Lời mở đầu
Ngày nay, mặc dù sống trong một xã hội hiện đại, văn minh, một môi
trường hoà bình, yên ổn… nhưng đối mỗi người trong chúng ta, thuật ngữ “bạo
lực” lại không phải là xa lạ! Điều này tưởng chừng như vô lý bởi theo lẽ thường:
sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung sẽ tỷ lệ nghịch với những hiện tượng
tiêu cực mà một trong số đó là hiện tượng bạo lực. Thế nhưng, với sự phức tạp
và biến chuyển không ngừng của xã hội, hiện tượng bạo lực vẫn xảy ra từng
ngày, ở nhiều nơi, với nhiều đối tượng, trong các lĩnh vực khác nhau… Có thể
thấy, bạo lực không chỉ diễn ra ở bên ngoài xã hội - nơi các chủ thể không có
mối quan hệ gắn bó về hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng - mà bạo lực còn
len lỏi trong mỗi gia đình - nơi có mối quan hệ tình cảm thân thiết giữa các
thành viên. Chính điều đó đã khiến bạo lực gia đình trở thành mối quan tâm, sự
lo lắng cho toàn xã hội. Bởi mỗi chúng ta, ai cũng mong muốn có một mái ấm
cho riêng mình để được trao và nhận những yêu thương, để động viên, giúp đỡ
nhau trong cuộc sống…
Dưới góc độ Luật học, vấn đề bạo lực gia đình đã dành được sự quan
tâm thích đáng của các nhà làm Luật. Điều này thể hiện qua việc ghi nhận những
nội dung liên quan tới vấn đề bạo lực gia đình trong các ngành luật như Luật
Hiến pháp, Luật hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình… Đặc biệt, với sự ra đời
của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, chúng ta có thể hy vọng và
tin tưởng về một tương lai mà ở đó bạo lực gia đình đã bị đẩy lùi. Dựa trên cơ sở
pháp lý này, chúng ta sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về bạo lực gia đình cũng
như có một sự bảo đảm chắc chắn hơn để bảo vệ các nạn nhân của hiện tượng
bạo lực. Điều đó sẽ góp phần không nhỏ vào sự bình ổn môi trường xã hội trong
giai đoạn hiện nay.
Bạo lực gia đình là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như:
Luật học, Xã hội học… Chúng ta có thể thấy điều này qua các bài viết trên các
tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Luật học, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí
Khoa học về phụ nữ…) và các các hội thảo khoa học về bạo lực gia đình… Vấn
đề này cũng được sinh viên chuyên ngành luật chọn làm đề tài khoá luận tốt
nghiệp đại học trong những năm gần đây. Như vậy, có thể thấy bạo lực gia đình
quyền” [30, tr.113]. Trên thực tế, bên cạnh thuật ngữ bạo lực, người ta còn sử
dụng thuật ngữ “bạo hành” như một từ đồng nghĩa. Bạo hành được giải thích là
“hành động bạo lực tàn ác” [29, tr.41]. Như vậy, thuật ngữ bạo hành chỉ mức độ
tàn ác của hành vi hơn so với “bạo lực” và không giới hạn phạm vi hiểu trong
một lĩnh vực nào. Tuy nhiên, hiện nay với cách nhìn nhận mới về bạo lực gia
đình, thuật ngữ “bạo lực” đã được “luật hoá” và được sử dụng rộng rãi thay cho
thuật ngữ bạo hành.
Trong Luật học, “bạo lực” được định nghĩa gắn liền với thuật ngữ “gia
đình”. Theo đó, bạo lực gia đình được hiểu là “hành vi cố ý của thành viên gia
đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về vật chất, tinh thần, kinh tế đối
với thành viên khác trong gia đình” (Khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống bạo
lực gia đình năm 2007). Như vậy, hành vi bạo lực gia đình được giới hạn bởi các
chủ thể là thành viên của gia đình - những người có quan hệ hôn nhân, huyết
thống, hoặc nuôi dưỡng - khi họ thực hiện hành vi với lỗi cố ý gây tổn hại hay
đe doạ gây tổn hại về mọi mặt trong đời sống của nạn nhân. Khái niệm đã đưa ra
một cách đầy đủ các yếu tố để nhận diện hành vi bạo lực gia đình (như chủ thể,
lỗi, đối tượng tác động). Từ đó, nhà làm luật đã phá bỏ những quan niệm “cổ
điển” về bạo lực trong gia đình như: vài cái bạt tai, vài cái roi, quát mắng…
không phải bạo lực. Những quan niệm này hiện nay vẫn còn tồn tại trong một bộ
phận nhân dân - những người chưa có sự hiểu biết đầy đủ về bạo lực gia đình.
Qua định nghĩa bạo lực gia đình tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm
2007, có thể thấy quan niệm của pháp luật nước ta có sự tương đồng với quan
niệm của Liên hợp quốc về hành vi bạo lực mà ở đây là bạo lực đối với phụ nữ:
“Bất kỳ hành động bạo lực nào dựa trên cơ sở giới gây ra hậu quả hoặc có thể
gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về thân thể, tình dục,
hay tâm lý, kể cả những lời đe doạ hay độc đoán tước quyền tự do, dù xảy ra ở
nơi công cộng hay đời sống riêng tư” (Điều 1, Tuyên bố của Liên hợp quốc về
việc loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ). Từ hai định nghĩa trên đây, có thể thấy,
một hành vi cố ý gây ra hoặc có khả năng gây ra những tổn thất về vật chất, tinh
thần hoặc kinh tế…đều bị coi là bạo lực.
sau: bạo lực gia đình là một chế định pháp luật gồm tổng hợp các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm ngăn ngừa, xử lý và đi đến xoá bỏ hành
vi bạo lực giữa các thành viên trong gia đình để hướng tới xây dựng một môi
trường ổn định, hạnh phúc.
1.1.2 Khái niệm bình đẳng giới
Nếu như thuật ngữ bạo lực gia đình được sử dụng rộng rãi và trong
những năm gần đây - đặc biệt là sau sự xuất hiện của Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình năm 2007 - thì thuật ngữ “bình đẳng giới” xuất hiện sớm hơn. Trước
khi được chính thức ghi nhận trong pháp luật, vấn đề bình đẳng giới được mọi
người biết đến và hiểu với ý nghĩa đơn thuần là sự bình đẳng giữa nam và nữ.
Nhưng với sự ra đời của Luật Bình đẳng giới năm 2006, thuật ngữ này chính
thức được làm rõ và mở rộng hơn. Theo đó, bình đẳng giới không chỉ được hiểu
như là sự bình đẳng giữa hai giới nam và nữ về mặt quyền lợi, nghĩa vụ mà còn
được hiểu là sự bình đẳng về “đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả
các mối quan hệ xã hội” (Khoản 1, Điều 5, Luật Bình đẳng giới năm 2006). Như
vậy, có thể thấy nhờ sự mở rộng ý nghĩa của khái niệm bình đẳng giới đã đem
lại sự công bằng cho các thành viên trong xã hội. Đối với mỗi gia đình, sự bình
đẳng giới được hiểu theo nghĩa rộng sẽ tạo điều kiện để cả vợ và chồng có thể
phát huy tối đa năng lực, trách nhiệm của mình với gia đình. Đây cũng chính là
một cách thức xây dựng nên những gia đình hạnh phúc, ấm no, bình ổn. Đó
không chỉ là mong muốn của riêng một quốc gia nào mà chính là ước vọng
chung của những nước đang nỗ lực cho sự bình đẳng giới để mang tới một môi
trường yên bình, một cuộc sống an lành, hạnh phúc, để không còn bạo lực ngoài
xã hội và trong mỗi gia đình.
Bình đẳng giới là khát vọng của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc trên thế giới.
Ở nước ta, vấn đề này chưa thực sự được hiểu đúng. Có nhiều người cho rằng,
bình đẳng giới là sự “cào bằng” trong mọi lĩnh vực giữa hai giới. Điều này đòi
hỏi phụ nữ và nam giới phải bỏ ra công sức, thời gian… ngang bằng nhau trong
các lĩnh vực của đời sống. Trên thực tế, điều đó không phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý của mỗi giới. Bởi như chúng ta đã biết, với những đặc điểm khác
BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
Bạo lực gia đình và bình đẳng giới là một trong những nội dung được sự
quan tâm của nhiều nhóm đối tượng; và được luật hoá trong nhiều ngành luật
như Luật Hiến pháp, Luật Dân sự, Luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình,
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới Điều đó một mặt thể
hiện sự lo lắng, trăn trở từ phía cộng đồng về hiện tượng này, mặt khác còn thể
hiện nhận thức đúng đắn từ phía các cơ quan chức năng và nhà làm luật về ảnh
hưởng của bạo lực gia đình và sự bình đẳng giới đối với đời sống của mỗi công
dân cũng như của toàn xã hội.
Nội dung cơ bản của pháp luật Việt nam về bạo lực gia đình và bình
đẳng giới được thể hiện tập trung và cụ thể qua hai văn bản: Luật Phòng, chống
bạo lực gia đình năm 2007 và Luật Bình đẳng giới năm 2006.
Trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, các nhà làm luật
đã đưa ra các nội dung chủ yếu xung quanh vấn đề bạo lực gia đình như các
hành vi bạo lực gia đình, nguyên tắc phòng chống bạo lực gia đình, nghĩa vụ của
người có hành vi bạo lực, quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình, hợp
tác quốc tế về phòng chống bạo lực gia đình… Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình còn nhấn mạnh việc phòng ngừa bạo lực gia đình với các biện pháp: thông
tin, tuyên truyền về phòng chống bạo lực gia đình; tư vấn pháp lý, tư vấn tâm lý,
tư vấn ứng xử; hoà giải mâu thuẫn; xử lý vi phạm phạm pháp luật về phòng
chống bạo lực gia đình - đây là một biện pháp vừa mang tính đấu tranh vừa
mang tính phòng ngừa hiệu quả. Với việc phân định cụ thể trách nhiệm của cá
nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng chống bạo lực gia đình, pháp luật
về bạo lực gia đình mang ý nghĩa xã hội rộng lớn đó là đã huy động được sự
tham gia rộng rãi của cộng đồng vào công cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt này.
Có thể nhận thấy, giống như tên gọi của nó, Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình ra đời với mục tiêu trước hết là ngăn ngừa hành vi bạo lực gia đình.
Thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta sẽ giữ được môi trường gia đình, xã hội
bình ổn không chỉ ở hiện tại mà còn trong tương lai. Bên cạnh đó, Luật Phòng
chống bạo lực gia đình còn là cơ sở pháp lý góp phần giải quyết các trường hợp
các hành vi bạo lực giữa vợ và chồng trong gia đình ở các lĩnh vực nêu trên.
Những quy định trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và Luật Bình
đẳng giới chính là sự cụ thể hoá của pháp luật hôn nhân và gia đình. Ở Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2000, những quy định về nhiệm vụ và phạm vi điều chỉnh
của luật (Điều 1), những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình
(Điều 2), bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 4), tình nghĩa vợ chồng
(Điều 18), quyền và nghĩa vụ của vợ chồng (Điều 19)… đều được làm rõ trong
Luật Phòng, chống bạo lực năm 2007 và Luật Bình đẳng giới năm 2006 . Việc
vi phạm một trong hai Luật này cũng chính là vi phạm pháp luật hôn nhân gia
đình. Sự quan tâm từ phía các chủ thể có thẩm quyền qua việc xây dựng một
hành lang pháp lý trong vấn đề bạo lực gia đình và bình đẳng giới một lần nữa
khẳng định vị trí của gia đình đối với cuộc sống của mỗi người và với sự phát
triển chung của đất nước. Bởi thế, tuân thủ pháp luật hôn nhân gia đình cũng
như pháp luật về bạo lực gia đình và bình đẳng giới trong thời gian tới là góp
phần thực hiện thành công chiến lược xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc, bền vững của Nhà nước ta.
Khái quát các văn bản kể trên, có thể thấy pháp luật về bạo lực gia đình
và bình đẳng giới tập trung vào các vấn đề sau:
Thứ nhất, pháp luật về bạo lực gia đình và bình đẳng giới đảm bảo và
tôn trọng quyền con người, đặc biệt là quyền của người phụ nữ, người vợ trong
gia đình. Đây là mục tiêu của nhiều quốc gia trong một thời gian dài nhằm thực
hiện chính sách xã hội của mình. Bởi vậy, thực hiện nội dung này của pháp luật
nước ta là một sự phù hợp với xu hướng thế giới hiện nay.
Thứ hai, nội dung của pháp luật về bạo lực gia đình và bình đẳng giới cụ
thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc xây dựng gia đình
bình đẳng, hạnh phúc, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh. Có thể nói, xây dựng
gia đình hạnh phúc là một chiến lược quan trọng của nước ta qua nhiều thời kỳ.
Điều này được khẳng định qua Quyết định số 106/2005/QĐ-TTg ngày
16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược xây dựng gia
đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010. Trong đó, Thủ tướng đã khẳng định: “Gia
nhân…
Qua việc trình bày mục đích của Luật mẫu, có thể thấy, Luật mẫu rất
quan tâm tới các nạn nhân của bạo lực gia đình – đặc biệt đối với các nạn nhân
là phụ nữ. Đồng thời, Luật mẫu “kêu gọi các quốc gia ban hành một luật toàn
diện về bạo lực gia đình, trong đó lồng ghép cả những quy định về hình sự, dân
sự chứ không nên chỉ sửa đổi, bổ sung luật pháp hiện hành về hình sự, dân sự”
[32, tr.10]. Lời kêu gọi này của Uỷ ban về nhân quyền của Liên hợp quốc yêu
cầu phải có sự nỗ lực toàn diện và sự phối hợp ăn ý giữa các nhà làm luật trong
những ngành luật để mỗi quốc gia xây dựng được một hệ thống pháp luật đồng
bộ, hoàn thiện hơn.
Từ những định nghĩa mà Luật mẫu đưa ra, chúng ta thấy sự chú ý đặc
biệt của Liên hợp quốc tới những nạn nhân là phụ nữ. Điều này thể hiện qua xác
định các mối quan hệ cần điều chỉnh:
“Luật về bạo lực gia đình cần điều chỉnh các mối quan hệ sau:
vợ, tình nhân sống cùng, vợ cũ hoặc tình nhân cũ; bạn gái (kể cả
không sống cùng); người phụ nữ là họ hàng (như chị, em gái,
con gái, mẹ) và người giúp việc gia đình” [32, tr.10].
Với cách xác định trên, phạm vi những người phụ nữ được pháp luật bạo
lực gia đình bảo vệ là rất rộng bao gồm cả những người không sống cùng hay
không có quan hệ gia đình. Điều này nhằm mang đến cuộc sống an lành cho
những người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. Tuy nhiên, thiết nghĩ Luật
mẫu cũng cần có sự quan tâm tới những nạn nhân của bạo lực là nam giới
(chồng, con trai…) để đảm bảo vấn đề bình đẳng giữa hai giới, đảm bảo hạnh
phúc gia đình. Có như thế, pháp luật mới góp phần hạn chế tối đa được bạo lực
giữa các thành viên trong gia đình, trong đó có bạo lực giữa vợ và chồng.
Qua quy định về các hành vi bạo lực trong Luật mẫu, chúng ta có thể xếp
hành vi bạo lực theo các nhóm: bạo lực về thể chất, bạo lực về tinh thần, bạo lực
về tình dục và bạo lực về kinh tế. Đây là những hình thức bạo lực cơ bản trong
gia đình được nhiều nước ghi nhận trong pháp luật của quốc gia mình. Từ đây,
có thể thấy Luật mẫu đưa ra một cách toàn diện các hình thức bạo lực gia đình,
bạo lực gia đình chỉ giới hạn đối với các thành viên nhất định:
“Điều 2:
Bạo lực gia đình là những hành vi bạo lực xảy ra hoặc có thể
xảy ra đối với:
1. Chồng hoặc vợ;
2. Con cái còn sống phụ thuộc;
3. Những người sống chung một nhà và những người
sống phụ thuộc trong hộ gia đình.” [32, tr.43]
Như vậy, theo quy định tại điều luật trên đây, đối với những người con
sống tách biệt, không còn phụ thuộc vào cha mẹ thì sẽ không được pháp luật bạo
lực gia đình bảo vệ. Đây có lẽ là một thiếu sót, bởi “Luật Phòng ngừa bạo lực
gia đình và bảo vệ nạn nhân” của Cam-pu-chia ra đời nhằm bảo vệ gia đình
cũng như các thành viên trong gia đình mà không phụ thuộc vào hoàn cảnh sống
của họ. Thiếu sót này có thể hoàn thiện trong các văn bản pháp luật sau đó bằng
cách ghi nhận sự bảo vệ của pháp luật đối với tất cả các con trong gia đình thay
vì dừng lại ở việc chỉ bảo vệ “con cái còn sống phụ thuộc”. Trong Luật Phòng
ngừa bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân, các nhà lập pháp Cam-pu-chia còn
xác định:
“Bạo lực bao gồm:
-Những hành vi ảnh hưởng tới tính mạng;
-Những hành vi gây ra thương tích cơ thể;
-Tra tấn hay những hành vi ác độc;
-Gây hấn tình dục.” [32, tr.43]
Qua các hành vi được xác định, có thể thấy pháp luật về bạo lực gia đình
của Cam-pu-chia đã đưa ra ba hình thức bạo lực: bạo lực về thể chất, bạo lực về
tinh thần, bạo lực về tình dục. Sự vắng mặt của hình thức bạo lực về kinh tế có
thể được lý giải bởi hình thức bạo lực này thường khó nhận diện. Mặt khác,
quan niệm phổ biến về các hành vi trong hình thức bạo lực về kinh tế: đó là
những hoạt động bình thường trong tổ chức đời sống sinh hoạt của gia đình.
Một nội dung mang nhiều ý nghĩa trong pháp luật về bạo lực gia đình
trường hợp do bị bạo lực, người bạn đời đã phải ly hôn hay cuộc
nhân bị huỷ bỏ, nhưng vẫn tiếp tục bị bạo lực từ bạn đời cũ” [32,
tr.158].
Như vậy, có thể thấy, trong luật về bạo lực gia đình của Nhật Bản và
Cam-pu-chia đều quy định phạm vi đối tượng được bảo vệ tương đối rộng.
Trong cả hai Luật này, những đối tượng được bảo vệ không bị giới hạn về mặt
giới tính như ở Luật mẫu của Liên hợp quốc. Tuy nhiên, có thể thấy nếu như
trong pháp luật của Cam-pu-chia hạn chế sự bảo vệ đối với người con sống độc
lập và không phụ thuộc vào gia đình thì ở pháp luật Nhật Bản nạn nhân của bạo
lực gia đình là những người con sẽ không được bảo vệ mà chỉ giới hạn trong
những “người bạn đời”. Thuật ngữ bạo lực hôn nhân còn cho thấy hành vi được
coi là bạo lực chỉ gồm các hình thức bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần
mà không đề cập tới hình thức bạo lực về kinh tế và bạo lực về tình dục. Điều
này đã hạn chế sự bảo vệ của pháp luật cũng như của xã hội đối với các nạn
nhân của bạo lực gia đình. Vì vậy, việc thống nhất, hoàn thiện pháp luật về bạo
lực gia đình theo định hướng của Luật mẫu về bạo lực gia đình của Liên hợp
quốc là thực sự cần thiết để xoá bỏ vấn nạn này trên toàn cầu như lời kêu gọi
của Tổng thư ký Liên hợp quốc trong ngày 8/3/2009 vừa qua nhân dịp khai
trương website về chống bạo lực với phụ nữ.
Ở Bungari, những nội dung của pháp luật về bạo lực gia đình được thể
hiện trong “Luật Bảo vệ chống bạo lực gia đình” (2005). Luật này giới hạn
phạm vi điều chỉnh gồm “quyền của những người bị bạo lực gia đình, các biện
pháp bảo vệ và các thủ tục áp dụng” [32, tr.29]. Luật Bảo vệ chống bạo lực gia
đình cũng chỉ ra các hành vi được coi là bạo lực gia đình, bao gồm các hành vi
tác động tới thể chất, tinh thần, tình dục mà không quan tâm tới hậu quả do các
hành vi đó gây ra:
“Điều 2
Bạo lực gia đình là bất kỳ hành vi bạo lực về thể chất, tinh thần
hay tình dục nào, kể cả những hành vi trên trong giai đoạn chưa
đạt, cũng như việc áp đặt hạn chế tự do và sự riêng tư cá nhân,
nguyên nhân của bạo lực giữa vợ và chồng, trước hết cần tìm hiểu những
nguyên nhân chung của hiện tượng bạo lực trong gia đình.
Theo các nhà nghiên cứu, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia
đình và có thể tập hợp thành bốn nhóm: do suy thoái đạo đức; có rắc rối trong
chuyện tình cảm; bất bình đẳng giới; hạn chế nhận thức về pháp luật, xã hội.
Trên thực tế, bạo lực gia đình là sự kết hợp của các nhóm nguyên nhân khác
nhau hoặc có thể từ tất cả những nguyên nhân trên đây.
Hiện nay, mặc dù chúng ta sống trong xã hội với nhiều tiến bộ, nhiều
thành tựu nhưng không vì thế mà những hiện tượng suy thoái đạo đức và lối
sống tiêu cực như nghiện ngập rượu chè, cờ bạc, ma tuý… không diễn ra. Trái
lại, khi điều kiện vật chất không còn thiếu thốn như trước kia thì nhiều người đã
cho phép mình có lối sống buông thả, dễ dãi hơn và do đó đã mắc vào nhiều tệ
nạn xã hội. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới bạo lực khi họ trong
tình trạng không làm chủ được hành vi của mình (say rượu) hoặc trong trường
hợp không được đáp ứng tiền bạc để thoả mãn thói cờ bạc, tật hút sách. Điều
này đã ảnh hưởng không tốt tới cuộc sống của bản thân người đó, tới gia đình họ
cũng như tới môi trường xã hội. Từ sự suy thoái đạo đức và những biểu hiện của
nó thường kéo theo tình trạng kinh tế gia đình khó khăn, kiệt quệ. Đây lại là một
nguyên nhân khác mà trong nhiều trường hợp đã kéo theo bạo lực gia đình. Như
vậy, xuất phát từ nguyên nhân này đã dẫn tới một nguyên nhân khác tạo thành
chuỗi nguyên nhân mà ở bất cứ mắt xích nào, bạo lực cũng có thể xảy ra. Do đó,
để hạn chế bạo lực, giữ gìn hạnh phúc gia đình cần có sự phối hợp giữa nhiều
hoạt động để không một mắt xích nào bị lỏng lẻo làm ảnh hưởng tới nền tảng
hạnh phúc gia đình.
Bên cạnh nhóm nguyên nhân về đạo đức, một nhóm nguyên nhân tế nhị,
kín đáo ảnh hưởng không nhỏ tới hạnh phúc gia đình đó là nhóm nguyên nhân
liên quan tới các vấn đề tình cảm của một hoặc cả hai vợ chồng như tính hay
ghen, đa nghi, sự ngoại tình, không đáp ứng nhu cầu tình dục của đối phương…
Những hành vi này thường được che giấu bởi nó không phù hợp với quan niệm
hay tâm tư của người Việt Nam. Mặc dù là những nguyên nhân tế nhị, nhưng
nhận do bị ảnh hưởng từ tư tưởng phong kiến nhưng theo các nhà xã hội học,
tâm lý học… nhận định trên đã được thừa nhận.
Lý giải bất bình đẳng giới là nguyên nhân sâu xa của bạo lực gia đình
nói chung và bạo lực giữa vợ và chồng nói riêng không thể phủ nhận sự ảnh
hưởng của tư tưởng phong kiến trong một thời gian dài. Những tư tưởng “gia
trưởng”, “trọng nam khinh nữ”, “tam tòng”… đã ăn sâu vào tâm thức của bao
thế hệ người dân Việt Nam. Vì thế, trong một thời gian dài, chúng ta đã cho
phép người đàn ông được quyền “dạy” vợ, “dạy” con bằng vũ lực, được mắng
mỏ, lăng mạ khi vợ con làm điều sai trái, được cấm đoán các thành viên trong
gia đình làm công việc gì đó, được yêu cầu vợ sinh con trai hoặc phá thai theo ý
của mình… Tất cả những hành vi ấy vô tình đã xâm phạm tới cuộc sống của
những thành viên khác trong gia đình - nhất là người phụ nữ - làm ảnh hưởng
tiêu cực tới thể chất, tâm lý, tình hình tài chính của họ. Theo pháp luật hiện
hành, những hành vi đó là vi phạm nhân quyền và cần được xử lý thích đáng.
Qua những sự kiện trên đây, có thể thấy cùng là một hành vi nhưng ở những thời
điểm khác nhau, do những quan niệm khác nhau mà thái độ của Nhà nước, xã
hội với chúng là khác nhau. Vẫn biết pháp luật hiện nay đã lên tiếng bảo vệ sự
bình đẳng giới, bảo vệ gia đình nhưng để thay đổi được tư tưởng, quan niệm đã
ăn sâu vào tư tưởng của người dân trong một thời gian dài thật không đơn giản.
Điều đó đòi hỏi sự bền bỉ, kiên trì và chung tay của cả cộng đồng vào công tác
phòng chống bạo lực gia đình. Mặt khác, sự bất bình đẳng giới còn là một chất
xúc tác cho các nguyên nhân khác để dẫn tới bạo lực gia đình một cách nhanh và
dữ dội. Ở đâu có sự bất bình đẳng giới thì ở đó dễ dàng xuất hiện bạo lực hơn
bởi khi đó, không còn sự bênh vực cho các nạn nhân mà chỉ có sự bao biện cho
những hành vi ứng xử thô bạo của người thực hiện bạo lực. Sự bất bình đẳng
giữa vợ và chồng cần được hiểu sao cho không thiên lệch, không quá quan tâm
tới người phụ nữ mà bỏ qua những nạn nhân là nam giới. Trong Luật Bình đẳng
giới năm 2006, theo nghĩa rộng, bình đẳng giới là sự đảm bảo công bằng cho
mọi công dân trong xã hội. Do đó, bình đẳng giới được triển khai trên thực tế là
một cách thức để xoá bỏ một trong những nguyên nhân của bạo lực gia đình,
được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng như vợ đánh chồng gây
thương tích, vợ giết chồng vì uất ức tột cùng… là minh chứng cho những hậu
quả nghiêm trong mà người vợ có thể gây ra khi phản ứng lại hành vi bạo lực từ
phía chồng. Như vậy, có thể thấy trong hình thức bạo lực về thể chất, sự bất bình
đẳng giữa vợ và chồng được thể hiện trước hết là do quan niệm của mỗi bên. Do
ảnh hưởng của thuyết “tam tòng”, tư tưởng “gia trưởng” nên trong quan niệm
của người chồng họ tự cho mình cái quyền “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” như
một lẽ thường. Trong khi đó, người vợ do hạn chế về nhận thức cùng tính cam
chịu, hy sinh nên đã trở thành nạn nhân thường xuyên của hiện tượng bạo lực từ
phía người chồng. Từ đó có thể thấy, bạo lực về thể chất mang tới những tác
động tiêu cực hơn cả cho những người phụ nữ - những người vợ trong gia đình.
Dù bạo lực thể chất xảy ra đối với người vợ hay người chồng thì cũng đều thể
hiện sự bất bình đẳng bởi quyền an toàn về thân thể là bình đẳng không phân
biệt giới tính, địa vị trong gia đình hay xã hội. Vì vậy, xoá bỏ bạo lực về thể chất
nói riêng và bạo lực giữa vợ và chồng nói chung là mục tiêu để đem tới sự bình
đẳng giới thực sự giữa vợ và chồng.
Từ kết quả của một số cuộc khảo sát, ta có thể thấy hình thức bạo lực về
tinh thần xảy ra tương đối phổ biến ở các gia đình:
“Theo kết quả khảo sát do Công ty Tâm lý Hồn Việt thực hiện đối
với 702 khách hàng đến Hồn Việt trong 6 tháng đầu năm 2007
cho thấy: 75,1% phụ nữ được hỏi cho rằng đã bị bạo lực tại gia
đình họ, trong đó có 80,6% là bạo lực về tinh thần” [15]
“Theo bà Nguyễn Thị Minh Hạnh, chuyên viên tại Viện Chiến
lược và Chính sách y tế: ở Việt Nam trong số phụ nữ bị bạo lực
gia đình thì có đến 80% là bị bạo lực về tinh thần” [15]
Kết quả hoạt động của dự án “Cải thiện chăm sóc y tế đối với
nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới” (từ tháng 3/2003 đến
tháng 5/2008) cũng cho thấy: 80,32% các vụ bạo lực có hình
thức bạo lực tinh thần [13]…
Trong thực tế, hình thức bạo lực về tinh thần thường không được biểu
không loại trừ những người có quan hệ gia đình (trong đó có quan hệ vợ chồng)
để đảm bảo nhân quyền và sự bình đẳng giới cho tất cả mọi người.
Nếu như ở hình thức bạo lực về thể chất và tinh thần những người xung
quanh có thể nhận biết được phần nào thông qua những “dấu vết” hoặc những
biểu hiện bên ngoài thì hai hình thức bạo lực về tình dục và bạo lực về kinh tế
được coi là những dạng bạo lực “không nhìn thấy được” [33, tr.30]. Hình thức
bạo lực về tình dục thường được coi là một vấn đề tế nhị, kín đáo, đặc biệt với
những người phương Đông. Bởi vậy, kể cả trường hợp bạo lực về tình dục gây
ra nhiều hậu quả đáng tiếc hay đi kèm với các hình thức bạo lực khác thì những
nạn nhân cũng ngại lên tiếng. Thông thường nạn nhân của hình thức bạo lực tình
dục là phụ nữ với các hành vi từ người chồng như: cưỡng ép quan hệ tình dục,
ép buộc mang thai, ép buộc sinh con trai… Do nhiều lý do thuộc quan niệm, tính
cách nên không mấy người mang chuyện “phòng the” ra trước công luận. Đây là
một lý do để hình thức bạo lực về tình dục cứ ngấm ngầm diễn ra trong mỗi gia
đình. Chính vì thế mà vẫn còn những người vợ, người chồng phải gánh chịu
những hậu quả mà hành vi bạo lực tình dục gây ra về cả mặt thể xác lẫn tinh
thần. Hình thức bạo lực tình dục thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng bởi
xuất phát từ những ảnh hưởng của tư tưởng cũ, người chồng luôn áp đặt ý chí
của vợ trong mọi vấn đề, bao gồm cả chuyện quan hệ tình cảm. Và người vợ
trong mối quan hệ hôn nhân thường không dám thừa nhận và chống lại hình
thức bạo lực này. Do đó mà đời sống tình cảm của người vợ vẫn thường bị xâm
phạm từ chính người chồng của mình. Vì vậy, để bảo đảm sự bình đẳng trong
gia đình giữa vợ và chồng, cần thiết có sự tôn trọng tâm tư và nhu cầu tình cảm
của nhau để hoà hợp cuộc sống của hai người trong một gia đình.
Trong thời gian gần đây, hình thức bạo lực được nhắc tới nhiều hơn
trước là hình thức bạo lực về kinh tế - lao động. Hình thức bạo lực này được thể
hiện qua các hoạt động như chiếm đoạt, huỷ hoại tài sản riêng hoặc tài sản
chung của các thành viên trong gia đình, cưỡng ép lao động quá sức, cưỡng ép
đóng góp tài chính quá khả năng của một người, kiểm soát thu nhập… Trong
quan hệ giữa vợ và chồng, các hành vi đó không dễ dàng được nhận biết là biểu