chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh pci và giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại hà nội - Pdf 21


TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài: CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI)
VÀ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH TẠI HÀ NỘI

Sinh viên thực hiện: Trần Thị Quỳnh Trang
Lớp: K43F - Nhật 1
Giáo viên hướng dẫn: Ths. Ngô Quý Nhâm Hà Nội, tháng 5 năm 2008

i

ii
2.3. So sánh chỉ số năng lực cạnh tranh của Hà Nội với các thành phố
trực thuộc Trung ương 45
III. Đánh giá môi trường kinh doanh của Hà Nội 48
3.1. Ưu điểm của môi trường kinh doanh Hà Nội 48
3.2. Hạn chế của môi trường kinh doanh Hà Nội và nguyên nhân 49
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH
DOANH TẠI HÀ NỘI 52
I. Định hướng phát triển của Hà Nội 52
1.1. Mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội 52
1.2. Các yếu tổ ảnh hưởng đến khả năng cải thiện môi trường kinh doanh
tại Hà Nội 54
1.3. Bài học thành công của các tỉnh, thành phố khác 55
II. Các giải pháp chung cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội 57
2.1. Nhóm giải pháp đẩy 58
2.2. Nhóm giải pháp kéo 60
III. Các giải pháp cụ thể cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội 65
3.1. Áp dụng hiệu quả cơ chế “một cửa”, tiến tới xây dựng cơ chế “một
cửa, tại chỗ” ở các khu công nghiệp của Hà Nội 65
3.2. Nâng cao chức năng và phát huy mọi tiện ích của Cổng giao tiếp
điện tử Hà Nội (Hanoi Portal) 67
3.3. Tăng cường và mở rộng phân cấp quản lý đến các quận, huyện 69
3.4. Quản lý chặt chẽ, phân bổ và sử dụng hiệu quả quỹ đất dành cho sản
xuất, kinh doanh 70
3.5. Ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh 71
3.6. Xây dựng mối liên hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp tư nhân
thông quan các Hiệp hội kinh doanh 72
KẾT LUẬN 75


Vietnam Chamber of Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1:
Quy mô khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Trang 10
Bảng 2:
Trọng số của các chỉ số thành phần năm 2007
18
Bảng 3:
Số doanh nghiệp đăng ký mới giai đoạn 2002 - 2007
31

Chỉ số điều hành kinh tế và các chỉ số thành phần
6
Biểu 3:
Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp
22
Biểu 4:
Nhóm hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
24
Biểu 5:
Vòng tròn quan hệ
25
Biểu 6:
Ba bước rà soát hoạt động điều hành kinh tế cấp tỉnh
26
Biểu 7:
Mối quan hệ tuyến tính giữa PCI và GDP
27
Biểu 8:
Cơ cấu kinh tế Hà Nội dự đoán năm 2008
31
Biểu 9:
Mô hình “một cửa”
33
Biểu 10:
Chỉ số năng lực cạnh tranh của Hà Nội
34
Biểu 11:
Chỉ số về chi phí không chính thức của Hà Nội năm 2007
36
Biểu 12:

cấp tỉnh (PCI) và giải pháp cải thiện môi trƣờng kinh doanh tại Hà Nội”
làm khoá luận tốt nghiệp. Khóa luận có kết cấu gồm ba chương:
Chương 1:
Chương 2:

Chương 3:
Những vấn đề chung về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và môi trường kinh
doanh của Hà Nội.
Một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội. 2
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm củng cố kiến thức đã học, vận dụng phân
tích thực tiễn PCI ở một số tỉnh, thành phố. Đề tài khoá luận đi sâu phân tích
thực trạng và lý giải sự thay đổi của PCI Hà Nội qua các năm, chỉ ra những tồn
tại, nguyên nhân và biện pháp khắc phục; đồng thời đề xuất những giải pháp
nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đặt ra khi tiến hành nghiên cứu đề tài là: tìm hiểu cơ sở lý
luận, phương pháp xây dựng PCI; phân tích những chỉ số cấu thành, nguyên
nhân làm thay đổi PCI cấp tỉnh, thành phố; cuối cùng là đề xuất một số giải
pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh tại Hà Nội.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh và vai trò của chỉ số này trong việc đưa ra các giải pháp cải thiện môi
trường kinh doanh tại Hà Nội.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp phân

Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và
Phát triển Kinh tế (OECD) đã cố gắng định nghĩa khái quát về cạnh tranh có
sự kết hợp cả ở 3 cấp độ doanh nghiệp, ngành, và quốc gia: “Cạnh tranh là khả
năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ”.
Theo đó, khái niệm về năng lực cạnh tranh cũng được chia ra làm 3 cấp
độ. Cụ thể như sau
1
:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia: là năng lực của một nền kinh tế đạt được
tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội,
nâng cao đời sống của người dân. Năng lực cạnh tranh quốc gia được hình
thành như một khái niệm phức hợp dựa trên một chùm (cluster) tám yếu tố do
Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đưa ra. 1
Lê Đăng Doanh - Phát triển, cải cách kinh tế và năng lực cạnh tranh ở Việt Nam - Triển vọng và thách thức

4
Biểu 1: Tỷ lệ các yếu tố trong năng lực cạnh tranh quốc gia

(Nguồn: World Economic Forum)
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: được đo bằng khả năng duy trì
và mở rộng thị phần, tỷ suất lợi nhuận mà doanh nghiệp có được trên thị trường
trong và ngoài nước.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: được đo bằng thị phần của
sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường.
Trong khuôn khổ của khóa luận này, vấn đề năng lực cạnh tranh được đề
cập có giới hạn trong phạm vi vùng - nhỏ hơn phạm vi quốc gia, tức là ở cấp

tư nhân.
Góc độ thứ nhất là thái độ tích cực của chính quyền với doanh nghiệp.
Thái độ tích cực thể hiện qua việc chính quyền cấp tỉnh không dựng lên những
rào cản gia nhập thị trường để bảo vệ riêng cho các doanh nghiệp nhà nước
hoặc những doanh nghiệp đứng đầu được tỉnh ưu ái. Những rào cản thường gặp
là thủ tục đăng ký phức tạp hay những cuộc thanh tra, kiểm tra thường xuyên,
kéo dài. Những tỉnh giữ thái độ tích cực đối với khu vực kinh tế tư nhân sẽ đơn
giản hoá những quy trình, thủ tục đăng ký và áp dụng những chính sách có lợi

6
cho doanh nghiệp. Các tỉnh này thường tìm được những giải pháp phù hợp vì
thường xuyên tham dự các diễn đàn doanh nghiệp, nhìn nhận được tốt hơn
những khó khăn, trở ngại mà doanh nghiệp đang gặp phải. Thái độ tích cực của
tỉnh cũng giúp doanh nghiệp nhanh chóng đưa ra ý kiến, thông tin phản hồi về
những quy định, chính sách mới chưa phù hợp.
Ngược lại, ở những tỉnh có thái độ thiếu tích cực đối với sự phát triển
của doanh nghiệp tư nhân thì thường tồn tại những chính sách không hiệu quả,
không phù hợp. Các tỉnh quan tâm tới doanh nghiệp tư nhân thường có xu
hướng năng động hơn, thông cảm với những vướng mắc mà hệ thống gây ra
cho doanh nghiệp. Đôi khi, các tỉnh này chọn giải pháp “vượt rào” qua những
quy định của Chính phủ trong một chừng mực nhất định nhằm giúp đỡ doanh
nghiệp.
2

Góc độ thứ hai là sự cởi mở của chính quyền tỉnh đối với doanh nghiệp.
Sự cởi mở đóng vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh làm minh bạch công
tác điều hành, mà còn tăng khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho những quyết định đầu tư. Sự cởi mở còn góp phần
tạo ra một sân chơi bình đẳng hơn và ở một khía cạnh khác, giúp doanh nghiệp
hiểu rõ hơn những quyết định của tỉnh. Cán bộ địa phương càng cởi mở và

khi các cơ quan quản lý cùng phối hợp tiến hành thanh tra, kiểm tra, doanh
nghiệp một hoặc hai lần trong năm thay vì hàng chục lần thanh tra bất chợt của
bất kỳ cơ quan nào.
Sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước cấp tỉnh đóng vai trò rất quan
trọng. Hệ thống cơ quan Nhà nước cấp tỉnh gồm: Hội đồng nhân dân, UBND
tỉnh, và các Sở ban ngành trực thuộc Thực trạng thiếu nhất quán và ách tắc
trong quá trình ra quyết định vấn đề có liên quan đến nhiều cơ quan đã và đang
gây ra không ít phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp. Những tỉnh thường
xuyên tổ chức các cuộc gặp gỡ, trao đổi giữa cơ quan quản lý địa phương với
doanh nghiệp nhằm đạt sự đồng thuận trong quá trình thực thi chính sách sẽ
giảm được chi phí giao dịch và những thủ tục hành chính phiền hà cho doanh
nghiệp. Nếu không có sự phối hợp này, doanh nghiệp sẽ phải mất nhiều thời
gian và công sức để hoàn thành thủ tục cần thiết để khởi sự kinh doanh. Có thể
nói sự phối hợp tốt là chìa khoá của mọi sự thành công. Phối hợp tốt làm nâng

8
cao tính minh bạch thông qua việc nguồn thông tin được cung cấp tập trung. Số
lượng các cơ quan Nhà nước mà doanh nghiệp phải trực tiếp tiếp xúc giảm
xuống, từ đó giảm cơ hội cho nạn hối lộ, chi phí kinh doanh của doanh nghiệp
cũng giảm. Cuối cùng, sự phối hợp tốt là động lực thúc đẩy tính năng động,
tiên phong của chính quyền địa phương thực hiện tốt những chính sách của
Đảng và Nhà nước. (Xem thêm Phụ lục 2)
c. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chỉ số đo mức độ hiệu quả của
hoạt động điều hành chính sách kinh tế của chính quyền địa phương. Chỉ số
này loại bỏ các yếu tố tự nhiên, xã hội có thể làm cho địa phương này có lợi thế
hơn địa phương khác trong phát triển kinh tế. Như vậy, các địa phương đều có
cơ hội cạnh tranh ngang nhau trước các chính sách điều hành kinh tế của Nhà
nước. Việc địa phương ở vị trí nào trong bảng xếp hạng chính là thước đo năng
lực và thể hiện một cách chân thực cách nhìn nhận, tư duy và phương pháp điều

. Trên thực tế, những tỉnh có cơ sở hạ tầng tốt hơn, lực
lượng lao động có trình độ và kỹ thuật cao hơn, vị trí địa lý nằm gần hơn với
những thị trường tiêu thụ lớn hơn nên kinh tế phát triển thuận lợi hơn. Hơn nữa,
những lợi thế từ điều kiện truyền thống càng được củng cố do tính đặc thù của
hệ thống tài chính Việt Nam. Những tỉnh có điều kiện ban đầu thuận lợi, có
nguồn thu lớn, được phép trích lại một phần số thu vượt kế hoạch để tiếp tục
phát triển. Nếu sử dụng các điều kiện truyền thống làm thước đo sự phát triển
kinh tế thì kết quả thu được sẽ không chính xác. Vì chính bản thân các điều
kiện truyền thống đã là kết quả của sự phát triển. Những yếu tố truyền thống
thường không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những thái độ và thực thi chính sách
hiện tại của chính quyền tỉnh trong ngắn hoặc trung hạn
5
.
Sự khác biệt về các điều kiện truyền thống giữa các tỉnh thường được
duy trì trong một thời gian dài. Ví dụ: thành phố Hồ Chí Minh luôn có thị
trường lớn hơn Hà Tĩnh, Bình Dương luôn có vị trí tốt hơn Cà Mau, cơ sở hạ
tầng của Hà Tây luôn tốt hơn Hà Giang, Những tỉnh, thành phố phát triển
chắc chắn sẽ có thứ hạng cạnh tranh hơn bởi có các điều kiện truyền thống tốt.
Như vậy, việc loại trừ các yếu tố truyền thống sẽ tạo cơ sở so sánh bình đẳng
giữa các tỉnh, thành phố; đánh giá chuẩn xác hơn những nỗ lực của chính quyền
địa phương trong việc cải thiện môi trường kinh doanh. Mục tiêu cuối cùng của
chỉ số PCI là nhằm xác định những tỉnh quản lý điều hành tốt khi có những
điều kiện ban đầu như nhau. 4
Báo cáo Nghiên cứu Chính sách VNCI - Số 4, trang 63
5
Báo cáo Nghiên cứu Chính Sách VNCI - Số 11, trang 6


21%
(Nguồn: Báo cáo của Dự án Nâng cao Năng lực cạnh tranh Việt Nam)
Năm 2005, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) lần đầu tiên được
xây dựng từ chín chỉ số thành phần. Mỗi chỉ số phản ánh một khía cạnh cụ thể,
liên quan đến môi trường kinh doanh nói chung và chính sách phát triển kinh tế
tư nhân nói riêng. Đó là các chỉ số:
1. Chi phí gia nhập thị trường.
2. Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất đai.
3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin.
4. Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước.
5. Chi phí không chính thức.
6. Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước và môi trường cạnh tranh.
7. Tính năng động và tiên phong của chính quyền tỉnh.
8. Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
9. Thực hiện các chính sách của Trung ương.

11
Năm 2006, PCI bỏ một chỉ số thành phần là chỉ số về thực hiện chính
sách của Trung ương và có thêm hai chỉ số thành phần mới. Đó là chỉ số về
thiết chế pháp lý: đánh giá mức độ tin tưởng của doanh nghiệp đối với các thiết
chế pháp lý tại địa phương; và chỉ số về đào tạo lao động: đánh giá những nỗ
lực của chính quyền cấp tỉnh trong việc giải quyết sự thiếu hụt về lao động có
tay nghề qua đào tạo tại địa phương. Ngoài ra, PCI 2006 còn cải tiến và hoàn
thiện những chỉ số thành phần hiện có. Ví dụ như: chỉ số chi phí gia nhập thị
trường được bổ sung thêm các thông tin điều tra về mức độ khó khăn khi thành
lập doanh nghiệp. Chỉ số thành phần về đất đai cũng được điều chỉnh để phản
ánh được hai khía cạnh quan trọng là khả năng tiếp cận đất đai và sự ổn định
trong sử dụng đất của doanh nghiệp.
Năm 2007, số lượng doanh nghiệp gửi ý kiến phản hồi nhiều hơn do vậy
cơ sở dữ liệu thu được tin cậy và thuyết phục hơn. Đặc điểm mới của PCI 2007

.
2.2. Sử dụng các chỉ số thành phần
Để nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, ta phải sử dụng rất
nhiều chỉ tiêu nhỏ, được nhóm lại trong mười chỉ số thành phần sau:
Chỉ số 1- Chi phí gia nhập thị trường
Chi phí gia nhập thị trường là chi phi được tính toán dựa trên kết quả đo
lường thời gian một doanh nghiệp cần để đăng ký kinh doanh, xin cấp đất và
nhận được mọi loại giấy phép, thời gian cần thiết để thực hiện tất cả các thủ tục
để bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh, số lượng giấy phép cần hoàn thành
và cảm nhận về mức độ khó khăn trong việc xin các giấy phép đó. Để xây dựng
chỉ số về chi phí gia nhập thị trường, cần có số liệu về:
 Tỷ lệ % doanh nghiệp mất hơn 1 tháng để khởi sự kinh doanh.
 Tỷ lệ % doanh nghiệp mất hơn 3 tháng để khởi sự kinh doanh.
 Tỷ lệ % doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc có được toàn bộ các giấy
phép cần thiết để kinh doanh. 6
Một số câu hỏi được lấy từ Cuộc điều tra về Kết quả hoạt động của doanh nghiệp và môi trường kinh doanh
của Ngân hàng thế giới (BEEPS).
7
Floyd Fowler, 2002, Phương pháp nghiên cứu điều tra, Tái bản lần 3, Sage Publications, Thousand Oaks,
trang 35: “Chọn mẫu lớn hay nhỏ từ một tổng thể chưa chắc đã có nghĩa mẫu này sẽ đại diện cho tổng thể. Một
mẫu bao gồm 150 người có thể mô tả cho tổng thể 15.000 người hay 15 triệu người với độ chính xác như nhau,
nếu tất cả mọi khía cạnh thiết kế và quy trình lấy mẫu là như nhau.”

13
 Thời gian đăng ký kinh doanh (số ngày).
 Thời gian đăng ký lại (số ngày).
 Số lượng giấy đăng ký, giấy phép kinh doanh và quyết định chấp thuận

được đã cung cấp thông tin hoàn toàn phù hợp và có chất lượng”
8
.
Chỉ số về tính minh bạch và tiếp cận thông tin đánh giá khả năng doanh
nghiệp có thể tiếp cận những kế hoạch của tỉnh cũng như các văn bản pháp lý
cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Chỉ số này được thể hiện cụ thể qua các
khía cạnh sau:
 Tính minh bạch của các tài liệu kế hoạch.
 Tính minh bạch của các văn bản pháp quy.
 Vai trò của các “mối quan hệ” để có được các tài liệu kế hoạch của tỉnh.
 Vai trò của gia đình và bạn bè khi thương lượng với cán bộ Nhà nước.
 Thương lượng với cán bộ thuế là phần thiết yếu trong hoạt động kinh
doanh.
 Khả năng dự đoán việc triển khai các quy định, chính sách Trung ương
tại địa phương.
 Chính quyền tỉnh có tham khảo ý kiến với doanh nghiệp về những thay
đổi trong các quy định pháp luật.
 Chất lượng dịch vụ tư vấn do cơ quan của tỉnh cung cấp về các quy định
ở cấp Trung ương và cấp địa phương.
 Tính cởi mở: Đánh giá trang web của tỉnh.
Chỉ số 4 - Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
Chỉ số này đo lường thời gian mà các doanh nghiệp phải tiêu tốn khi
chấp hành các thủ tục hành chính, cũng như mức độ thường xuyên và thời gian
doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của tỉnh
thanh tra, kiểm tra. Đây là chỉ số hoàn toàn mang tính định lượng, tổng hợp từ :
 Tỷ lệ % doanh nghiệp sử dụng hơn 10% quỹ thời gian để làm việc với
chính quyền.
 Số ngày làm việc với chính quyền địa phương giảm.
Chỉ số được xây dựng xuất phát từ việc đánh giá các nội dung sau:
 Ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước là cản trở đối với công việc kinh
doanh của doanh nghiệp tư nhân.

16
 Thái độ của tỉnh đối với doanh nghiệp tư nhân.
 Thái độ đối với doanh nghiệp tư nhân đang được cải thiện.
 Thái độ không phụ thuộc vào mức đóng góp cho ngân sách tỉnh.
 Ưu đãi doanh nghiệp cổ phần hoá là cản trở công việc kinh doanh của
doanh nghiệp.
 Đánh giá của doanh nghiệp về nỗ lực thực hiện cổ phần hoá của tỉnh.
 Tỷ lệ % thay đổi số doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý.
 Tỷ trọng dư nợ cho vay của các ngân hàng cho doanh nghiệp nhà nước.
 Tương quan tỷ lệ giữa tỷ trọng nợ của doanh nghiệp nhà nước/ tổng số
nợ của các doanh nghiệp so với tỷ trọng doanh thu của doanh nghiệp nhà
nước/ tổng doanh thu của các doanh nghiệp trong năm trước.
Chỉ số 7 - Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
Chỉ số này đánh giá khả năng linh hoạt của tỉnh trong quá trình thực thi
chính sách Trung ương tại địa phương. Những tỉnh thành năng động thường tự
mình đưa ra những sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Tính năng động của từng địa phương được thể hiện qua những biểu hiện cụ thể
sau:
 Tính sáng tạo và sáng suốt trong việc giải quyết những trở ngại đối với
cộng đồng doanh nghiệp.
 Tỉnh triển khai tốt các chính sách, quy định của Trung ương.
 Tỉnh hoàn toàn không có sáng kiến, mọi chính sách đều xuất phát từ
Trung ương.
Chỉ số 8 - Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân
Chỉ số về chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân là một chỉ số rất
quan trọng. Nó phản ánh chất lượng và tính hữu ích của các chính sách cấp tỉnh

 Hệ thống pháp lý tạo ra cơ chế để doanh nghiệp có thể khởi kiện hành vi
tham nhũng của cán bộ công quyền.
 Lòng tin của doanh nghiệp và thiết chế pháp lý.
 Chủ yếu sử dụng thiết chế pháp lý để giải quyết tranh chấp.
 Số vụ tranh chấp bình quân trên 100 doanh nghiệp đang hoạt động.

18
 Số vụ tranh chấp của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên tổng số
các vụ tranh chấp đưa ra Toà Kinh tế

2.3. Xây dựng chỉ số tổng hợp có trọng số
Sau khi xây dựng, tính toán các chỉ số thành phần, kết hợp với việc tính
toán trọng số, kết quả thu được sẽ là chỉ số tổng hợp PCI . Trong mười chỉ số
thành phần, có những chỉ số có vai trò quan trọng hơn những chỉ số còn lại khi
lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh. Bằng phép hồi quy đa
biến, cứ một điểm tăng lên đối với mỗi chỉ số sẽ làm tăng một lượng phần trăm
nhất định vốn đầu tư bình quân đầu người ở khu vực tư nhân. Con số phần trăm
này chính là trọng số của mỗi chỉ số thành phần.
Bảng 2: Trọng số của các chỉ số thành phần năm 2007
Chỉ số thành phần
Trọng số
Trọng số
làm tròn
Loại
trọng số
Chính sách phát triển kinh tế tư nhân
17.21%
15%
Cao
Tính minh bạch

3.57%
5%
Thấp
Chi phí gia nhập thị trường
3.18%
5%
Thấp
(Nguồn: Báo cáo về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2007)

19
Mục đích của việc áp dụng trọng số nhằm đảm bảo điểm của các chỉ số
thành phần được điều chỉnh hợp lý theo sự phát triển của khu vực kinh tế tư
nhân tuỳ vào thời điểm nghiên cứu. Vì vậy, cách tính trọng số cho mỗi chỉ số
thành phần qua từng năm đều có sự khác nhau, những chỉ số thành phần có
tương quan nhiều nhất tới sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân, đầu tư
và lợi nhuận sẽ nằm trong nhóm trọng số cao là 15%; tiếp theo, những chỉ số
thành phần có mức độ quan trọng giảm dần được sắp xếp tương ứng với nhóm
trọng số trung bình là 10% và thấp nhất là 5%; những chỉ số thành phần có vai
trò ít quan trọng hơn sẽ được gán cho trọng số thấp.
Có ba nguyên nhân giải thích vì sao một vài chỉ số thành phần nằm trong
nhóm trọng số thấp.
Một là, các chỉ số thành phần đó không độc lập với nhau. Sự tương tác
giữa các chỉ số thành phần có thể gây ảnh hưởng lớn đến kết quả cuối cùng.
Hai là, một số chỉ số có tính tương đồng cao giữa các tỉnh; nói cách
khác, các tỉnh đạt điểm xấp xỉ nhau về chỉ số này nên không giúp lý giải sự
khác biệt.
Ba là, phần lớn khả năng giải thích của chỉ số đó có thể đã được bao
hàm trong các chỉ số khác.
III. Ý NGHĨA CỦA CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH
3.1. Các đặc tính của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

luôn được coi trọng. Trong tiêu thức phân tổ, quy mô của doanh nghiệp không
được sử dụng vì nó có mối tương quan cao với loại hình doanh nghiệp. Hơn
nữa gần 90 % doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vốn nhỏ và vừa, tức là dưới
10 tỷ đồng. (Xem thêm Phụ lục 3)
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chú trọng nhiều các yếu tố liên
quan đến điều hành như thái độ hợp tác của chính quyền, sự bất trắc của môi
trường chính sách, sự nhiêu khê của thủ tục hành chính vốn là các yếu tố rất
khó định lượng. Để đảm bảo tính khoa học, việc đưa ra trọng số cho mỗi chỉ số

Trích đoạn Nâng cao chức năng và phát huy mọi tiện ích của Cổng giao tiếp Quản lý chặt chẽ, phân bổ và sử dụng hiệu quả quỹ đất dành cho sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status