cần


2 Điều 758 Bộ luật dân sự 2005

Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
ngoàr được định nghĩa là họp đồng được ký kết giữa một bên là thương nhân

tìm
hiểu
trong đạo luật “mẹ”-BỘ luật dân sự. Thế nhưng, Bộ luật dân sự 2005 cũng

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

5

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Theo điều này, thì việc xác định yếu tố nuớc ngoài của họp đồng mua
bán
hàng hóa quốc tế sẽ dựa vào:
Chủ thể của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, không hạn
chế
chủ
thể là đối tuợng nào nhung phải ít nhất một bên là nguời nuớc ngoài- dấu
hiệu
quốc tịch của chủ thể. Nhung nếu họp đồng được ký kết giữa nguời Việt Nam
định cu ở Việt Nam với nguời Việt Nam định cu ở nuớc ngoài cũng đuợc xem

họp đồng mua bán hàng hoá quốc tế- dấu hiệu lãnh thổ.
Sự kiện pháp lý làm phát sinh , thay đổi, chấm dứt họp đồng
theo
pháp luật nước ngoài, chịu sự điều chỉnh theo quy định của pháp luật nước
ngoài
hoặc họp đồng được phát sinh tại nước ngoài như chào hàng, chấp nhận chào
hàng

Thuyết địa điểm thường trú của pháp nhân, “ tính quốc gia ”
được
xác định là nơi có cơ quan quản lý thực tế của pháp nhân.
Thuyết giám sát, dựa trên cơ sở vốn của chủ thể thuộc quốc gia
nào
ảnh hưởng đến việc giám sát của pháp nhân.3
Trên thực tế trong một vài trường họp việc xác định tính quốc tế dựa
trên
quốc tịch của pháp nhân gây khó khăn cho việc xác định luật áp dụng cho
họp
đồng.
Ví dụ: công ty A được đăng ký thàng lập trên lãnh thổ Pháp nhưng lại
hoạt
động thường xuyên trên lãnh thổ Anh, mà theo pháp luật Pháp thì công ty A

quốc tịch Anh còn theo pháp luật của Anh thì công ty trên lại có quốc tịch của
Pháp. Giả thiết công ty A ký kết họp đồng với công ty B và theo quy phạm
xung
đột thì sẽ áp dụng luật quốc tịch người bán cho họp đồng. Trong trường họp
này,
thật khó xác định được quốc tịch của công ty A, có thể sẽ xuất hiện tình trạng
dẫn
chiếu đến nhiều luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Hoặc trong trường họp, một thương nhân Trung Quốc ký kết họp
đồng
với
thương nhân đặt trụ sở thương mại ở Việt Nam có quốc tịch Trung Quốc mua

phê ở Việt Nam, vậy họp đồng này có phải là họp đồng mua bán hàng hóa
quốc

trong các điều kiện sau:
Chủ thể của hợp đồng có quốc tịch khác nhau hoặc trụ sở thương
mại trên lãnh thổ quốc gm khác nhau;
Căn cứ phát sinh , thay đổi, chẩm dứt hợp đồng theo pháp luật
nước
ngoài hoặc tại nước ngoài;
Đối tượng của hợp đồng tồn tại ở nước ngoài”
Sau khi đã tìm hiểu, thế nào là họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, ta
cần
biết họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có đặc điểm gì để phân biệt với các
loại
họp đồng khác của họp đồng thương mại quốc tế như họp đồng thuê tài chính
quốc tế, du lịch .. .cũng như với họp đồng mua bán hàng hóa nội địa.

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

8

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


6 Điều 762- Bộ luật dân sự Việt Nam 2005
7 Phan Thị Thanh Hồng- trường Đại Học Kinh Tế- Đại Học Đà Nằng
Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chủ thể bên Việt Nam ngoài những yêu cầu về mặt chủ thể nhu: năng
lực
pháp luật, nguời ký kết có năng lực hành vi và thẩm quyền ký kết theo quy
định
pháp luật Việt Nam cũng như đối với hợp đồng mua bán hàng hóa trong
nước,

tế của họp đồng. Theo cách lý giải đó thì khi cả hai người trực tiếp ký vào họp

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

9

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


8 Điều 2- CISG

Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
chứ không phải khái niệm về hàng hóa là đối tượng của họp đồng mua bán
hàng
hóa quốc tế. Vậy hàng hóa theo họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có gì
khác
biệt so với khái niệm hàng hóa trong giao dịch dân sự thông thường?
Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế thông qua các hoạt động xuất
nhập
khẩu và theo điều 28 của Luật thương mại 2005 thì thuật ngữ xuất nhập
khẩu
được
sử dụng khi đưa hàng hóa ra hoặc vào lãnh thổ Việt Nam và khu vực đặc biệt
nằm
trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng.
Như vậy hàng hóa của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hàng
hóa
gắn
liền với hoạt động xuất nhập khẩu. Vỉ lý do an ninh quốc gia cũng như trật tự


không
có sự chuyển dịch qua biên giới quốc gia và cũng có thể cùng hoặc không
cùng
lãnh thổ với các bên chủ thể.
Ngoài ra còn một vài nét riêng biệt so với họp đồng mua bán hàng hóa
trong nước như:
Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán là đồng ngoại tệ đối với ít
nhất
một bên ký kết. Đối với họp đồng mua bán hàng hóa trong nước, đồng tiền
thanh
toán hoặc tính giá thường là đồng nội địa. Trong họp đồng mua bán hàng hóa
quốc
tế, các bên có thể thỏa thuận đồng tiền thanh toán là đồng tiền của nước
người
mua, nước người bán, hoặc nước thứ ba...do đó đồng tiền thanh toán tính giá
trong họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thường lả đồng ngoại tệ đối với
một
hoặc cả hai bên ký kết họp đồng. Ví dụ: doanh nghiệp Việt Nam ký kết họp
đồng
bán một số lượng lớn cà phê cho doanh nghiệp Mỹ, các bên chọn đồng tiền
thanh
toán là đô la Mỹ, khi này thì đồng tiền thanh toán là ngoại tệ so với doanh
nghiệp
Việt Nam.Giả sử, hai doanh nghiệp không chọn đồng đô la Mỹ mà chọn đồng
Euro là đồng tiền thanh toán thì lúc này đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối
với
cả
hai doanh nghiệp.
Trên thực tế các bên tham gia họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
thường

tế thị trường.
Đối với doanh nghiệp, mua bán hàng hóa quốc tế thực hiện mục tiêu
lợi
nhuận của các doanh nghiệp. Thông qua mua bán hàng hóa quốc tế, các
doanh
nghiệp có thể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh mở rộng quy mô và đa
dạng
hóa các hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng
bền
vững. Nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước
thông

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

12

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


9 Khoản 1 điều 403 Bộ luật dân sự 2005

Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

tế:

1.2 Tổng quan về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc

Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng mua bán
hàng
hóa

về thời điểm ký kết họp đồng theo thuyết tiếp thu.
Trong trường họp các bên có thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

13

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Khi đó tùy thuộc vào quy định của quốc gia bên đề nghị giao kết hợp
đồng,
nếu pháp luật nuớc đó quy định thời điểm hcrp đồng ký kết là thời điểm
nguời
được chào hàng gửi đi chấp nhận chào hàng- thuyết tống phát; hay quy định
xác
định thời điểm ký kết họp đồng là thời điểm bên chào hàng nhận được chấp
nhận
chào hàng từ người được chào hàng- thuyết tiếp thu thì sẽ theo đó mà xác
định
thời điểm ký kết họp đồng.

1.2.2 Ý nghĩa về việc xác định hiệu lực của hợp đồng mua bán

hàng hóa quốc tế:
Như đã trình bày ở trên, họp đồng có hiệu lực là họp đồng có khả
năng
làm
phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết, và được pháp luật

1.2.3.1

Điều ước quốc tế:

Điều uớc quốc tế về họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các văn
bản
pháp lý do các quốc gia, các tổ chức quốc tế hoặc các chủ thể khác của pháp
luật
quốc tế trên co sở tự nguyện bình đẳng ký kết hoặc tham gia nhằm xác lập
quyền
và nghĩa vụ của mình với nhau trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế.
So sánh giữa điều 2 Luật ký kết, gia nhập, thực hiện điều ước quốc tế
2005
của Việt Nam với định nghĩa của Công ước Viên năm 1969 về Luật điều ước
quốc
tế thì chủ thể của điều ước quốc tế theo luật Việt Nam rộng lớn hơn, nó bao
gồm
quốc gia, tổ chức quốc tế và chủ thể khác còn theo Công ước Viên 1969 thì
chủ
thể chỉ là quốc gia, có thể nói đó là sự vượt trội hơn của luật Việt Nam với
quy
định đó sẽ bao hàm đầy đủ các dạng của điều ước quốc tế.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều điều ước quốc tế điều chỉnh các loại
họp
đồng thương mại khác nhau, ví dụ Công ước Viên điều chỉnh họp đồng mua
bán
hàng hóa quốc tế, Công ước Ottawa 1988 điều chỉnh họp đồng thuê tài chính

họp đồng chuyển nhượng quyền yêu cầu thanh toán; Công ước Hamburg
GVHD: Diệp Ngọc Dũng

trường họp nào điều ước quốc tế được áp dụng.
Theo pháp luật Việt Nam, việc áp dụng điều ước quốc tế được ghi
nhận
tại
khoản 2 điều 759 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 “ trong trường hợp điều ước
quốc
tế mà Cộng hòa chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy
định
của Bộ luật này thì áp dụng quy định của điều ước đó ”. Và khoản 1 điều 5 luật
thương mại Việt Nam 2005 quy định: “ trường hợp điều ước quốc tể mà Cộng
hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước
ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của
điều
ước quốc tể đó thì áp dụng điều ước quốc tể đó ”. Như vậy, theo điều luật này
thì
GVHD: Diệp Ngọc Dũng

16

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
áp dụng một phàn hoặc toàn bộ Công ước, nếu như các bên không mong
muốn
áp
dụng Công ước để điều chỉnh họp đồng của mình. Điều này cũng xuất phát từ
nguyên tắc tôn trọng quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận của các bên trong
việc

thì phải áp dụng quy định của luật Việt Nam.
Vai trò của điều ước quốc tế thể hiện ở chỗ, nó là công cụ pháp lý hữu
hiệu
GVHD: Diệp Ngọc Dũng

17

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

1.2.3.2

Pháp luật quốc gia:

Các quy phạm pháp luật quốc gia trong điều chỉnh họp đồng mua bán
hàng
hóa quốc tế, đuợc chia thành hai nhóm:
Các quy phạm bắt buộc, ví dụ các quy phạm về chủ thể ký kết,
hình
thức của họp đồng, đối tuợng của họp đồng.. .Các quy phạm loại này có hiệu
lực
pháp lý trong mọi truờng họp, không phụ thuộc vào việc luật áp dụng cho
họp
đồng là luật quốc gia nào, điều uớc quốc tế hay tập quán thuong mại quốc tế.
Các quy phạm nội dung, tức là những quy phạm quy định
quyền

nghĩa vụ của các bên trong họp đồng

chọn luật áp dụng cho họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của mình là luật
quốc
gia. Và thỏa thuận này phải có giá trị pháp lý, đúng hơn là phải trong khuôn
khổ
pháp luật cho phép, thông thuờng luật mà các bên lựa chọn phải là luật của
nuớc
có mối hên hệ với họp đồng, không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật
nuớc
mình đồng thời sự thỏa thuận đó phải là sự tụ nguyện của các bên. Quyền lựa
chọn
luật áp dụng trong họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những
quyền
được pháp luật quốc gia cũng như các điều ước quốc tế ghi nhận và được ưu
tiên
áp dụng.
Trong việc ký kết họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, quyền lựa
chọn
luật
áp dụng cho họp đồng của các bên, theo nguyên tắc chung, thể hiện ý chí của
các
bên, tự do ý chí của các bên được coi như là khả năng của các bên tự thiết lập
nội
dung của hợp đồng và những điều kiện của nó. Đó có thể là luật của nước
người
bán, luật nước người mua, hoặc luật của nước thứ ba nào đó.
Luật quốc gia quy định phải áp dụng luật của nước mình để
điều
chinh họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Đó là những quy phạm xung đột
mệnh
lệnh quy định trong một số trường họp ngoại lệ mà khi họp đồng rơi vào

tế, hiệu lực của họp đồng như: Incoterm, Bộ nguyên tắc Unidroit.
Điểm khác biệt giữa tập quán quốc tế với luật pháp đó chính là quá
trình
hình thành lâu, áp dụng có hệ thống và tính thừa nhận rộng tãi nhưng lại
không
được ghi nhận ở đâu.
Có thể chia tập quán quốc tế thành ba loại theo tiêu chí tính chất và
giá trị:
Tập quán mang tính chất nguyên tắc là tập quán về các vấn đề chung
được hình thảnh trên cơ sở nguyên tắc chủ quyền quốc gia hoặc những
nguyên tắc
pháp luật được áp dụng phổ biến trong thực tiễn. Ví dụ: tập quán “ luật nhân
thân”
căn cứ vào luật quốc tịch của pháp nhân.
Tập quán mang tính chất chung là tập quán thương mại được

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

20

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
định nào về việc thời gian hình thành tập quán thưong mại đó bao nhiêu lâu
mới
được gọi là lâu đời, sự xác định tính lâu đời này hoàn toàn phù thuộc vào cơ
quan
có thẩm quyền xét xử.
Tập quán thương mại phải có nội dung rõ ràng.

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

21

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


11 Diệp Ngọc Dũng- Tập bài giảng thương mại quốc tế- khoa luật trường ĐHCT- 2002

Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
không công khai thỏa thuận trong họp đồng về việc áp dụng tập quán thuơng
mại
quốc tế, nhung trong quá trình giao kết các bên đã mặc nhiên chấp thuận sự
điều
chinh của tập quán thưong mại quốc tế đối với quyền và nghĩa vụ của
mình.11
Theo nguyên tắc, bản thân của tập quán thuơng mại quốc tế không có
hiệu
lực pháp lí nhu một quy phạm pháp luật, nó chỉ có hiệu lực trong những
truờng
họp cụ thể do luật định. Trong thực tiễn, tập quán thuơng mại quốc tế đuợc
áp
dụng trong những truờng họp sau đây:
Căn cứ vào ý chí của các bên tham gia họp đồng mua bán hàng
hóa
quốc tế, tức là tập quán quốc tế đuợc áp dụng khi các bên trong họp đồng
mua
bán
hàng hóa quốc tế thỏa thuận chọn áp dụng ghi trong họp đồng. Tuy nhiên,
việc

Trong trường họp các bên không có thỏa thuận cụ thể về việc áp dụng
tập
quán thương mại quốc tế, đồng thời các điều ước quốc tế và luật trong nước

liên quan cũng không có quy định cụ thể về vấn đề này thì cơ quan xét xử có
thể
áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết tranh chẩp.Việc cơ quan
xét
xử
sẽ áp dụng tập quán thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp khi có đủ

sở
pháp lý để khẳng định rằng trong khi giao kết họp đồng, các bên chủ thể đã
ngầm
hiểu các bên phải hành động theo tập quán thương mại quốc tế mà bất cứ
nhà
kinh
doanh thương mại nào cũng hành động như vậy trong hoàn cảnh tương tự.12
Luật
thương mại Việt Nam cũng quy định tại điều 12 trừ trường họp có thỏa thuận
khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động
thương
mại đã được thiết lập giữa các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được
trái
với quy định của pháp luật.
1.2.3.4

Án lệ:

Quy tắc xét xử hình thảnh từ thực tiễn xét xử của Tòa án gọi là án lệ hay

13 Điều 122- Bộ luật dân sự 2005

Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

CHƯƠNG 2:
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU Lực CỦA HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUÓC TẾ
Để họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có hiệu lực thì càn phải
thỏa
mãn một số điều kiện theo luật định, và những điều kiện đó phù thuộc
vào
nguồn luật được áp dụng để điều chỉnh họp đồng mua bán hàng hóa
quốc
tế
nói chung và hiệu lực của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói
riêng.
2.1 Điều kiện để hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có

hiệu
lực:

Mua bán hàng hóa quốc tế là giao dịch dân sự trong lĩnh vực
thương
mại có yếu tố nước ngoài, do đó những điều kiện để một giao dịch dân
sự

hiệu lực được áp dụng cho hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế. Theo
quy
định của pháp luật Việt Nam - Bộ luật dân sự 2005 quy định giao dịch
dân

họp
mua bán hàng hóa quốc tế:
Truông họp thứ nhất, doanh nghiệp có vốn đầu tu nước ngoài
được
trực tiếp nhập khẩu, ủy thác nhập khẩu, tạm nhập cũng như trực tiếp
xuất
khẩu, ủy thác xuất khẩu, tạm xuất các loại hàng hóa để triển khai hoạt
động
đầu tu phù họp với mục tiêu của dự án đầu tu quy định tại Giấy phép
đầu
tu
hoặc Giấy chứng nhận đầu tu.
Truông họp thứ hai, đối với việc mua bán hàng hóa quốc tế mà
đối
tượng không phải là các hàng hóa nói trên thì doanh nghiệp có vốn đầu
tu
nước ngoài phải được cấp giấy phép kinh doanh hoạt động mua bán
hàng
hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam.
Pháp luật Việt Nam cũng cho phép chi nhánh thương nhân nước
ngoài đặt tại Việt Nam có quyền ký kết, thực hiện họp đồng mua bán
hàng
hóa quốc tế.15
Theo dõi qua các giai đoạn luật Việt Nam đã có những thay đổi

bản trong việc quy định về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu của
doanh

GVHD: Diệp Ngọc Dũng


quan Nhà nước có thẩm quyền.
Hiện nay, theo pháp luật Việt Nam người đại diện theo pháp luật
của
thương nhân với từng loại hình doanh nghiệp, cụ thể nhu sau:
Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân là chủ
doanh
nghiệp tư nhân.
Người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn
một

GVHD: Diệp Ngọc Dũng

27

SVTH: Nguyễn Thị cẩm Hường


18 Điều 140-142 Bộ luật dân sự 2005
19 Điều 3 luật doanh nghiệp 2005
Hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Người đại diện theo pháp luật của công ty liên doanh hoặc doanh
nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Giám đốc (tổng giám đốc) theo
điều
lệ công ty...
Như vậy căn cứ để xác định người đại diện theo pháp luật của
doanh
nghiệp phù thuộc vào quy định của pháp luật mà thương nhân đó có trụ
sở
hoặc được quy định tại điều lệ của mỗi công ty.
# Đại diện theo ủy quyền là hình thức đại diện được xác lập theo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status