MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trẻ em là đối tượng cần được quan tâm, chăm sóc đặc biệt bởi các em còn
non nớt về thể chất và tinh thần. Và gia đình chính là nơi thực hiện chức năng
chăm sóc và giáo dục tốt nhất với trẻ. Gia đình là nơi dạy cho trẻ những bài học
đầu tiên về cuộc sống, tình yêu thương con người, là ngôi trường đầu tiên của trẻ.
Trẻ em tuổi càng nhỏ thì gia đình càng có ý nghĩa quan trọng trong sự hình thành
nhân cách và nhận thức.
Đối với trẻ em, gia đình là nơi nương tựa vững chắc và êm ái nhất trong
những năm tháng đầu đời. Được sống cùng cha mẹ và những người ruột thịt khác,
được hưởng tình yêu thương cũng như sự chăm sóc về vật chất và tinh thần là
quyền chính đáng của mọi trẻ. Khi lớn lên, những đứa trẻ được chăm sóc cẩn thận
thường có đủ hiểu biết và sức khỏe để sống một cuộc sống hữu ích cho gia đình và
xã hội. Nhưng trên thực tế có rất nhiều trẻ đã không được sống như vậy. Trong các
rủi ro mà các em phải chịu như chúng tôi đã nói thì có lẽ bạo lực gia đình là loại
rủi ro dễ khắc phục hơn cả vì chúng liên quan đến tính chủ động và hành động tự
giác của con người, nhưng thực tế lại không như vậy. Hiện nay ở Việt Nam chưa
có thống kê chính thức là bao nhiêu đứa trẻ phải chịu sự rủi ro này nhưng những
hậu quả gây ra cho chúng thì đã rất rõ ràng.
Những trừng phạt về thể chất có thể gây đau đớn cho trẻ, thậm chí có thể
gây thương tích. Mặt khác trẻ cũng có thể thấy bố mẹ thật ác, thật đáng ghét, thấy
bị tổn thương vì thế mà trở nên xa lánh, né tránh chính người thân của mình.
Nhưng nghiêm trọng hơn là những hậu quả về tinh thần mà phương pháp này để lại
cho trẻ. Đối với trẻ nữ phải sống trong môi trường bạo lực, khi trưởng thành khó
đặt niềm tin vào người khác giới và thường gặp trắc trở trong tình yêu. Họ có sự
1
hoài nghi quá mức với người khác giới do những chịu ảnh hưởng của những hành
vi bạo lực của cha mẹ với bản thân. Các em nam về sau có thể bắt chước các hành
vi bạo lực với người vợ và con cái trong tương lai. Ở lứa tuổi nhỏ, đòn roi của cha
mẹ có thể khiến các em gặp những khó khăn về mặt tâm lý như ngại giao tiếp với
mọi người xung quanh do cảm thấy xấu hổ vì hành vi của cha mẹ, hay mặc cảm vì
6. Phạm vi nghiên cứu
- Lứa tuổi học sinh tiểu học
- Cụ thể: Em NVT, 7 tuổi tại trường tiểu học Minh Phú – Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2012.
7. Bố cục khóa luận
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu khó khăn tâm lý của học sinh lớp 2 bị bạo lực
gia đình
1.1Khái niệm khó khăn tâm lý
1.2Khái niệm bạo lực gia đình.
1.3Biểu hiện những khó khăn tâm lý của học sinh lớp 2 bị bạo lực gia đình.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
3
2.1. Tổ chức nghiên cứu
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu khó khăn tâm lý của học sinh lớp 2 ybị bạo lực gia
đình
3.1. Hoàn cảnh sống của thân chủ
3.2 Thực trạng khó khăn tâm lý của trẻ bị bạo hành
3.3 Tác động với gia đình và trẻ bị bạo lực gia đình
3.4 Tiến triển của trẻ
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khó khăn tâm lý
1.1.1. Khái niệm khó khăn tâm lý
Theo từ điển tiếng Việt: khó khăn là điều gây trở ngại, phải tốn nhiều công
sức, nỗ lực mới có thể hoàn thành. Còn tâm lý là hoạt động tình cảm, lý trí, nghị
lực của con người.Theo cách giải thích như vậy có thể hiểu khó khăn tâm lý là
những điều gây trở ngại làm ảnh hưởng đến hoạt động tình cảm, nghị lực của con
người [ tr 357 ].
Từ điển Anh - Việt thì "difficulty" hoặc "hardship" đều dùng để chỉ sự khó
hiệu quả hoạt động của chủ thể.
1.1.2. Biểu hiện của khó khăn tâm lý
Khó khăn tâm lý biểu hiện trên ba mặt: mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt
hành vi. Cụ thể là:
Mặt nhận thức: Nhận thức là nhân tố đầu tiên, quan trọng trong đời sống tâm
lý con người. Trên cơ sở nhận thức mà con người tỏ thái độ, tình cảm và có hành
vi tương ứng. Trong thực tế, không phải bao giờ con người cũng có nhận thức
đúng đắn trước các vấn đề phức tạp của cuộc sống. Nhất là đối với trẻ bị bạo hành
gia đình. Những trẻ này có xu hướng rời xa gia đình và do vậy dễ tiếp thu những
ảnh hưởng tiêu cực của xã hội hoặc trở thành nạn nhân của tệ nạn xã hội.
Về mặt thái độ: thể hiện thái độ tình cảm của các em trong học tập cũng như
trong cuộc sống. Khó khăn tâm lý biểu hiện ở dạng thái độ, tình cảm là việc xuất
hiện những xúc cảm âm tính đối với các hoạt động như thờ ơ, chán ghét học tập, lo
lắng, sợ hãi, chán nản khi gặp những vấn đề nảy sinh trong học tập Hoặc không
làm chủ được cảm xúc của mình, dễ xúc động.
Về mặt hành vi: hành vi được hiểu là sự phối hợp các vận động của toàn bộ
các bộ phận, giác quan, tư thế, điệu bộ, cử chỉ, của cơ thể khi giao tiếp. Mặt
khác, hành vi còn là nơi biểu hiện của nhận thức, xúc cảm – tình cảm. Người có
khó khăn tâm lý thường biểu hiện:
- Cư xử với các bạn theo xu hướng bạo lực
- Dạn đòn, tỏ ra lì lợm khi bị trách phạt
1.2. Bạo lực gia đình
6
1.2.1. Khái niệm
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức
mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm
người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn
thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất
mát.
Bạo lực gia đình hay bạo hành gia đình là thuật ngữ dùng để chỉ các hành
Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả
nghiêm trọng;
Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà
và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
Cưỡng ép quan hệ tình dục;
Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự
nguyện, tiến bộ;
Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài
sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên
gia đình;
Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả
năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ
thuộc về tài chính;
Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
8
1.2.4. Nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình
Nguyên nhân chủ quan:
Do nhận thức về giới và sự bình đẳng giới còn hạn chế.
Quan niệm phong kiến “trọng nam khinh nữ”, tư tưởng gia trưởng, gia
quyền còn nặng.
Sự nhìn nhận, đấu tranh của người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình còn
hạn chế, thiếu kiên quyết, thẳng thắn và còn cam chịu.
Nguyên nhân khách quan
Trình độ học vấn, năng lực nghề nghiệp, đặc biệt là tình trạng chênh lệch về
nghề nghiệp giữa vợ và chồng là một trong những yếu tố khách quan gây nên nạn
bạo hành trong gia đình.
Năng lực tự chủ tài chính của người đàn ống trong gia đình bị hạn chế, hình
thành ở họ tư tưởng tự ti, hẹp hòi. Đây cũng là nguyên nhân gây nên nạn bạo hành
gia đình với người phụ nữ.
như: căng thẳng thường xuyên, giận dữ vô cớ, bị ám ảnh bởi khung cảnh của biến
cố gây nên sự chấn thương, hay bị ác mộng, đề nén tình cảm, ngủ không yên, cảm
thấy tội lỗi, chán chường, chứng lơ đãng, tránh né những gì có thể làm gợi lại biến
cố gây chấn thương, …
Một người lớn lên trong môi trường có bạo hành sẽ có khuynh hướng dễ bị
hư hỏng, dễ giận dỗi, không thích hợp với xã hội, học hành kém. Người ấy dễ sa
vào những sa đọa, nghiện ngập về rượu, thuốc lá hoặc ma túy, hay có vấn đề với
10
pháp luật. Có khuynh hướng lẫn tránh người khác, tính tình nhút nhát, hay lo sợ,
thiếu tự tin.
1.3.1 Trẻ có xu hướng lảng tránh, rời xa gia đình.
Phản ứng thường thấy ở những đứa trẻ phải sống trong môi trường gia đình
có bạo lực là lảng tránh tất cả. Ban đầu có thể là lảng tránh sự lục đục của người
lớn, xa lánh các cuộc cãi vã, hoặc tránh cả cuộc sống gia đình để tránh những trận
đòn, những cơn sỉ vả không đáng có.
Từ sự xa lánh cuộc sống gia đình dẫn đến tâm lý không tôn trọng gia đình,
coi thường các mối quan hệ gia đình. Những đứa trẻ không có sự tôn trọng đối với
cha mẹ - những người dùng bạo lực đối với chúng. Như vậy, lời nói của cha mẹ
không có trọng lượng đối với đứa trẻ nữa. Đồng thời, gia đình không còn là nơi
giáo dục, chỉ bảo cho trẻ những bài học về cuộc sống, tình yêu thương được nữa.
Không tìm thấy niềm yêu thương an ủi từ phía gia đình, những đứa trẻ sinh
ra trong hoàn cảnh bạo lực gia đình ghê sợ cuộc sống và khinh ghét, coi thường nó.
Và điều tất yếu là những đứa trẻ quay lưng lại với gia đình, quay lưng lại với tất cả
các mối quan hệ gia đình.
Những biểu hiện cụ thể như: tránh tiếp xúc với cha mẹ, thu mình trong một
góc, lầm lì…
1.3.2. Trẻ thiếu tự tin, rụt rè, lo sợ và hay làm hỏng việc
Khoảng 6 – 11 tuổi, trẻ bắt đầu phát triển những ưu tư gần như những ưu tư
của người lớn. Những năm sau đó là các chuỗi lo lắng kéo dài trước những vấn đề
của cuộc sống. Chẳng thế mà Nguyễn Gia Thiều đã coi nỗi khổ và sự sợ hãi của
chú
1 Xác định tên đề tài
nghiên cứu
1/2012
2 Xây dựng đề cương đề tài Lý do chọn đề tài 1/2012
Mục đích, đối tượng; khách
thể; nghiên cứu; phương
pháp nghiên cứu; giả thuyết
khoa học
1/2012
3 Nghiên cứu lý luận Tìm hiểu các khái niệm
công cụ liên quan đến đề tài
2/2012
13
nghiên cứu
4 Chuẩn bị nghiên cứu thực
trạng
Xây dựng bảng quan sát 3/2012
5 Nghiên cứu thực trạng Tìm hiểu khách thể và môi
trường thân chủ sống
Thu thập thông tin liên
quan đến thân chủ
Dựa trên kết quả thu được
hoàn thiện bảng quan sát
6 Phân tích kết quả nghiên
cứu
7 Hoàn thiện đề tài nghiên
cứu
Viết kết quả nghiên cứu:
báo cáo, báo cáo tóm tắt.
Phương pháp này được sử dụng nhiều trong quá trình phỏng vấn sâu – vừa
phỏng vấn vừa quan sát điệu bộ, khuôn mặt, cử chỉ, ánh mắt, giọng nói của khách
thể và những người có liên quan để them căn cứ cho đề tài.
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn
15
Là cách thức giao tiếp trực tiếp để thu thập thông tin về một số vấn đề liên
quan đến những khó khăn tâm lý của trẻ lớp hai bị bạo hành gia đình. Nội dung
phỏng vấn tập trung vào các vấn đề: những biểu hiện của trẻ có khó khăn tâm lý,
hoàn cảnh diễn ra cuộc nói chuyện, nội dung, hình thức giao tiếp,…
Chúng tôi đã tiến hành gặp gỡ và trực tiếp phỏng vấn sâu với các khách thể
sau: thân chủ, bố mẹ thân chủ, giáo viên chủ nhiệm.
Cuộc phỏng vấn tiến hành dưới hai hình thức: chuẩn bị trước bộ câu hỏi cần
phỏng vấn bằng văn bản đồng thời phỏng vấn theo ngữ cảnh, nếu thấy vấn đề quan
trọng mà khách thể đề cập thì cần phải xoáy sâu để thu thập thông tin. Trong quá
trình phỏng vấn chúng tôi ghi chép lại cuộc phỏng vấn.
2.3.4 Phương pháp nghiên cứu trường hợp ( case study )
Nghiên cứu trường hợp là phương pháp nhà tâm lý học lâm sàng nghiên cứu
một cá nhân cụ thể trong một tình huống lâm sàng để thu thập thông tin trực tiếp,
điển hình và có hệ thống cho từng hồ sơ tâm lý nhằm phục vụ cho mục tiêu đánh
giá, chẩn đoán hoặc trị liệu lâm sang.
Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu 1 trường hợp điển hình là em NVT, 7
tuổi, học sinh lớp 2G trường tiểu học Minh Phú – Hà Nội.
Quy trình nghiên cứu trường hợp được tiến hành như sau:
Tiếp xúc, làm quen, xây dựng mối quan hệ với trẻ.
Trò chuyện, tìm hiểu thông tin về hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống – học
tập của các em
Quan sát các em trong điều kiện tự nhiên: ở lớp học, tại gia đình, khi tham
gia các trò chơi, quan sát trẻ vẽ tranh.
16
2.3.5 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động – tranh vẽ
thấy, em hầu như không kết thân với em nào. Vào giờ chơi T chỉ ngồi góc lớp nhìn
các bạn chơi đùa mà không tham gia. Nếu có bạn rủ em ra chơi thì T chỉ lắc đầu
mà không chơi. Dần dần không có em nào rủ em chơi cùng nữa.
Tôi thấy có một điều lạ là ở các lớp nhỏ thế này, các em hầu như nói với cô
giáo mọi chuyện như: bạn A lấy sách của con, bạn B nói chuyện riêng, bạn C đánh
con,… nhưng T chưa bao giờ nói với tôi những điều ấy. Khi tôi hỏi han thì em lại
có biểu hiện né tránh và không muốn tiếp xúc.
Và mặc dù rất nhút nhát nhưng T lại cục tính. Em đã nhiều lần đánh bạn vì
bị các bạn trêu. Gần đây nhất là T đã ném dép vào mặt bạn vì bạn gọi là “thằng
ngu trọc đầu”. Có khi em đánh bạn thâm tím mặt mày khiến tôi phải yêu cầu phụ
huynh đến gặp.
T cũng ít tham gia các hoạt động của lớp như văn nghệ, phong trào kế
hoạch nhỏ, đặc biệt là các phong trào về học tập thì em rất ít tham gia. Hoạt động
18
T tham gia nhiều nhất là việc tưới cây cho bồn hoa của lớp. Lớp tôi được giao
nhiệm vụ chăm sóc một cây phượng trong khuôn viên trường. Hàng ngày em đều
xách nước tưới cho cây – dù không phải là lượt của em. Có lẽ T rất thích cây
phượng nên em muốn tự tay chăm sóc cho nó.
3.1.3. Quan hệ bạn bè
Quanh khu vực em NVT sống, có rất nhiều bạn cùng độ tuổi. Tuy nhiên hầu
như em không kết thân với bạn nào.
Một bạn học của T nói: Em không chơi với thằng Tài đâu. Nó vừa học dốt
lại xấu nữa. Mà nó cũng chẳng chơi với bọn em bao giờ. Cái đồ suốt ngày ngồi
một đống chẳng biết chơi gì cả. Nói chuyện với nó, nó cũng không trả lời.
Vào mỗi buổi sáng, các em thường cùng nhau đi học. Các em đi đến đâu thì
chỗ đó râm ran tiếng cười đùa, nghịch ngợm của các em. Những lúc như vậy, NVT
chỉ đi phía sau nhìn các bạn chơi mà không tham gia. Khi có bạn nào trêu em, nếu
tỏ thái độ không thích mà em đó vẫn tiếp tục thì T sẵn sàng lao vào đánh bạn. Rất
nhiều lần cha mẹ những em bị T đánh tìm đến nhà “nói chuyện” với bố mẹ T. Mỗi
lần như vậy T đều bị bố mẹ đánh chửi và bắt nhịn đói.
hy vọng gì, …
Còn mẹ NVT 39 tuổi. Là con cả trong gia đình có 3 chị em. Ông ngoại em T
có 2 vợ. Người vợ đầu của ông ngoại T sinh được 1 người con – mẹ T. Người vợ
20
sau có 2 người con trai. Ông ngoại T mở cửa hàng ăn nên công việc khá bận rộn.
Mẹ T cũng chỉ học hết cấp 2. Sau 1 thời gian ở nhà phụ giúp gia đình thì lấy bố T.
Cả bố và mẹ T đều có trình độ học vấn thấp điều này ít nhiều ảnh hưởng đến
việc lựa chọn phương pháp giáo dục con cái của gia đình.
Dân gian có câu “ Mấy đời bánh đúc có xương. Mấy đời dì ghẻ lại thương
con chồng”. Mẹ T cũng không phải là ngoại lệ. Mẹ T vừa phải quán xuyến việc
nhà lại phải lo việc ở hàng ăn, suốt ngày đầu tắt mặt tối. Nhưng như vậy vẫn là
chưa đủ đối với người dì. Cũng như bố T, mẹ T sống trong những tiếng mắng chửi,
nhiếc móc, “ngày 3 bữa cơm thì 2 bữa chan nước mắt”.
Có lẽ vì vậy mà khi gặp bố T, hai người có cùng cảnh ngộ tìm thấy sự đồng
cảm ở nhau. Và họ nhanh chóng đi đến hôn nhân.
Lập gia đình, mẹ T ở nhà làm ruộng và làm xay xát gạo tại nhà. Thời gian
đầu kinh tế còn khó khăn nên vợ chồng hay nảy sinh mâu thuẫn và hay cãi vã. Về
sau, khi bố T chuyển sang môi giới đất đai thì kinh tế gia đình có sự thay đổi rõ rệt.
Từ chỗ ở trong căn nhà cấp 4 đến nay đã có nhà 3 tầng để sinh sống. Vì vậy, đời
sống của chị em T cũng được cải thiện so với trước, tuy nhiên những trận đòn roi
thì vẫn không dứt.
Từ chỗ gia đình khó khăn, phải chạy ăn từng bữa đến nay gia đình T đã
khấm khá hơn. Bán đất, bán ruộng giúp gia đình T có một khoản tiền lớn trong tay
khiến họ không biết sử dụng vào việc gì. Thay vì đầu tư tái sản xuất bố mẹ em lại
mua xe máy, xây nhà, đánh lô đề, ăn hàng, … Chị em T vì vậy cũng được bố mẹ
chu cấp thoải mái hơn. Các em được cho nhiều tiền để ăn sáng, tiền tiêu vặt, tiền
mua sắm, … trong khi còn bé và chưa ý thức được giá trị đồng tiền.Nếu gia đình
quản lý các em một cách lỏng lẻo sẽ dễ dẫn đến đua đòi, hư hỏng.
21
NVT là con thứ 3 trong gia đình. Trên T có 2 chị, 1 học lớp 7 và 1 học lớp 4.
Theo mẹ T kể “Buổi tối tôi thường phải chạy qua phòng T vì em khóc. Hỏi
làm sao thì nó không nói mà chỉ khóc to hơn. Tôi đoán là nó mơ ngủ. Rõ chán, con
trai con đứa gì mà lớn tướng mà đi ngủ vẫn còn thế. Những lúc ấy, tôi phải dỗ mãi
nó mới chịu ngủ tiếp. Chứ không để bố nó nghe thấy lại khổ cả con lẫn mẹ. Đêm
ngủ T hay nói mơ nữa, cứ ú a ú ớ suốt. Chắc tại ban ngày nó chơi đùa hò hét nhiều
quá nên đêm không ngủ yên được”.
3.2 Thực trạng khó khăn tâm lý của trẻ bị bạo hành gia đình.
3.2.1 Trẻ thu mình, tách xa các mối quan hệ gia đình và xã hội
Lần đầu gặp tôi, T thể hiện là một người nhút nhát, sợ sệt. Em đang ngồi
trong phòng khách, thấy tôi T liền đi vào phía trong và không ra ngoài nữa cho đến
khi bị mẹ bắt ra ngoài.
Mẹ T nói: Thằng này nhà chị nhát lắm. Thấy khách đến nhà là nó trốn biệt
cấm có ló mặt ra bao giờ. Nhiều khi đi đâu cũng ngại về con, như con nhà người
ta có lạ thì chỉ lạ một lúc thôi chứ. Còn nó cứ ngồi một xó, không nói chuyện với ai
cũng chẳng chơi gì, cứ ngồi như cục đất ấy. Lâu rồi thành ra cũng chẳng cho nó
đi đâu nữa”.
“Đi học về là nó vứt cặp vào phòng rồi ra sân ngồi đến lúc chị bắt đi tắm nó
mí chịu đi. Chứ nó có giúp được gì đâu, cơm không biết nấu, lợn gà cũng chẳng
biết cho ăn. Chỉ ăn với phá là giỏi”.
23
“Ở nhà nó cũng ít nói chuyện với chị, chắc đi học mấy chị em nó chơi với
nhau rồi. Về nhà chỉ có hai con vịt giời kia là chí cha chí chóe suốt ngày thôi. Cu
Tài giống bố nên ít nói. Nó chả kể chuyện ở trường, ở lớp hay bạn bè nó thế nào
bao giờ”.
Lúc ngồi nói chuyện T chọn vị trí ngồi xa tôi nhất và không tham gia vào
câu chuyện. T chỉ ngồi một góc và đóng vai thính giả. Nghe mẹ kể tội mình với
khách em cũng không tỏ thái độ khó chịu hay bức xúc gì, T chỉ ngồi nhìn ra cửa
sổ. Nói chuyện với tôi một lúc thì các chị T đi làm việc nhà, chỉ còn em ngồi lại.
Khi tiếp xúc với tôi, T thường vặn các ngón tay hoặc đan các ngón tay lại với nhau.
Điều này cho thấy em có cảm giác không thoải mái, lo lắng. Có thể em đang chờ
25