BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
PHAN ĐÌNH HIỀN
NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CẤP TỈNH (PCI) CỦA TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nghệ An, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
iLỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh ( PCI) của tỉnh Nghệ An” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và chưa
được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện
luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong nghiên cứu này đều được
ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Phan Đình Hiền iiLỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
tỉnh ( PCI) của tỉnh Nghệ An” , tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô
giáo Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức
bổ ích trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS. Lê Kim Long,
người đã nhịêt tình chỉ dẫn, định hướng, truyền thụ kiến thức trong suốt quá trình học
1.1.4. Năng lực cạnh tranh địa phương 7
1.1.5. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 8
1.1.6. Năng lực cạnh tranh sản phẩm 9
1.1.7. Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ 10
1.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 10
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của PCI 10
1.2.2. Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 13
1.2.3. Các chỉ số thành phần và phương pháp đo lường chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh (PCI) 15
1.2.3.1. Thành phần 1 - Chi phí gia nhập thị trường 15
1.2.3.2. Thành phần 2 - Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất: 16
1.2.3.3. Thành phần3 - Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 18
1.2.3.4. Thành phần 4 - Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà
nước 19
1.2.3.5. Thành phần 5 - Chi phí không chính thức 20
1.2.3.6. Thành phần 6 - Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 21 iv 1.2.3.7. Thành phần 7 - Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 21
1.2.3.8. Thành phần 8 - Đào tạo lao động 22
1.2.3.9. Thành phần 9 - Thiết chế pháp lý 23
1.2.3.10. Thành phần 10 – Cạnh tranh bình đẳng 24
1.2.4. Phương pháp xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): 25
1.2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh: 30
1.2.5.1. Nhóm nhân tố chủ quan 30
1.2.5.2. Nhóm các nhân tố khách quan 31
1.2.6. Ưu điểm và hạn chế của chỉ số PCI 33
3.1. Định hướng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An giai đoạn 2013 -2020: 72
3.1.1. Quan điểm phát triển: 72
3.1.2. Mục tiêu phát triển 72
3.1.3. Các khâu đột phá theo ngành và lĩnh vực 75
3.2. Quan điểm, định hướng và mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tỉnh
Nghệ An đến năm 2020 75
3.3. Các giải pháp nâng cao chỉ số PCI Nghệ An 77
3.3.1. Các giải pháp chung 77
3.3.2. Các giải pháp cụ thể đối với cải thiện các chỉ số thành phần 82
3.3.2.1. Chi phí gia nhập thị trường: 82
3.3.2.2. Tiếp cận đất đai 83
3.3.2.3. Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 85
3.3.2.4. Chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước: 86
3.3.2.5. Chi phí không chính thức 86
3.3.2.6. Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: 87
3.3.2.7. Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 87
3.3.2.8. Đào tạo lao động 88
3.3.2.9. Thiết chế pháp lý 89
3.3.2.10. Chỉ số cạnh tranh bình đẳng 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
viDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AFTA Khu vực mậu dịch tự do cộng đồng các nước Đông Nam Á
APEC Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN Cộng đồng các nước Đông Nam Á
KT-XH Kinh tê- Xã hội
HTX Hợt tác xã
KH-ĐT Kê hoạch – Đầu tư
viiiDANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: Trọng số của các chỉ số thành phần 29
Bảng 1.2: Bảng điểm của 4 tỉnh năm 2006 - 2011 38
Bảng 2.1: Xếp hạng PCI Nghệ An so với cả nước và khu vực 46
Bảng 2.2: Vị trí PCI của tỉnh Nghệ An so với cả nước và các tỉnh trong khu vực 47
Bảng 2.3: So sánh chỉ số thành phần PCI 2013 giữa các tỉnh/ thành trong khu vực 48
Bảng 2.4: Các chỉ số thành phần của PCI Nghệ An qua các năm 49
Bảng 2.5: Bảng tổng hợp chỉ số pci nghệ an giai đoạn 2011 – 2013 so sánh với cả
nước và các tỉnh bắc trung bộ 50
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát chỉ số chi phí gia nhập thị trường năm 2013 52
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát chỉ số tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất năm
2013 55
Bảng 2.8: Kết quả khảo sát chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin năm 2013 57
Bảng 2.9: Kết quả khảo sát chỉ số chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà
nước năm 2013 60
Bảng 2.10: Kết quả khảo sát chỉ số chi phí không chính thức năm 2013 61
Bảng 2.11: Kết quả khảo sát chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh,
năm 2013 62
trường mục tiêu của mình.
Sự phát triển kinh tế xã hội các tỉnh trong những năm qua cũng cho thấy chính
quyền cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và địa
phương. Chính quyền đã đang và cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận
lợi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư ở địa phương. Nhiều địa phương đã thành công
trong việc thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và cải thiện đời sống vật chất tinh
thần cho người dân. Những thành công đó đã khiến các nhà nghiên cứu, các tổ chức
trong và ngoài nước quan tâm hơn dến vai trò cấp tỉnh mà cụ thể hơn là cạnh tranh cấp
tỉnh ở Việt Nam.
Năng lực cạnh tranh (NLCT) được tạo nên từ tập hợp nhiều yếu tố khác nhau, tác
động đa chiều, đan xen và ảnh hưởng qua lại rất phức tạp. Câu hỏi đặt ra là những yếu
tố nào tạo nên sự thành công ở một số địa phương, trong khi một số địa phương khác
lại thất bại trong việc thu hút vốn đầu tư của khu vực tư nhân. Các nhà nghiên cứu
kinh tế, các tổ chức trong và ngoài nước quan tâm đến sự khác nhau về hiệu quả điều
hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh ở Việt Nam. Từ đó, chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh (PCI – Provincial Competitiveness Index) được xây dựng để đánh giá năng lực
điều hành kinh tế của chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm
vi cả nước.
Nghệ An là một tỉnh nằm ở vị trí trung tâm của vùng Bắc Trung bộ, với diện tích
tự nhiên lớn nhất cả nước. Hệ thống giao thông đầy đủ các loại hình: đường bộ, đường 2không, đường sắt, đường biển; có cửa khẩu quốc tế Nâm Cắm, cửa khẩu Thanh Thủy,
có tuyến hành lang phía Tây thông thương với Lào mở ra nhiều cơ hội giao thương
mới. Về lợi thế so sánh, Nghệ An sẵn có nhiều tiềm năng có biển, đảo, khóang sản,
đồng bằng, rừng, núi, biên giới trên đất liền… là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong
phú được thừa hưởng để phát triển kinh tế. Trong thời gian qua, chính quyền tỉnh
cho công việc hiện tại và tương lai của mình với mong muốn tỉnh Nghệ An sẽ phát
triển nhanh và bền vững, đúng với tiềm năng và thế mạnh của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến chỉ số năng lực
cạnh tranh (PCI) tỉnh Nghệ An giai đoạn 2005 - 2013.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản, khả thi nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh
tranh (PCI) tỉnh Nghệ An đến năm 2020.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Địa phương được chọn nghiên cứu là tỉnh Nghệ An, có xem xét với các quan hệ
với một số tỉnh ở Việt Nam.
Luận văn sử dụng những số liệu PCI từ năm 2005-2013.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Quy trình nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước như sau:
- Phương án tiếp cận và phân tích hệ thống: Sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu
vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, các chỉ số, tiêu chí cấu thành và các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số
năng lực cạnh tranh cấp tỉnh , …
- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh: các phương pháp này sử dụng chủ
yếu trong việc nghiên cứu bài học, kinh nghiệm, phân tích đánh giá thực trạng chỉ số
NLCT của tỉnh Nghệ An, đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị liên quan đến nâng
cao chỉ số NLCT tỉnh Nghệ An.
5. Đóng góp của Luận văn:
Về mặt lý thuyết: tác giả đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về
cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là gì? Chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh, các chỉ số thành phần, phương pháp tỉnh toán và tổng hợp các chỉ
số thành phần thành chỉ số tổng hợp PCI được đề xuất bởi VCCI.
Về mặt thực tiễn: Tác giả đã học hỏi và kế thừa cách tiếp cận phân tích đánh giá
thực trạng của điểm số PCI và các chỉ số thành phần có so sánh đánh giá với cả nước,
khu vực và các tỉnh lân cận, để biết được vị trí của tỉnh đang nằm ở vị trí nào so với cả
Edge), “Khả năng cạnh tranh” (Competitive Capacity), “Lợi thế cạnh tranh”
(Competitive Advantage) và “Tính cạnh tranh” (Competitivity). Cho đến nay vẫn chưa
có sự thống nhất trong việc sử dụng những thuật ngữ này.
Theo quan điểm của K.Marx, “cạnh tranh” là “sự ganh đua đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản
năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là “sự ganh
đua, kinh địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại
tài nguyên sản xuất hoặc cùng một nhóm khách hàng về phía mình”. Khái quát lại hệ
thống lý thuyết về cạnh tranh cho thấy, cạnh tranh là một khái niệm có nhiều cách hiểu
khác nhau, là một phạm trù rất rộng và mang tính lâu dài. Khái niệm cạnh tranh được
sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, ngành, địa phương hoặc quốc gia…, và chỉ
khác nhau ở mục tiêu được đặt ra là ở quy mô doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia.
Trong khi đối với một doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận
cao thì đối với địa phương hay quốc gia, mục tiêu là tạo việc làm, nâng cao mức sống
và phúc lợi cho nhân dân. Tóm lại cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể
cạnh tranh ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục
tiêu của mình.
Liên quan đến quá trình cạnh tranh, làm thế nào để hình thành được năng lực
cạnh tranh thu hút sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách, chính phủ quốc gia,
các doanh nhân và cả các nhà nghiên cứu. Từ khái niệm cạnh tranh có thể hiểu rộng ra
năng lực cạnh tranh là tập hợp những điều kiện vốn có hoặc khả năng đủ để giành
thắng lợi, tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay 6tổ chức, doanh nghiệp, địa phương hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu
nào đó.
7tranh là ngành. Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng ngành
đó tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn các ngành khác trong điều kiện cạnh tranh và
hội nhập quốc tế.
Có rất nhiều cách để phân tích năng lực cạnh tranh của ngành, tác giả
M.E.Porter (1980) đưa ra cách phân tích năng lực cạnh tranh dựa vào phân tích cấu
trúc trong quản trị chiến lược. Theo đó năng lực cạnh tranh ngành bị ảnh hưởng bởi
các nhóm nhân tố: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển
khoa học - công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý
ngành; thể chế kinh tế - xã hội [1, 7].
1.1.4. Năng lực cạnh tranh địa phương
Tăng trưởng và phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia, mọi
địa phương. Để thực hiện mục tiêu ấy, mỗi quốc gia, địa phương sẽ có những chính
sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Bất kỳ địa phương nào cũng
phải tìm lời giải đáp cho vấn đề là nguồn lực cho đầu tư phát triển ở đâu và cách thức
huy động các nguồn lực ấy như thế nào. Tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư và
phát triển DN là lời giải đáp cho mỗi chính quyền địa phương. “Khả năng một địa
phương cấp tỉnh thu hút các DN, các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã
hội theo những mục tiêu đã định chính là năng lực cạnh tranh của tỉnh đó” [7,16-17].
Do vậy, một tỉnh có NLCT cao thể hiện ở sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với
các DN, nhà đầu tư hay là đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội tỉnh đó.
Cạnh tranh giữa các quốc gia nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội là
cấp độ cạnh tranh có tính gay gắt, đa dạng hơn trong phạm vi một quốc gia. Cạnh
tranh giữa các tỉnh trong một quốc gia có mức độ mềm dẻo và linh hoạt hơn. Đó là sự
ganh đua giữa các tỉnh (vùng) nhằm thu hút đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở
tạo ra và duy trì lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị phần, tạo thu nhập cao và phát triển
bền vững.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây
là yếu tố nội lực của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính một cách riêng biệt bằng
các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…mà cần
đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị
trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp
được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh
tranh. Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp
phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối thủ của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp
có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được
khách hàng của đối thủ cạnh tranh [5,6].
Thực tế cho thấy, không có một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ
tất cả những yêu cầu của khách hàng. Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này
và hạn chế về mặt khác. Nhưng không phải vì thế mà các doanh nghiệp không thể tạo 9dựng được lợi thế cạnh tranh cho riêng mình. Doanh nghiệp có thể thông qua việc tạo
ra sự khác biệt sản phẩm và dịch vụ, thỏa mãn được thị hiếu khách hàng bằng những
cách thức mà đối thủ cạnh tranh không thể thực hiện hoặc bằng cách đi trước đón đầu,
tạo ra nhu cầu mới cho khách hàng, tận dụng những nguồn lực có sẵn để tăng giá trị
cho khách hàng đồng thời hạ thấp chi phí và giảm giá cả.
Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong điều
kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực tế chứng
minh một số doanh nghiệp rất nhỏ, không có lợi thế nội tại, thực lực bên trong còn yếu
nhưng vẫn tồn tại và phát triển trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt như hiện nay.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng thực
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được tạo ra từ năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Sẽ không có NLCT của sản phẩm cao trong khi NLCT của bản thân doanh
nghiệp thấp. Điều này cho thấy mối quan hệ giữa NLCT DN ảnh hưởng cơ bản và lâu
dài đến NLCT sản phẩm [6].
1.1.7. Mối quan hệ năng lực cạnh tranh giữa các cấp độ
Khi nói đến năng lực cạnh tranh, các nhà nghiên cứu thường xem xét dưới các
cấp độ như: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của địa phương,
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp/ngành, năng lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch
vụ. Giữa các cấp độ này đều có mối quan hệ hai chiều tác động lẫn nhau rất mật thiết,
tạo điều kiện cho nhau hay chế định nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Năng lực cạnh tranh quốc gia hay của địa phương có thể tạo cơ hội thuận lợi mở
đường cho DN khai thác điểm mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngược lại, việc
nâng cao năng lực cạnh tranh của DN sẽ góp phần quan trọng vào việc bảo đảm tính
bền vững của năng lực cạnh tranh quốc gia và địa phương.
Một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh quốc gia hay địa phương cao đòi hỏi
phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao. Tương tự, quan hệ giữa năng
lực cạnh tranh của sản phẩm/dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng
vậy. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các
sản phẩm/dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
1.2. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của PCI
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay gọi tắt là PCI (Provinvial
Competitiveness Index) là chỉ số dùng để đo lường và xếp hạng công tác điều hành
kinh tế của các tỉnh đối với môi trường kinh doanh để thúc đẩy phát triển khu vực kinh
tế tư nhân thông qua cảm nhận của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. PCI được
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chính thức từ năm
2005. Tuy nhiên, việc đánh giá và xếp hạng về PCI cho tất cả 64 tỉnh, thành phố trong
cả nước chỉ được tiến hành hàng năm từ năm 2006 [7,17].
Nguyên nhân của sự thay đổi này:
Đào tạo lao động: trong nhiều năm qua, các DN liên tục phàn nàn về năng
lực yếu kém của lực lượng lao động. Các DN gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và
tuyển dụng lao động đã qua đào tạo chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp. Chính vì
vậy, việc chính quyền địa phương tập trung vào việc nâng cao chất lượng lực lượng 12lao động địa phương sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với môi trường kinh doanh
trên địa bàn.
Thiết chế pháp lý: việc phát triển pháp luật và giải quyết các tranh chấp
một cách chính quy luôn là một mắt xích quan trọng trong quá trình cải cách, chuyển
đổi ở Việt Nam. Tăng cường thể chế cho các cơ quan tư pháp và tòa án địa phương trở
nên cấp thiết hơn khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập WTO. Ngoài ra, có rất ít DN thực sự
hiểu biết một cách thấu đáo về các trình tự, thủ tục pháp lý để có thể phân biệt rạch ròi,
chi tiết các thiết chế pháp lý khác nhau.
Đến năm 2009, khi quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
diễn ra một cách mạnh mẽ, ảnh hưởng của các DNNN không còn tác động mạnh đến
khu vực kinh tế tư nhân, nhóm nghiên cứu của VCCI đã bỏ chỉ số Ưu đãi đối với
DNNN và đổi tên chỉ số Chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân thành Dịch vụ
hỗ trợ DN [12]. Thông qua việc đối thoại với các lãnh đạo tỉnh, doanh nghiệp, đại diện
các hiệp hội và các chuyên gia nghiên cứu cho thấy nên bổ sung chỉ số này vào các chỉ
số thành phần. Tất cả các chuyên gia đều đồng tình với quan điểm là các dịch vụ hỗ trợ
DN có vai trò then chốt để các DN thành công trong hoạt động kinh doanh. Tại thời
điểm này, những đơn vị cung cấp dịch vụ hỗ trợ tư nhân như: các công ty tư vấn, công
ty kế toán, tư vấn chiến lược, và các luật sư vẫn còn “xa lạ” đối với số đông các DN
Việt Nam và cũng chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh. Trong khi đó, các DN có nhu cầu sử dụng các dịch vụ hỗ trợ này nhưng lại thiếu
phương nhận biết được đâu là điểm mạnh và điểm yếu của địa phương mình, từ đó đề
ra hướng giải quyết nhằm phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu, đưa kinh tế địa
phương phát triển [8-15].
1.2.2. Vai trò của chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI
Kể từ khi công bố, PCI ngày càng được sử dụng như một công cụ quan trọng để
đo lường và đánh giá công tác quản lý, điều hành kinh tế của chính quyền 63 tỉnh,
thành phố ở Việt Nam dựa trên cảm nhận của khu vực kinh tế tư nhân. Những tỉnh có
công tác điều hành tốt hơn thì sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực sẵn có và đạt được
mức phúc lợi từ kinh tế cao hơn [7,17].
Trên thực tế, kết quả điều tra PCI đã được nhiều tổ chức và cá nhân đón nhận,
vận dụng sáng tạo vào thực tiễn và đời sống:
- Ở góc độ chính quyền địa phương: PCI đã và đang được sử dụng để nhận diện
điểm mạnh, điểm yếu trong môi trường kinh doanh của địa phương mình, tìm hiểu và
học hỏi kinh nghiệm từ các địa phương tốt hơn, giám sát việc thực hiện công tác quán
lý điều hành của bộ máy hành chính, từ đó đưa ra chính sách phù hợp nhằm cải thiện
chất lượng điều hành kinh tế. PCI còn là thước đo để đánh giá, so sánh các nỗ lực và
tiến bộ của từng tỉnh so với các tỉnh, thành khác. Các nhà lãnh đạo cũng có thể sử
dụng dữ liệu PCI để đánh giá các thay đổi chính sách và đo lường trực tiếp tác động
các chính sách này. 14Điều tra PCI cũng cung cấp các thông tin quan trọng về tác động của những sáng
kiến cải cách ở cấp trung ương và địa phương, trong đó có Đề án Đơn giản hóa thủ tục
hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước (Đề án 30) do Thủ tướng Chính phủ chỉ
đạo là nỗ lực cải cách thể chế mang tính đột phá tại Việt Nam giúp đẩy nhanh quá
trình đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp.
Chỉ số PCI cũng góp phần hỗ trợ quá trình phân cấp quản lý hiện nay bằng việc
Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, chính sách công nghiệp, xóa đói giảm nghèo, kể
cả vai trò của Quốc hội trong hoạch định chính sách.
1.2.3. Các chỉ số thành phần và phương pháp đo lường chỉ số năng lực cạnh tranh
cấp tỉnh (PCI)
Có nhiều cách để phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư cấp
tỉnh, trong đó có cách phân loại theo nhóm yếu tố truyền thống (như điều kiện tự nhiên
- địa lý, xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, quy mô thị trường…) và nhóm yếu tố nguồn
lực mềm bao gồm những khía cạnh quan trọng khác nhau của môi trường kinh doanh
cấp tỉnh, những khía cạnh này chịu tác động trực tiếp từ thái độ và hành động của
chính quyền cấp tỉnh.
Nhóm yếu tố truyền thống là những nhân tố căn bản, quan trọng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh nhưng rất khó hoặc thậm chí không đạt được trong thời gian ngắn.
Nhóm yếu tố nguồn lực mềm là nhân tố quyết định đến sự hấp dẫn đầu tư và phát triển
sản xuất kinh doanh của DN. Vì vậy, NLCT cấp tỉnh được xác định theo các tiêu chí
xác định khả năng của nguồn lực mềm và chỉ số PCI hiện nay được cấu thành từ hệ
thống bao gồm 10 chỉ số thành phần sau:
(1) Chi phí gia nhập thị trường
(2) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin
(4) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước
(5) Chi phí không chính thức
(6) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh
(7) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
(8) Đào tạo lao động
(9) Thiết chế pháp lý
(10) Cạnh tranh bình đẳng (mới được bổ sung bắt đầu tư năm 2013)
1.2.3.1. Thành phần 1 - Chi phí gia nhập thị trường
Đây là chỉ số thành phần xác định về thời gian hoàn thành các thủ tục và giấy tờ
cần thiết để DN chính thức đi vào hoạt động. Chỉ số này nhằm đánh giá sự khác biệt