LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, bộ môn khoa Quốc Tế -
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt thời gian học tập tại Trường và thực hiện luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Trí Dũng người thầy đã
tận tình hướng dẫn và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt
quá trình thực hiện báo cáo.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới ban giám đốc Công ty cổ phần dược TW Mediplantex, DS.
Tăng Minh Sơn cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn
thành luận văn.
Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình đã luôn luôn giúp đỡ, động viên để
tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
MỤC LỤC
PHẦN THỨ NHẤT 4
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG ƯƠNG MEDIPLANTEX 4
CHƯƠNG 1 6
TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC 6
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH 6
1.1. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH 6
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành 6
1.1.2. CÁC KHÁI NIỆM VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 7
1.2. Các cấp năng lực cạnh tranh 8
1.2.1. Năng lực cạnh tranh sản phẩm 8
1.2.2. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 9
1.2.3. Năng lực cạnh tranh ngành 10
1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 10
TT 45
DANH MC BNG BIU
BNG
Biểu đồ 3.5: Doanh thu của Mediplantex và một số công ty cổ phần khác Error:
Reference source not found
Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ hạn dùng của sản phẩm của Mediplantex Error: Reference source
not found
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Với việc chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, Việt Nam đã từng bước
tạo lập một môi trường kinh doanh cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau. Cùng với việc tăng cường mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, đặc biệt với sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), cạnh tranh
ngày càng trở lên gay gắt cả trong nước và quốc tế. Nhờ có sự canh tranh mà các doanh
nghiệp cũng được nâng cao năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế. Cũng do cạnh tranh trong
nước và quốc tế ngày càng trở lên gay gắt, mà yêu cầu về nâng cao năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung đang là vấn đề bức xúc hiện nay.
Là một bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân, ngành công nghiệp dược Việt
nam cũng không nằm ngoài xu thế phát triển và hội nhập của nền kinh tế nước nhà.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp dược
Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể theo hướng công nghiệp hóa nhằm đảm bảo phát triển
vững chắc cả về số lượng và chất lượng, về cơ bản có thể đảm bảo cung ứng được đầy đủ nhu
cầu thuốc phục vụ cho công tác phòng bệnh và chữa bệnh của nhân dân góp phần vào sự
nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, từng bước chủ động hội nhập với thị
trường dược phẩm thế giới. Tuy nhiên trên thị trường dược phẩm hiện nay cũng đang chứng
kiến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp dược phẩm trong nước và các doanh nghiệp
dược phẩm nước ngoài. Trong đó, các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài đang tỏ ra có
nhiều ưu thế hơn với việc chiếm lĩnh gần như hoàn toàn phân khúc thuốc đặc trị và đang mở
rộng sang phân khúc thuốc phổ thông. Việc Việt Nam gia nhập WTO, một mặt vừa tạo ra
nhiều cơ hội, những mặt khác cũng đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp dược trong
nước khi phải cạnh tranh trên một sân chơi bình đẳng hơn.
Công ty cổ phần dược trung ương Mediplantex là một trong những doanh nghiệp
chuyên sản xuất và kinh doanh dược phẩm, kinh doanh dược liệu nguyên liệu hóa chất làm
Báo cáo tốt nghiệp ứng dụng lý thuyết về xây dưng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, trường hợp cụ thể của Công ty cổ phần Dược trung ương Mediplantex.
Thông qua Báo cáo này, doanh nghiệp có thể thấy được những ưu nhược điểm trong quá trình
xây dựng, củng cố và phát triển năng lực cạnh tranh trên thị trường dược phẩm Việt Nam
6. Hạn chế
Hạn chế về thời gian: Do báo cáo được viết trong thời gian ngắn, tác giả vừa làm việc,
nghiên cứu tại công ty nên phạm vi nghiên cứu còn hạn chế, mức độ đại diện của kết quả
nghiên cứu chỉ phù hợp với Công ty cổ phần Dược trung ương Mediplantex.
2
Nguồn số liệu: Do thị trường Dược tại Việt nam có nhiều cạnh tranh, nên việc thu thập
số liệu từ các Công ty Dược khác để làm số liệu so sánh chưa được đầy đủ.
7. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, biểu đồ và danh mục các tài liệu
tham khảo, Báo cáo tốt nghiệp gồm có 2 phần
Phần thứ nhất: Giới thiệu về Công ty cổ phần Dược trung ương Mediplantex
Phần thứ hai: Kết quả nghiên cứu với 3 chương.
Chương 1: Tổng qua cơ sở khoa học của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Một số giải pháp Cơ bản cho Công ty cổ phần Dược trung ương
Mediplantex
3
PHẦN THỨ NHẤT
GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TRUNG ƯƠNG MEDIPLANTEX
Cổ phần Dược Trung ương Mediplantex, với 28% vốn nhà nước. Công ty chính thức
hoạt động sang mô hình công ty cổ phần từ tháng 4/2005, với chức năng kinh doanh, sản xuất,
xuất nhập khẩu các mặt hàng dược phẩm, dược liệu, nguyên liệu hoá dược, tinh dầu, mỹ
phẩm, máy móc thiết bị, bao bì cao cấp ngành dược phẩm, mỹ phẩm.
Tầm nhìn
Trở thành một trong những công ty đầu ngành trong lĩnh vực sản xuất và phân phối
của hoạt động kinh doanh mang tính chất toàn cầu ngày càng cao. Xây dựng thương hiệu
Mediplantex trở thành thương hiệu nổi tiếng và được yêu thích.
Lĩnh vực kinh doanh
Lĩnh vực kinh doanh chuyên ngành:
Dược phẩm, mỹ phẩm, sản phẩm vệ sinh và thực phẩm dưỡng sinh, lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu làm thuốc, dược liệu, tinh dầu, hương liệu, phụ liệu, hóa chất (trừ hóa chất Nhà nước
cấm), chất màu phục vụ cho dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và công nghệ; xuất nhập khẩu các
mặt hàng Công ty kinh doanh; Mua bán máy móc, thiết bị y tế, máy móc, thiết bị bao bì phục vụ
cho sản xuất tân dược, thuốc y học cổ truyền, mỹ phẩm, thực phẩm bổ dưỡng; trồng cây dược liệu;
vacxin sinh phẩm y tế; dịch vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn, đào tạo huấn
luyện chuyên ngành y dược, doanh nghiệp sản xuất thuốc (Doanh nghiệp chỉ được kinh doanh khi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép): Phòng chẩn trị y học cổ truyền
Lĩnh vực kinh doanh khác
Kinh doanh bất động sản: Cho thuê văn phòng, nhà cửa, kho tàng; dịch vụ môi giới đầu tư,
môi giới thương mại và ủy thác xuất nhập khẩu: Sản xuất, mua bán đồ gia dụng, các mặt hàng điện
tử, điện lạnh, điện thoại và thiết bị linh kiện điện tử, điện lạnh, điện thoại; đại lý mua, đại lý bán, ký
gửi hàng hóa.
Phương châm hoạt động: “Vì sức khoẻ và vẻ đẹp con người”
5
PHẦN THỨ HAI
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
1.1. Năng lực cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành
Nền kinh tế thế giới ngày càng đi vào tình trạng cạnh tranh toàn diện, các rào cản
thương mại truyền thống dần được gỡ bỏ hoặc không còn tác dụng, các đối thủ cạnh tranh
mới nổi lên, và sự cạnh tranh toàn cầu trở nên gay gắt hơn.
Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một
phát triển kinh tế xã hội.
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong lĩnh
vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển
kinh tế. Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng. Người sản xuất phải
tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ
lệ tri thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng với thị hiếu của người tiêu
dùng. Cạnh tranh, làm cho người sản xuất năng động hơn, nhạy bén hơn, nắm bắt tốt hơn nhu
cầu của người tiêu dùng, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên
cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất,
trong quản lý sản xuất để nâng cao năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.
1.1.2. Các khái niệm về năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” có nguồn gốc la-tinh là competere, tức là cùng gặp nhau
tại một điểm, chỉ ra khả năng đương đầu với tình trạng cạnh tranh và ganh đua với người khác .
Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng kiểm soát các lợi thế tương đối (vượt trội)
so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh được sử dụng không chỉ
đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của các doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau
mà còn được sử dụng trong việc so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế.
Ngày nay, vấn đề năng lực cạnh tranh ngày càng được đặt ra như là một tiêu thức quan
1
Micheal Porter, “Lợi thế cạnh tranh: kỹ thuật phân tích ngành và cạnh tranh” NXB Thống
kê, 2008
7
trọng để xem xét các triển vọng phát triển của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các
quốc gia đang phát triển muốn hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Những năm gần đây, khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng được nhiều người quan
tâm, từ các nhà nghiên cứu, các chính trị gia đến các nhà quản lý chính quyền và giới doanh
nhân. Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này vẫn chưa được quan niệm và sử dụng một cách
thống nhất. Từ thực tế tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, năng lực cạnh tranh có thể
được định nghĩa như sau:
cùng loại khác. Mỗi sản phẩm do từng nhà sản xuất đưa ra thị trường sẽ được người tiêu dùng
đón nhận với các mức độ cao thấp khác nhau. Sự thừa nhận của người tiêu dùng thể hiện việc
qua việc mua hay không mua sản phẩm đó, là biểu hiện cuối cùng về năng lực cạnh tranh của
sản phẩm đó. Để được người tiêu dùng thừa nhận và đánh giá cao, mỗi sản phẩm hoặc dịch vụ
cần có lợi thế cạnh tranh so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại khác. Các lợi thế này có thể
là ưu thế về giá (giá bán thấp hơn) hoặc ưu thế về giá trị cho khách hàng (tạo sự khác biệt so
với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại, mang lại giá trị cao hơn cho khách hàng, và có thể bán
với giá cao hơn).
Năng lực cạnh tranh sản phẩm thường được nhận biết thông qua (i) đánh giá trực tiếp
từ thị trường (tăng trưởng doanh thu, thị phần), (ii) đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính
năng, chất lượng, giá cả, tiện ích, mẫu mã, vv) và (iii) đánh giá từ ý kiến của khách hàng (mức
độ thỏa mãn nhu cầu, mức độ nhận biết sản phẩm, mức độ trung thành với nhãn hiệu, vv).
1.2.2. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp
Năng cạnh tranh của một doanh nghiệp thể hiện khả năng của nó trong dài hạn. Một
doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh tốt khi nó đạt được các kết quả tốt hơn mức
trung bình. Như vậy, đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng cung cấp các sản
phẩm và dịch vụ hiệu quả hơn so với các đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá thông qua khả năng cạnh tranh
về giá và năng lực cạnh tranh ngoài giá (thị phần, chất lượng sản phẩm, năng suất, vv).
Đối với doanh nghiệp có tham gia hoạt động ngoại thương, việc đánh giá năng lực
cạnh tranh có thể thông qua tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ xuất khẩu (doanh thu xuất khẩu so với
tổng doanh thu), thị phần cho từng vùng hay thị phần tổng thể.
Vị thế trên thị trường quốc tế cũng là một thước đo trực tiếp năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thương mại, năng lực cạnh tranh có nghĩa là sự duy trì được
thành công trên thị trường quốc tế mà không cần có sự bảo hộ hoặc trợ cấp. Mặc dù chi phí
vận chuyển có thể cho phép các doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn tại thị trường trong nước,
nhưng năng lực cạnh tranh lại thường được tính đến nhiều hơn thông qua lợi thế có được nhờ
năng suất cao hơn.
Trong lĩnh vực phi thương mại, năng lực cạnh tranh là khả năng theo kịp hoặc vượt
qua doanh nghiệp tốt nhất trên thị trường về mặt chi phí và chất lượng của sản phẩm hay dịch
kiện kinh tế thị trường hiện đại, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần làm đảo bảo tính
bền vững, nghĩa là tính đến việc sử dụng các điều kiện sẵn có để duy trì và nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn.
1.3.1. Thị phần của doanh nghiệp
Thị phần của doanh nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp, quan trọng, phản ánh năng lực cạnh
tranh theo kết quả đầu ra của doanh nghiệp. Thi phần của năng lực cạnh tranh theo kết quả
đầu ra của doing nghiệp. Thị phần của doanh nghiệp càng lớn và ngược lại. Tiêu chí này
thường được đo bằng doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ của doanh nghiệp trong một giai
3
Garry D. SMITH, Danny R. ARNOLD, Bobby G. BIZZELL, "Chiến lược và sách lược kinh doanh", NXB
Thống kê, 2008.
4
Lê Thế Giới, Nguyễn Thanh Liêm và Trần Hữu Hải, “Quản trị chiến lược”, NXB Thống kê, 2009.
10
đoanh nhất định so với tổng doanh thu hay sản lượng tiêu thụ trên thị trường.
TPi=Di/D x 100%
Trong đó TPi: Thị phần doanh nghiệp i.
Di: Doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ của doanh nghiệp i
D: Tổng doanh thu hoặc doanh số tiêu thụ trên thị trường.
Để tính được sự biến chuyển của năng lực canh tranh theo thời gian, chỉ tiêu tốc độ
tăng trưởng thị phần cũng được xem xét đến, thường trong khoảng 3 – 5 năm
1.3.2. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Chỉ tiêu này được xác định dựa trên một số tiêu chí như:
Chất lượng của sản phẩm và bao gói: Đối với ngành dược, các doanh nghiệp thường
xuyên phải đổi mới và hoàn thiện về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, tạo được những nét độc
đáo riêng,
Chủng loại sản phẩm: Đó là danh mục các thuốc, hàm lượng , các dạng bào chế
Giá của sản phẩm: Chỉ tiêu này được xác định đủ sức mạnh cạnh tranh với giá cả cùng
loại hoặc tương đương của các nước khác, chi ít la đối thủ trong khu vực và những đối thủ
cạnh tranh với mình.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở qui mô vốn, khả năng huy động
vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính trong doanh nghiệp, …Việc sử dụng vốn có hiệu quả,
quay vòng vốn nhanh có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thành sản
phẩm. Việc huy động vốn kịp thời làm giảm đáp ứng vật tư, thuê công nhân, mua sắm thiết bị,
công nghệ.
1.3.7. Năng lực quản lý, lãnh đạo
Năng lực quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp là yếu tố quan trọng cấu thành năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp. Có tổ chức tốt doanh nghiệp sẽ làm tốt
Thể hiện qua:
Hệ thống tổ chức doanh nghiệp
Trình độ đội ngũ lãnh đạo.
1.3.8. Đánh giá tổng quan năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Đây là yếu tố mang tính tổng hợp các yếu tố đã trình bầy ở trên. Uy tín, danh tiếng của
doanh nghiệp đòi hỏi một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu chiến lược
đúng đắn của mình.
Ngoài tiêu chí trên còn còn có thể đánh giá “ lợi nhuận của doanh nghiệp “ ,”Lợi ích
người lao động “…, tùy thuộc vào doanh nghiệp cụ thể, ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh cà
thực trạng của doanh nghiệp.
Trên đây là chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung. Tích
hợp các tác nhân trên chính là xác định tổng nội lực của doanh nghiệp trên những thị trường
mục tiêu xác định với tập các đối thủ cạnh tranh trực tiếp xác định , từ đó vận dụng phương
pháp chuẩn, đối sách với kỹ thuật thang 5 điểm ( Trong đó:5-Hoàn toàn đồng ý; 4-Đồng ý; 3
- Lưỡng lự; 2 – Không đồng ý; 1- Hoàn toàn không đồng ý) để lập bảng câu hỏi đánh giá các
tham số quan trọng nhất, xác định cho điểm trình độ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
mỗi thông số đo cường độ tác động và ảnh hưởng có hệ số quan trọng đến năng lực canh tranh
tổng thể của doanh nghiệp khác.
12
1.4. Thực trạng năng lực cạnh tranh và định hướng phát triển ngành công nghiệp
dược Việt Nam
1.4.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Việt nam trên thế giới
Đức (5,4 điểm), Nhật (5,4 điểm), Phần Lan (5,4 điểm), Hà Lan (5,3 điểm), Đan Mạch (5,3
điểm) và Canada (5,3 điểm).
Năm ngoái, Thụy Sỹ cũng là quốc gia được WEF đánh giá là có năng lực cạnh tranh
cao nhất thế giới.
1.4.2. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dược Việt nam.
Sau hơn hai mươi năm đổi mới cùng nền kinh tế đất nước, ngành công nghiệp dược
Việt Nam đã và đang phát triển vững chắc cả về số lượng và chất lượng, về cơ bản có thể đảm
bảo cung ứng được đầy đủ nhu cầu thuốc phục vụ cho công tác phòng bệnh và chữa bệnh của
nhân dân.
Ba năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó
khăn cho ngành dược. Ngành dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh nền kinh tế
Việt Nam đang trên đà phát triển. Bên cạnh những khó khăn, thách thức về trình độ công
nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực, môi trường cạnh tranh… công nghiệp dược Việt Nam vẫn
có nhiều điều kiện thuận lợi để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong những năm tiếp theo.
Thị trường nội địa còn chưa được khai thác hết, trong khi nhu cầu chi tiêu cho dược phẩm
ngày càng tăng. Các doanh nghiệp dược trong nước đang tích cực đẩy mạnh đầu tư cho việc
sản xuất sản phẩm thay vì chỉ phân phối sản phẩm dược nhập từ nước ngoài như trước đây.
Phần lớn người dân Việt Nam tập trung ở nông thôn, thường có mức sống thấp, có nhu
cầu cao các loại thuốc có giá thành rẻ, đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dược
Việt Nam mở rộng thị trường. Hơn nữa, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao
hơn, tình trạng sức khỏe cũng được quan tâm nhiều hơn: Vì vậy nhu cầu sử dụng thuốc để
chăm sóc sức khỏe cũng tăng lên. Đây cũng là một trong những điều kiện thuận lợi để phát
triển ngành dược Việt Nam.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
5
, công nghiệp dược Việt Nam ở mức
5
Bộ Y Tế. Báo cáo về đẩy mạnh phát triển công nghiệp dược Việt nam Cơ hội, thách thức
và chiến lược phát triển giai đoạn năm 2011 -2020, tầm nhìn năm 2030
14
15
Bảng 1.1: Số liệu thống kê sản xuất, nhập khẩu thuốc qua các năm
Năm
Tổng trị giá tiền
thuốc sử dụng
(1.000USD)
Trị giá sản xuất
trong nước
(1.000USD)
Trị giá thuốc
nhập khẩu*
(1.000USD)
Bình quân tiền
thuốc đầu người
(USD)
2005 817.396 395.157 650.180 9,85
2006 956.353 475.403 710.000 11,23
2007 1.136.353 600.630 810.711 13,39
2008 1.425.657 715.435 923.288 16,45
2009 1.696.135 831.205 1.170.828 19,77
2010 1.913.661 919.039 1.252.572 22,25
(Nguồn: Hiệp hội sản xuất , kinh doanh dược Việt nam )
Nếu so sánh trị giá thuốc sản xuất trong nước giữa các năm, các số liệu trên thể hiện
sự tăng trưởng của ngành dược hằng năm, cụ thể:
- Năm 2006 đạt 475,403 triệu USD tăng 20% so với năm 2005
- Năm 2007 đạt 600,63 triệu USD tăng 26,34% so với năm 2006.
- Năm 2008 trị giá thuốc sản xuất trong nước đạt 715,435 triệu USD, tăng 19,11% so
với năm 2007, đáp ứng 50,18% nhu cầu thuốc sử dụng.
- Năm 2009 trị giá thuốc sản xuất trong nước đạt 831,205 triệu USD, tăng 16,18% so
với năm 2008, đáp ứng được 49,01% nhu cầu sử dụng thuốc.
11.23
0
5
10
15
20
25
93 94 95 96 97 98 99 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006* 2007 2008 2009 2010
Dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam vượt mức 2 tỉ USD vào năm 2011. Tốc độ
tăng trưởng trung bình từ hằng năm khoảng từ 17-19%.
Năng lực cạnh tranh của thuốc sản xuất trong nước
+ Chủng loại thuốc
Các thuốc sản xuất trong nước ngày càng đáp ứng được nhu cầu điều trị. Trong số
1500 hoạt chất có trong các thuốc đã đăng ký, số hoạt chất trong các thuốc sản xuất trong
nước cũng tăng. Thuốc sản xuất trong nước (công nghệ bào chế) của Việt Nam đã tiến bộ
đáng kể, có thể phủ được 27 nhóm tác dụng dược lý theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới,
đáp ứng được 234/314 hoạt chất trong. Danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam lần thứ V ban
hành kèm theo Quyết định số 17/2005/QĐ-BYT ngày 01/07/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngoài việc sản xuất thuốc generic, một số doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sản xuất các
nhóm thuốc đang tăng tỷ lệ sử dụng, thuốc chuyên khoa (như : thuốc tim mạch, tiểu đường,
thần kinh, nội tiết, ). Các dạng bào chế cũng được phát triển hơn (như : thuốc tác dụng kéo
dài, thuốc tiêm đông khô, thuốc sủi bọt, ).
Tuy nhiên việc đầu tư sản xuất của các doanh nghiệp trong nước vẫn còn trùng lắp,
chủ yếu sản xuất các loại thuốc thông thường mà chưa chú ý đầu tư sản xuất các loại thuốc có
dạng bào chế đặc biệt, thuốc chuyên khoa đặc trị. Thuốc sản xuất trong nước chủ yếu là các
nhóm hạ nhiệt giảm đau, kháng sinh, kháng viêm: Paracetamol, Amoxicillin, kháng sinh
nhóm cephalosporin thế hệ 1…. Một số nhóm thuốc trong nước hầu như chưa sản xuất được,
bao gồm: nhóm thuốc gây mê; nhóm thuốc giải độc đặc hiệu; nhóm thuốc chống ung thư và
tác động vào hệ thống miễn dịch; thuốc chống Parkinson; nhóm thuốc tác động lên quá trình
đông máu; chế phẩm máu; thuốc dùng chẩn đoán.
thuốc có dạng bào chế đặc biệt vẫn phải nhập khẩu nhiều.
Mặt khác nếu so sánh, có sự chênh lệch đáng kể giữa các doanh nghiệp sản xuất trong
nước so với các nhà sản xuất dược phẩm nước ngoài do mức đầu tư còn thấp; mặt bằng về
khoa học- phát triển- nghiên cứu còn hạn chế.
Do đó về cơ bản, có thể nói các doanh nghiệp dược phát triển một cách tự phát, thiếu định
hướng. Cơ cấu sản phẩm chưa hợp lý. Có những thuốc sản xuất thừa, trong khi nhiều chủng loại
thuốc cần thiết cho điều trị lại phải nhập từ nước ngoài. Nhiều doanh nghiệp có qui mô nhỏ, sản xuất
còn manh mún, chồng chéo. Đa số các mặt hàng đều là thuốc generic, hàm lượng kỹ thuật thấp. Cơ
cấu đầu tư trùng lắp, chưa chú ý đầu tư các thuốc chuyên khoa đặc trị với dạng bào chế đặc biệt chủ
yếu tập trung các loại thuốc thông thường và “nhái” mẫu mã gây hiện đạp giá trên thị trường.
7
Hiệp Hội Sản Xuất Dược Việt nam. Báo cáoTổng quan về công nghiệp Dược Việt nam Cơ
hội, thách thức và chiến lược phát triển giai đoạn năm 2011 -2020, tầm nhìn năm 2030
18
Đây là thách thức không nhỏ đối với công nghiệp dược Việt Nam dẫn đến nguy cơ bị
thu hẹp sản xuất, nhiều doanh nghiệp đang xu hướng chuyển đổi sang lĩnh vực khác như sản
xuất thực phẩm chức năng. Theo số liệu thống kê, về cơ cấu đầu tư dây chuyền sản xuất thuốc
của các doanh nghiệp đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP, tỷ lệ dây truyền thuốc viên, bột non-beta
lactam; dây truyền thuốc kem mỡ; dây truyền thuốc nước; dây truyền nang mềm; tỷ lệ lớn trên
tổng số dây truyền sản xuất.
Sự phân bố các nhà máy sản xuất không đồng đều giữa các vùng: một số vùng như
vùng Tây Bắc không có nhà máy GMP, các vùng Tây nguyên, Đông Bắc chỉ có một nhà máy
đạt GMP.
+ Chất lượng Thuốc
Từ năm 1996, Bộ Y tế quyết định triển khai Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) và
các nguyên tắc GPs khác theo hệ thống quản lý chất lượng toàn diện, tình hình chất lượng
thuốc sản xuất trong nước đã được nâng lên một bước mới. Hằng năm, hệ thống kiểm tra chất
lượng từ trung ương đến địa phương đã lấy hàng chục ngàn mẫu thuốc để kiểm tra, giám sát
chất lượng thuốc cho thấy tỷ lệ thuốc giả và thuốc kém chất lượng giảm đi đảng kể, trong
nhiều năm duy trì ở mức thấp dưới 0,1%. Thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng chủ yếu tập
cho vic thnh lp cỏc trung tõm BA, BE cỏc doanh nghip dc ó v ang trin khai nghiờn cu
sinh kh dng v ỏnh giỏ tng ng sinh hc ca thuc sn xut trong nc.
Giỏ thuc
Nhỡn chung, trờn th trng thuc, thuc do cỏc cụng ty trong nc sn xut cú giỏ thnh
r hn so vi thuc nc ngoi cựng chng loi v cht lng tng ng v cú giỏ thnh r hn
thuc nhp ngoi 30 40 %. c bit cú thuc nhp ngoi t hn thuc Vit nam sn xut 5 -6
ln. Nguyờn nhõn khin cho thuc sn xut trong nc sn xut cú giỏ thnh r hn thuc nhp
ngoi cựng loi ch yu l do tin cụng lao ng Vit nam thp, thuục sn xut ti ch nờn tit
kim c chi phớ vn chuyn, doanh nghip c sn xut cỏc thuc bt chc hay thuc
nhỏi . Vi giỏ thnh r, thuc so cỏc xi nghip dc phm Vit nam sn xut phự hp vi thu
nhp thp ca ngi Vit nam, nht l nhng ngi sng nụng thụn min nỳi. Giỏ r m cht
lng thuc li ang c nõng cao tng bc nờn thuc do cỏc cụng ty dc phm trong nc
sn sut ang dn ly c lũng tin ca ngi tiờu dựng trong nc.
H thng phõn phi
i vi ngnh dc, h thng phõn phi co nhng c trng riờng so vi cỏc ngnh sn
xut khỏc. Hai kờnh phõn phi ch yu l bnh vin v nh thuc , h thng iu tr bao gm cỏc
bnh vin v cỏc c s iu tr cỏc cp
8
Hip Hi Sn Xut Dc Vit nam. Bỏo cỏoTng quan v cụng nghip Dc Vit nam C
hi, thỏch thc v chin lc phỏt trin giai on nm 2011 -2020, tm nhỡn nm 2030
20
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Công ty Cổ phần dược trung ương Mediplantex
(Tên giao dịch quốc tế: Medoplantex Pharmaceutical mational Joint Stock Company.
Địa chỉ trụ sở chính: 358 đường giải phóng, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà nội.)
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian:15/9 đên 19/12/ 2011
- Địa điểm: Công Ty cổ phần Dược trung ương Mediplantex
- Ki: Hệ số quan trọng của tham số i
- Trong đó ∑ Ki = 1.
- n là số chỉ tiêu lựa chọn
21