nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (pci) của tỉnh kiên giang - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
======

NGUYỄN THUM EM
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA
TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHA TRANG - 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

tôi nghiên cứu, tìm hiểu với sự hướng dẫn của thầy TS. Lê Kim Long, hoàn toàn
không có sự sao chép của người khác. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là
trung thực, các nguồn tài liệu được trích dẫn rõ ràng. Tôi xin chịu trách nhiệm về lời
cam đoan của mình.

Kiên Giang, ngày 25 tháng 4 năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thum Em

ii

LỜI CẢM ƠN

iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CHỈ SỐ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH. 4
1.1. Một số khái niệm: 4
1.1.1. Lợi thế cạnh tranh: 4
1.1.2. Năng lực cạnh tranh: 4
1.1.3. Năng lực cạnh tranh quốc gia 5
1.1.4. Năng lực cạnh tranh ngành 6
1.1.5. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 7
1.1.6. Năng lực cạnh tranh sản phẩm 8
1.1.7. Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ 8
1.2. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9
1.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 9
1.2.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 10
1.2.2.1. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ? 10
1.2.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của PCI 10
1.2.2.3. Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 12
1.2.2.4. Các chỉ số và cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Trích
dẫn theo Website của VCCI) 14
1.2.2.5. Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 23
1.2.2.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 28
1.2.2.7. Ưu điểm và hạn chế của chỉ số PCI 32

2.5.2.5 Chỉ số Chi phí không chính thức 71
2.5.2.6 Chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 75
2.4.2.7. Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 79
2.5.2.8 Chỉ số Đào tạo lao động: 84
2.4.2.9 Chỉ số thiết chế pháp lý 88
2.5. So sánh Chỉ số PCI của Kiên Giang với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long: 93
v
2.5.1. Điểm số và thứ hạng của các tỉnh khu vực ĐBSCL 93
2.5.2. Các Chỉ số thành phần của tỉnh Kiên Giang so sánh với các tỉnh trong vùng: 98
2.6. Đánh giá các Chỉ số thành phần của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL 102
2.6.1. Điểm mạnh và điểm yếu các chỉ số thành phần của Kiên Giang 104
2.6.1.1. Về điểm mạnh: 104
2.6.1.2. Về điểm yếu: 105
Tóm tắt chương 2 106
Chương 3: MỘT SỐ GỢI Ý CHÍNH SÁCH NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2011-
2020: 107
3.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011-2020 107
3.1.1. Bối cảnh phát triển, cơ hội và thách thức: 107
3.1.1.1. Bối cảnh phát triển: 107
3.1.1.2. Những cơ hội và thách thức: 108
3.1.2. Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang giai đoạn
2011-2020: 109
3.1.2.1. Quan điểm phát triển 109
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển 110
3.1.3. Định hướng phát triển các ngành và sản phẩm chủ lực: 111
3.1.3.1. Định hướng phát triển các ngành nông - lâm - thủy sản 111
3.1.3.2. Định hướng phát triển ngành công nghiệp 112
3.1.3.3. Định hướng phát triển các ngành dịch vụ 112
3.2. Nguyên tắc cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần 27
Bảng 2.1: Tổng giá trị tăng thêm 2000-2010 41
Bảng 2.2: Động thái tốc độ tăng trưởng kinh tế, 2001-2010 42
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế năm 2000-2005 và ước năm 2010 44
Bảng 2.4: Cơ cấu kinh tế năm 2000-2005 và ước năm 2010 44
Bảng 2.5: Biến động dân số, lao động việc làm đến năm 2010 45
Bảng 2.6: Năng suất lao động đến năm 2010 46
Bảng 2.7: Tổng hợp vốn đầu tư phát triển 2001-2010 48
Bảng 2.8. Xếp hạng PCI Kiên Giang so với cả nước và ĐBSCL 2005-2012: 53
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu của chỉ số gia nhập thị trường năm 2009-2012 58
Bảng 2.10: Các chỉ tiêu của chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
năm 2009- 2012 62
Bảng 2.11: Các chỉ tiêu của chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm 2009-
2012 66
Bảng 2.12: Các chỉ tiêu của chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà
nước năm 2009-2012 70
Bảng 2.13: Các chỉ tiêu của chỉ số Chi phí không chính thức năm 2009- 2012 74
Bảng 2.14: Các chỉ tiêu của chỉ số Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
năm 2010, 2011. 78
Bảng 2.15: Các chỉ tiêu của chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp năm 2010, 2011 82
Bảng 2.16: Các chỉ tiêu của chỉ số Đào tạo lao dộng năm 2009- 2012 87

Biểu đồ 2.19: Xu hướng Chi phí thời gian từ 2005-2012 69
Biểu đồ 2.20: Chỉ số Chi phí không chính thức của Kiên Giang 2005-2012 71
Biểu đồ 2.21: Thứ hạng Chỉ số Chi phí không chính thức của Kiên Giang 2005-2012
72
Biểu đồ 2.22: Xu hướng Chi phí không chính thức từ 2005-2012 73
ix
Biểu đồ 2.23: Chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh của tỉnh Kiên
Giang 2005-2012 75
Biểu đồ 2.24: thứ hạng Chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo của Kiên
Giang 2005-2012 76
Biểu đồ 2.25: Xu hướng Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo Kiên Giang, An
Giang và tỉnh trung vị từ 2005-2012 77
Biểu đồ 2.26: Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tỉnh Kiên Giang 2006-2012 80
Biểu đồ 2.27: Xếp hạng Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp2007-2011 80
Biểu đồ 2.28: Xu hướng Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp từ 2006-2012 81
Biểu đồ 2.29: Chỉ số Đào tạo lao động tỉnh Kiên Giang 2006-2012 84
Biểu đồ 2.30: xếp hạng Chỉ số Đào tạo lao động của tỉnh Kiên Giang 2005-2011 85
Biểu đồ 2.31: Xu hướng Đào tạo lao động từ 2006-2012 86
Biểu đồ 2.32:Chi số Thiết chế pháp lý của Kiên Giang 2006-2011 88
Biểu đồ 2.33:Xếp hạng Chi số Thiết chế pháp lý của Kiên Giang 2006-2011 89
Biểu đồ 2.34: Xu hướng Thiết chế của từ 2005-2012 90
Biểu đồ: 2.35. Chất lượng điều hành PCI của các tỉnh ĐBSCL 94
Biểu đồ 2.38: Thay đổi thứ hạng của cả tỉnh ĐBSCL (2006-2012) 98
Biểu đồ 2.39: Các chỉ tiêu tốt của tỉnh Kiên Giang năm 2012 99
Biểu đồ 2.40: Các chỉ tiêu TB của tỉnh Kiên Giang năm 2012 100
Biểu đồ 2.41 Các chỉ tiêu chưa tốt của tỉnh Kiên Giang năm 2012 101
x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- CBCC: Cán bộ công chức

- VCCI (Vietnam Chamber of Commerce and Industry): Phòng Thương Mại và
Công Nghiệp Việt Nam
- VNCI (Vietnam Competitiveness Initiatives): Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh
Việt Nam
- WEF (World Economic Forum): Diễn đàn Kinh tế Thế giới
- WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới.
1 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, dưới sự tác động của quá trình cải cách sang nền kinh tế thị trường
và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò và vị trí của chính quyền địa phương các cấp (gồm
HĐND, UBND, và các cơ quan chuyên môn) ngày càng được phân cấp mở rộng. Họ
có quyền chủ động hơn trong việc lập và thực thi các chiến lược và kế họach phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương, mở rộng khả năng thực hiện các quan hệ trực tiếp với
các đối tác nước ngoài để thu hút vốn, công nghệ cũng như hợp tác sản xuất nhằm khai
thác hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có. Xuất phát từ tình hình trên, các địa phương
phải tự thân vận động như một doanh nghiệp theo định hướng thị trường. Các nhà lãnh
đạo cần biết xây dựng địa phương mình thành một sản phẩm hấp dẫn, đồng thời cần

Từ đó, đặt ra vấn đề làm sao có thể thu hút vốn đầu tư, khai thác các nguồn lực
của tỉnh và nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Hiện đã có một số đề tài nghiên cứu
về chủ đề này như: “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
của tỉnh Hải Dương” của Tiến sĩ Phan Nhật Thanh; “Các giải pháp nhằm cải thiện và
nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Khánh Hòa” của Sinh viên Nguyễn Thị
Thu Thảo; các Báo cáo tham luận tổng hợp đề xuất giải pháp nâng cao PCI của thành
phố Đà Nẵng năm 2009; Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Đà nẵng (2010); Báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh và đề xuất kế hoạch cải thiện môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh của tỉnh
Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng …Tuy nhiên, chủ đề này nghiên cứu về Kiên Giang
vẫn còn bỏ ngỏ. Là một cán bộ của tỉnh, tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào sự phát
triển của tỉnh. Vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu Nâng cao chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Kiên Giang ”.
Qua nghiên cứu đề tài và báo cáo trên tác giả đã hệ thống được một số vấn đề lý
luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì ? các
phương pháp tiếp cận PCI. Phân tích đánh giá thực trạng của điểm số PCI và các chỉ
số thành phần có so sánh đánh giá với cả nước, khu vực và các tỉnh lân cận, để biết
được vị trí của tỉnh đang nằm ở vị trí nào so với cả nước và khu vực. Đồng thời, các đề
tài trên đã nêu lên một số hạn chế tồn tại chung mà các tỉnh gặp phải và đề xuất giải
pháp cải thiện. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu chỉ dừng lại sự so sánh điểm số tổng
PCI và các chỉ số thành qua từng năm, rồi đánh giá kết luận đề xuất biện pháp xử lý
nên trong đánh giá và nhận định những ưu điểm và hạn chế còn chung chung chưa thật
sự cụ thể nên không thấy được trong các chỉ số hạn chế đang yếu kém ở các tiểu chỉ số
thành phần nào để có giải pháp khắc phục…Do đó, với nội dung nghiên cứu của đề tài
này tác giả muốn đánh giá được tình hình, xu hướng chung về chỉ số PCI của cả nước,
khu vực ĐBSCL và đối thủ có khả năng cạnh tranh trực tiếp với Kiên Giang qua điểm
3 số tổng hợp PCI, các chỉ số thành và tiểu thành phần của các chỉ số qua từng năm để

1.1.1. Lợi thế cạnh tranh:
Theo tự điển bách hoa toàn thư lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị
đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Khi nói đến
lợi thế cạnh tranh, là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp, một quốc gia đang có và có
thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Lợi thế cạnh tranh là một khái niệm vừa
có tính vi mô (cho doanh nghiệp), vừa có tính vĩ mô (ở cấp quốc gia). Ngoài ra còn
xuất hiện thuật ngữ lợi thế cạnh tranh bền vững có nghĩa là doanh nghiệp phải liên tục
cung cấp cho thị trường một giá trị đặc biệt mà không có đối thủ cạnh tranh nào có thể
cung cấp được.
1.1.2. Năng lực cạnh tranh:
Từ nhiều thập kỉ trước đây, thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh” đã trở nên khá
phổ biến đối với nhiều nhà kinh tế, hoạch định chính sách trên thế giới dưới nhiều
quan điểm nghiên cứu bằng cách sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Nhưng ở Việt Nam thuật ngữ này mới thực sự được biết đến trong vài năm gần đây.
Khái niệm “Năng lực cạnh tranh” được sử dụng trong các nghiên cứu ở nhiều phạm vi,
cấp độ khác nhau: toàn cầu, quốc gia, địa phương, doanh nghiệp, sản phẩm… Ở mỗi
cấp độ khác nhau thì năng lực cạnh tranh được hiểu theo theo cách khác nhau.
Có rất nhiều thuật ngữ khác nhau liên quan đến quá trình cạnh tranh giữa các
chủ thể được sử dụng song hành cùng với thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”
(Competitiveness) như: “Sức cạnh tranh” (Competitive Edge), “Khả năng cạnh tranh”
(Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh” (Competitive Advantage) và “Tính cạnh
tranh” (Competitivity). Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc
sử dụng những thuật ngữ này. Và trong thực tế, các thuật ngữ “Năng lực cạnh tranh”,
“Sức cạnh tranh” và “Khả năng cạnh tranh” đều được dùng là “Competitiveness”.
Theo quan điểm của K.Marx, “cạnh tranh” là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt
giữa các nhà TB nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo từ điển kinh doanh (1992) thì
5
gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức
6 sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc
nội trên đầu người theo thời gian”.
Lương Gia Cường (2003) cho rằng năng lực cạnh tranh quốc gia được định
nghĩa như sau: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt
được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội,
nâng cao đời sống của người dân”[3]
Theo đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia của diễn đàn kinh tế thế giới
(WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng
trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao
hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Đó là sự hiện diện của các ngành công
nghiệp tạo nên những ưu việt trong các ngành công nghiệp hiệu quả hơn, tiến nhanh
đến chi phí sản xuất hiệu quả. Là những nghành công nhiệp liên quan mang tính cạnh
tranh quốc tế có thể phối hợp và chia sẻ các hoạt động trong chuỗi mắc xích khi nó
cạnh tranh.
1.1.4. Năng lực cạnh tranh ngành
Theo M.E.Porter (1980) thì một ngành (sản phẩm hay dịch vụ) là một nhóm
doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm hay dịch vụ mà những sản phẩm hay dịch vụ
này cạnh tranh trực tiếp với nhau. Ngành còn được định nghĩa là một nhóm các công
ty chào bán một sản phẩm hay một danh mục sản phẩm có thể hoàn toàn thay thế
được.
Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của đạt năng suất cao, sử dụng
đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành. Trong cạnh tranh
ngành chủ thể cạnh tranh là ngành. Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một
ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn các
ngành khác trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

đồng thời hạ thấp chi phí và giảm giá cả.
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế
chứng minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong
còn yếu nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như
hiện nay.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực
lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm- dịch vụ hấp dẫn
người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến
vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
8 Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác định được
các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần
thực hiện việc đánh giá bằng cả định lượng và định tính. Các doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh ở các ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực
cạnh tranh khác nhau. Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng
lực cạnh tranh của một doanh nghiệp bao gồm : giá cả sản phẩm và dịch vụ; chất
lượng sản phẩm và bao gói; kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng, thông tin
và xúc tiến thương mại; năng lưc nghiên cứu và phát triển, thương hiệu và uy tín của
doanh nghiệp; trình độ lao động; thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng
trưởng thị phần, vị thế tài chính; năng lực tổ chức và quản trị doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh một hay nhiều sản phẩm dịch vụ
nên người ta còn phân biệt NLCT của DN với NLCT của sản phẩm dịch vụ
1.1.6. Năng lực cạnh tranh sản phẩm
Trong thực tế việc đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta chỉ mới
xem xét trên phương diện định tính. Điều này không tránh khỏi những cảm tính trong
đánh giá, do vậy không đảm bảo tính chính xác. Kết quả của việc đánh giá không
chính xác có thể ảnh hưởng không tốt đến các quyết định quản lý liên quan đến sản

sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Tuy nhiên, bất kỳ quốc gia, địa
phương nào cũng phải tìm lời giải đáp cho vấn đề nguồn lực cho đầu tư phát triển ở
đâu và cách thức huy động các nguồn lực ấy như thế nào. Tạo môi trường thuận lợi để
thu hút đầu tư và phát triển DN là lời giải đáp của mỗi chính phủ, chính quyền địa
phương. Khả năng của một địa phương cấp tỉnh trong thu hút các DN, các tổ chức và
cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định chính là năng
lực cạnh tranh của tỉnh đó. Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về
đầu tư và kinh doanh đối với các DN, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh
doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đó.
Cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và
cũng là cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt, đa dạng hơn thì trong phạm vi một quốc gia,
cạnh tranh giữa các tỉnh (hay vùng) có mức độ được hiểu mềm dẻo và linh hoạt hơn.
Đó là sự ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
trên cơ sở lợi thế của địa phương (vùng) đó sẵn có hoặc tự tạo ra như vị trí địa lý, tài
nguyên thiên nhiên phong phú hoặc chất lượng con người, cơ sở hạ tầng, chính sách
thu hút đầu tư Đan xen với sự ganh đua có tính chất hợp tác, liên kết cùng phát triển
dựa trên lợi thế có sẵn của nhau. Vì thế việc liên kết hợp tác giữa các địa phương nhằm
xoá bỏ giới hạn địa giới hành chính và phân chia các nguồn lực nhằm bổ sung và hỗ
trợ cho nhau để tăng cường năng lực cạnh tranh của các tỉnh
10 Như vậy, thực chất NLCT cấp tỉnh là khả năng ganh đua của các tỉnh nhằm thu
hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở lợi thế của địa phương trong mối
quan
hệ liên kết với những địa phương khác trong phạm vi quốc gia.
Như vậy, vai trò của
chính quyền địa phương là tạo môi trường thúc đẩy thu hút đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh. Vai trò ấy được xác định
trên các mặt sau: (1) Định hướng phát triển thông qua các quy hoạch, kế hoạch,

Nghiên cứu này tập trung vào quan hệ tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và
sự phát triển của tỉnh, thành đó. Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó đã trở thành
cơ sở khởi động một dự án nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn, nghiên cứu về sự
khác biệt giữa các tỉnh, thành. Dự án nghiên cứu thứ hai do VNCI đảm nhận. VNCI là
dự án phát triển kinh tế do Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ.
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam
(PCI) là kết quả hợp tác nghiên cứu giữa VNCI và VCCI. Chỉ số PCI được xây dựng
nhằm mục đích lý giải nguyên nhân tại sao trong cùng một nước, một số tỉnh, thành có
sự phát triển năng động của khu vự tư nhân, tạo ra việc làm và tăng trưởng kinh tế…
tốt hơn các tỉnh, thành khác. Bằng cách thực hiện điều tra mới đối với DN để tìm hiểu
đánh giá của các DN đối với môi trường kinh doanh ở tỉnh, thành; kết hợp dữ liệu
điều tra với các dữ liệu khác thu thập được từ các nguồn chính thức về các địa phương.
Năm 2005, chỉ số PCI được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông
và thu hút được sự quan tâm từ cộng đồng các DN, các nhà tài trợ cũng như chính
quyền địa phương, đồng thời cũng ghi nhận nhiều đóng góp ý kiến từ các chuyên gia
kinh tế trong và ngoài nước. Theo Báo cáo chi tiết chỉ số PCI năm 2005 do VCCI công
bố, chỉ số PCI được cấu thành từ 9 chỉ số thành phần, bao gồm: (1) Chi phí gia nhập
thị trường, (2) Tiếp cận đất đai, (3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin, (4) Chi phí
về thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước, (5) Chi phí không chính thức,
(6) Thực hiện chính sách của Nhà nước, (7) Ưu đãi đối với DNNN, (8) Tính năng
động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, (9) Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư
nhân.
Đến năm 2006, đã có sự thay đổi trong các chỉ số cấu thành nên chỉ số tổng hợp
PCI. Chỉ số thực hiện chính sách của Nhà nước được thay thế bằng hai chỉ số mới là:
Đào tạo lao động và Thiết chế pháp lý, hình thành nên 10 chỉ số thành phần. Nguyên
nhân của sự thay đổi này:
 Đào tạo lao động: trong nhiều năm qua, các DN liên tục phàn nàn về năng
lực yếu kém của lực lượng lao động. Các DN gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và
tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp. Chính vì
vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng

1.2.2.3. Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Kể từ khi công bố, PCI ngày càng được sử dụng như một công cụ quan trọng để
đo lường và đánh giá công tác quản lý, điều hành kinh tế của chính quyền 63 tỉnh,
thành phố ở Việt Nam dựa trên cảm nhận của khu vực kinh tế tư nhân. Những tỉnh có

Trích đoạn Các chỉ số và cách thức đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (Trích Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Kinh nghiệm của 1 số địa phương về cải thiện chỉ số PCI nhằm nâng Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội tỉnh Kiên Giang
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status