ĐẠI HỌC Q ư ó c GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỤY PHƯƠNG
j~ '-.’a
h ọ c q u o g g ía ha noi
TÂM ĨH p N G
tin th ư v i ệ n
; V'L-01 Ạ3M
TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM
•
■
HỢP ĐỔNG MUA BÁN HÀNG HỚA QUỐC TÊ
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
^
-
*
m
Chuyên ngành : Luậi kinh tế
M ã số
1.1.1.
Khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
7
1.1.1.1.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo cách hiểu của
Công ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động
sản hữu hình
1.1.1.2.
Hợp đông mua bán hàng hóa quôc tê theo cách hiêu của
Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tể
'
t
t
■»
8
10
17
1.1.2.3.
v ề đồng tiền thanh toán
19
1.1.2.4.
v ề ngôn ngữ của hợp đồng
20
1.1.2.5.
v ề giải quyết tranh chấp
20
1.1.2.6.
v ề luật điều chỉnh hợp đồng
21
1.2.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bản hàng hóa quốc tế
hóa quốc tế
30
Che tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
30
Chương 2ĩ THựC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
32
VIỆT NAM VÈ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP
ĐÒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUÓC TẾ VÀ THựC
TIÊN ÁP DỤNG
Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
32
Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về các yếu
tố cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
32
Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về yếu tổ
thử nhất: có hành vi vi phạm hợp đồng
40
miễn trách thứ hai: do gặp bất khả khảng
2.1.2.3. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về căn cứ
miễn trách thứ ba: do lỗi của bên vi phạm
42
2.1.2.4. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về căn cứ
miễn trách thứ tư: do Quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền
44
2.1.3.
46
Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về các chế tài
do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
2.1.3.1.
Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng
46
2.2.
Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam về
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
60
2.2.1.
Những thuận lợi khi áp dụng các quy định của pháp luật
Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
60
2.2.1.1.
Những thuận lợi khi áp dụng các quy định về các yếu tố
cấu thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
60
hóa quốc tế
2.2.1.2.
Những thuận lợi khi áp dụng các quy định về căn cứ miễn trách
61
2.2.1.3
65
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
68
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA QUÓC TÉ
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật
68
Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế
3.1.1.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về trách
68
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhàm
đáp ứng yêu cầu của thương mại quốc tế trong điều kiện
Việt Nam đã gia nhập WTO
3.1.2.
đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được đặt trong mối quan
hệ hữu cơ với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
3.2.2.
Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm
74
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải tạo sự hài hòa, tương
thích với pháp luật quốc tế về mua bán hàng hóa quốc tế
3.2.3.
Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm
họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm mục đích loại bỏ
sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật, tạo môi trường pháp lý
thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào
các quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế
75
Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của
76
pháp luật việt nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
Nhóm giải pháp về hoàn thiện các quy định về trách nhiệm
76
84
Tăng cưcmg đào tạo kiến thức về hợp đồng mua bán hàng hóa
84
quốc tế, về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế
Tăng cường phổ biến Công ước Viên năm 1980 về hợp
86
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Xây dựng lộ trình gia nhập Công ước Viên năm 1980 về
87
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
KẾT LUẶN
89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
91
PHỤ LỤC
95
phát triển nền kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
kinh tế quốc tế.
Để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, tạo điều
kiện để hội nhập kinh tế quốc tể có hiệu quả thì cần thiết phải phát huy sức
mạnh tổng hợp của tất cả các lĩnh vực kinh tế, trong đó có thương mại quốc
tế. Trao đổi hàng hóa luôn chiếm vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế
mà nền tảng pháp lý của trao đổi hàng hóa có yếu tổ nước ngoài chính là hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế,
các hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
nói riêng giữa Việt Nam với đối tác nước ngoài không ngừng được tăng lên
cả về số lượng và giá trị thương mại. Kết quả này đã góp phần quan trọng vào
việc phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, điều đó cũng dẫn tới một thực tế
là ngày càng xảy ra nhiều hom các vi phạm về hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế. Để đảm bảo rằng các chủ thể của hợp đồng sẽ thực hiện đầy đủ các
nghĩa vụ của mình, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của bên có quyền
lợi bị vi phạm, pháp luật thương mại Việt Nam đã đưa ra các quy định về
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung và trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng.
Cùng với chính sách mở cửa để hội nhập và thực hiện các cam kết
trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các quy định về trách nhiệm do
1
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng luôn luôn được sửa đổi, bổ
sung nhằm tạo cơ sở pháp lý phù hợp để các bên thực hiện tốt hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế đã ký két. Đặc biệt, có rất nhiều sửa đổi, quy định đã
được đưa vào Luật Thương mại Việt Nam năm 2005. Tuy nhiên, trong thực
tiễn nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nắm bắt được những sửa đổi, bổ sung đó và
A
,
>
1
1
1_ > • ___• Ò i .
. í
4 Ặ
Ạ
4 A
_' r \ r t \
J nước ngoài đã có một sô công trình, sách, bài viêt đê cập đen vân đê
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở góc độ này hay
góc độ khác. Trong số đó có cuốn sách của tác giả người Pháp - Nicole Perrycó tên gọi "Làm thế nào để tránh những rủi ro pháp lý khi mua bán" đã được
dịch ra tiếng Việt do Nhà xuất bản Pháp lý xuất bản năm 1992; hay cuốn
"ICC Guide to Incoterms 2000" của Giáo sư Jan Ramberg do Phòng Thương
mại Quổc tế (ICC) xuất bản, số xuất bản 620, đã được dịch ra tiếng Việt do
Nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 2006... Các công trình này đều đề cập
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành về hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Luận văn cũng
nghiên cứu các quy định về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế của một sổ văn bản pháp luật quốc tế như Công ước Viên
năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Công ước Lahaye năm 1964
4
về mua bán quốc tế những động sản hữu hình, Bộ nguyên tắc UNIDROIT
năm 2004 về hợp đồng thương mại quốc tế...
* Phạm vì nghiên cứu
-
về mặt nội dung:
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế là một vấn đề rất rộng. Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ
luật học, khi nghiên cứu trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, về mặt nội dung, luận văn giới hạn ở việc phân tích các yếu tố cấu
thành trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các căn
cứ miễn trách và các chế tài do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương /: Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và thực tiễn áp dụng.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của
pháp luật Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế.
6
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QƯÓC TÉ
VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐÒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TÉ
1.1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUÓC TẾ
1.1.1. Khái niệm về hựp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng mua bán là một khái niệm ra đời khi xuất hiện nền sản xuất
hàng hóa, là hình thức pháp lý của mối quan hệ trao đổi sản phẩm hàng hóa
để các chủ thể trao đổi các lợi ích vật chất hoặc hình thành các quan hệ lợi ích
với nhau. Trong các nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường, hợp
đồng mua bán hàng hóa là hình thức pháp lý chủ yếu của lưu thông hàng hóa tiền tệ. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế, trao đổi hàng hóa
quốc tế vẫn chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động thương mại quốc tế. số
lượng các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế gia tăng đáng kể, đóng góp
không nhỏ vào sự phát triển kinh tể mỗi quốc gia cũng như nền kinh tế thế
giới nói chung.
khác nhau quy định vấn đề này không giống nhau.
1.1.1.1.
Họp đồng mua bán hàng hóa quốc té theo cách hiểu của Công
ước Lahaye năm 1964 về mua bán quốc tế các động sản hữu hình
Công ước này được ký tại Lahaye năm 1964 bởi các nước tư bản chủ
nghĩa ở lục địa châu Âu và nó là nguồn luật quốc tế quan trọng của các nước
này khi điều chỉnh trách nhiệm do vi phạm họp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế đã được ký kết giữa các công ty của các nước lục địa châu Âu với nhau.
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Điều 1 Công ước này quy định:
1.
Luật này áp dụng cho những hợp đồng mua bán động sản
hữu hình được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại nằm trên
lãnh thỏ của các quốc gia khác nhau trong những trường hợp sau:
8
a. Khi hợp đồng liên quan đến vật mà, trong thời gian kỷ kết
hợp đồng, vật đó được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ
lãnh thổ quốc gia này đến lãnh thổ quốc gia khác;
b. Khi mà các hành vi tạo lập chào hàng và chấp nhận chào
hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau;
c. Khi mà việc giao hàng phải được diễn ra trên lãnh thổ
của một nước khác với nước mà ở đó hành vi tạo ỉập chào hàng và
chấp nhận chào hàng được thực hiện.
chất di chuyển của hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế: hàng phải được chuyển qua biên giới một nước. Điều này có nghĩa là bất
động sản sẽ không bao giờ là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế theo cách hiểu của Công ưóc Lahaye năm 1964. Vì lẽ đó, Công ước có tên
gọi là "Công ước quốc tế về mua bán các động sản hữu hình".
1.1.1.2.
Họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo cách hiểu của Công
uức Viên năm 1980 của Liên họp quốc về họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Năm 1980, các nước thành viên của Liên hợp quốc đã ký Công ước
quốc tế này nhằm xây dựng pháp luật thống nhất điều chỉnh việc ký kết, thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như đưa ra những quy định về
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
về tiêu chí xác định tính quốc tế của họp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, Điều 1 Công ước Viên năm 1980 quy định:
1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng
hóa giữa các bên cỏ trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của
Công ước, hoặc
b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp
dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia
khác nhau không tính đến sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng,
10
từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
11
1.1.13. Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo quan điểm của Pháp
Mặc dù Cộng hòa Pháp không ban hành các quy định cụ thể về các
tiêu chí để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tuy
nhiên, Tòa án Pháp, qua thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế đã đưa ra các tiêu chí để xác định thế nào là hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế. Theo đó, yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế được xác định căn cứ vào hai tiêu chuẩn kinh tế và pháp lý. Theo
các tiêu chuẩn kinh tế, một hợp đồng quốc tế là hợp đồng tạo nên sự di
chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước, nói cách
khác, hợp đồng đó thể hiện quyền lợi của thương mại quốc tế. Theo tiêu
chuẩn pháp lý, một hợp đồng được coi là hợp đồng quốc tế nếu nó bị chi phối
bởi các tiêu chuẩn pháp lý của nhiều quốc gia như: quốc tịch, nơi cư trú của
các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ họp đồng, nguồn vốn thanh toán... [22, tr. 77].
1.1.1.4. H ọp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo cách hiểu của pháp
ìuẫt Viêt Nam
•
0
Trong hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa giữa Việt Nam với nước
ngoài, nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa đã được ký kết giữa các doanh
nghiệp Việt Nam đóng trụ sở tại Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài
đóng trụ sở ở nước ngoài. Những hợp đồng này có nhiều tên gọi khác nhau
như: "hợp đồng mua bán ngoại thương", "hợp đồng xuất nhập khẩu hàng
hóa", "hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài",...Tuy
Từ quy định trên có thể thấy hợp đồng mua bán ngoại thương chính là
hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tổ nước ngoài. Tuy nhiên, khái niệm này
đã bộc lộ những bất cập, bởi lẽ trên thực tế, việc xác định quốc tịch của pháp
nhân không phải là việc dễ dàng do luật pháp của các nước quy định khác
nhau về vấn đề này, ví dụ pháp luật của Anh, Mỹ quy định quốc tịch của pháp
nhân được xác định theo luật của nước nơi đăng ký điều lệ hoạt động, pháp
luật của Pháp thì lại xác định quốc tịch của pháp nhân theo pháp luật nơi có
địa chỉ thường trú của pháp nhân, thường là nơi thường trú của cơ quan điều
hành [16, tr 7]. Ngoài ra, cùng với việc hình thành các khu chế xuất, thì tiêu
chuẩn đối tượng của hợp đồng mua bán ngoại thương phải được di chuyển
qua biên giới các nước cũng không còn phù họp nữa.
13
• Luật Thương mại Việt Nam năm 1997: đạo luật thương mại đầu tiên
của Việt Nam quy định rằng hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa một bên là
thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài [5, Điều 80].
Cũng theo tinh thần của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, tiêu chí
thương nhân nước ngoài được xác định theo luật của nước mà thương nhân đó
mang quốc tịch [5, Điều 81].
• Luật Thương mại Việt Nam năm 2005: Luật Thương mại Việt Nam
năm 2005 không đưa ra khái niệm hay định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế mà chỉ liệt kê các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế. Luật Thương
mại năm 2005 cũng không đưa ra tiêu chí để xác định tính chất quốc tế của
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà chỉ liệt kê những hoạt động được coi
là mua bán hàng hóa quốc tế, theo đó bao gồm: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm
nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu [7, Điều 27]. Luật Thương
mại năm 2005 cũng đã làm rõ khái niệm về các hoạt động trên. Cụ thể:
về hợp đồng mua bán hàng hỏa với thương nhân nước ngoài (hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế) và tiêu chí để xác định tính quốc tế của hợp đồng chính
là phải có sự tham gia của một bên là thương nhân nước ngoài, tức dựa trên
tiêu chí quốc tịch của các bên tham gia họp đồng. Luật Thương mại Việt Nam
năm 2005 thì không đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,
cũng không quy định cụ thể tiêu chí để xác định tính quốc tế của hợp đồng.
Tuy nhiên, theo tinh thần của Điều 28, Điều 29, Điều 30 Luật Thương mại
Việt Nam năm 2005 thì tiêu chí để xác định tính quốc tế của hợp đồng mua
bán hàng hóa quốc tế là hàng hóa (phải là động sản) có thể di chuyển qua biên
giới của Việt Nam hoặc qua biên giới của một nước (vùng lãnh thổ); hoặc di
chuyển qua khu chế xuất, khu vực hải quan riêng.
Từ những phân tích ở trên, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như sau: Hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, hay còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa, ỉà hợp đồng được
ký kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài, theo đó một
bên gọi là bên bán cổ nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa
cho bên kia gọi là bên mua và nhận tiền hàng còn bên mua có nghĩa vụ nhận
hàng theo thỏa thuận, đồng thời thanh toán tiền hàng cho bên bán.
15
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.1.2.1. vềchủ thể của họp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chủ thể của hợp đồng là các bên, người bán và người mua, có trụ sở
thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau.
Vấn đề xác định quốc tịch của các bên ừong hợp đồng mua bán hàng
hóa quốc tế có ý nghĩa quan trọng bởi các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán
hàng hóa quốc tế phải có đủ tư cách pháp lý. Tư cách pháp lý của các chủ thể
của Công ước Viên năm 1980 thì vẩn đề quốc tịch không được Công ước này
đề cập đến [17, Điều 1].
Như vậy, quy định của pháp luật các nước về nguyên tắc xác định
quốc tịch của các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không
giống nhau. Trong thực tiễn không tránh khỏi có chủ thể được hai hay nhiều
nước coi là mang quốc tịch của nước mình. Đe giải quyết hiện tượng này các
nước phải ký kết các điều ước quốc tế với nhau nhằm thống nhất nguyên tắc
xác định quốc tịch của các chủ thể.
1.1.2.2.
vềđối tượng của họp đồng mua bán hàng hóa quắc tế
Đối tượng của bất kỳ một hợp đồng mua bán hàng hóa nào cũng phải
là hàng hóa. Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thì hàng hóa là "sản phẩm
do lao động làm ra được mua bán trên thị trường" [35, tr. 421]
Từ định nghĩa trên ta thấy một sản phẩm được coi là hàng hóa nếu
cùng một lúc thỏa mãn hai điều kiện:
Thứ nhất, sản phẩm đó do lao động làm ra.
Thứ hai, sản phẩm đó phải được mua bán trên thị trường.
Trong thực tiễn hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế có rất nhiều khái
niệm khác nhau về hàng hóa được thể thiện trong pháp luật của các quốc gia
trên thể giới. Theo Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ, hàng hóa với tư
cách là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được hiểu là:
"hàng hóa là một vật (bao gồm cả những hàng hóa được sản xuất đặc biệt)
17
ĐẠI H Ọ C Q UỐ C G iA HA NỌl
[RUNG TÂM THÕNG TIN THƯ ViẸN