công tác quản trị hàng tồn kho tại công ty tnhh thương mại – tài chính hải âu - Pdf 21

Chuyên đề tốt nghiệp 1 Học viện Ngân Hàng
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể tồn tại và phát triển mỗi đơn vị sản
xuất kinh doanh phải đảm bảo tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
và có lợi nhuận. Muốn thực hiện được điều đó các doanh nghiệp sản xuất phải quan
tâm đến tất cả các khâu nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của xã hội như chất lượng
sản phẩm cao, giá thành hạ, góp phần thúc đẩy vòng quay của vốn, đảm bảo sự phát
triển của doanh nghiệp trong đó có hoạt động quản lý hàng tồn kho.
Quản lý hàng tồn kho là một công việc khá phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý
doanh nghiệp phải biết vận dụng sáng tạo các phương pháp quản lý vào thực tiễn
hoạt động của doanh nghiệp mình. Đồng thời, hàng tồn kho lại bao gồm rất nhiều
thành phần với đặc điểm khác nhau, mỗi thành phần lại có độ tương thích khác
nhau với các phương thức quản lý đó. Vì thế, chúng ta không thể coi nhẹ hoạt động
này trong doanh nghiệp.
Với tầm quan trọng đó của quản lý hàng tồn kho em đã chọn đề tài “Công tác
quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Thương mại – Tài chính Hải Âu ” cho
chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Hy vọng bài viết này sẽ góp ích phần nào
vào việc hoàn thiện công tác quản lý hàng tồn kho tại Công ty TNHH Thương mại –
Tài chính Hải Âu và là tài liệu tham khảo cho các đối tượng quan tâm.
2. Mục tiêu của đề tài
Chuyên đề hệ thống hóa lý luận về hoạt động quản lý hàng tồn kho trong một
doanh nghiệp. Dựa trên nền tảng cơ bản đó, chuyên đề nghiên cứu thực trạng công
tác quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Thương mại – Tài chính Hải Âu, đánh
giá những thành công cũng như những tồn tại của Công ty trong quá trình thực hiện
công tác này.
Từ đó chuyên đề đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác
quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Thương mại – Tài chính Hải Âu.
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 2 Học viện Ngân Hàng
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

tương lai. Bất kì lúc nào mà ở đầu vào hay đầu ra của một doanh nghiệp có các
nguồn không sử dụng ngay khi nó sẵn sàng, tồn kho sẽ xuất hiện.
Tuỳ từng loại hình doanh nghiệp, các dạng hàng tồn kho sẽ khác nhau và nội
dung hoạch định, kiểm soát hàng tồn kho cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp làm công tác dịch vụ, sản phẩm của họ là vô hình như
dịch vụ của các công ty tư vấn, các công ty giải trí… thì hàng tồn kho chủ yếu là các
dụng cụ, phụ tùng và phương tiện vật chất – kĩ thuật dùng vào hoạt động của họ.
Đối với lĩnh vực thương mại, doanh nghiệp mua hàng để bán kiếm lời, hàng
tồn kho của họ chủ yếu là hàng mua về và hàng chuẩn bị đến tay người tiêu dùng.
Trong lĩnh vực này, doanh nghiệp hầu như không có dự trữ là bán thành phẩm trên
dây chuyền như trong lĩnh vực sản xuất.
Đối với lĩnh vực sản xuất chế tạo, sản phẩm của họ phải trải qua một quá trình
chế biến lâu dài để biến đầu vào là nguyên liệu thành sản phẩm làm ra cuối cùng. Vì
thế hàng tồn kho bao gồm hầu hết các loại, từ nguyên vật liệu, đến bán thành phẩm
trên dây chuyền và bán thành phẩm cuối cùng trước khi đến tay người tiêu dùng.
1
Chuẩn mực kế toán số 02 theo Quyết định số 149/2001QĐ-BTC
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 4 Học viện Ngân Hàng
1.1.1.2. Vai trò của hàng tồn kho trong doanh nghiệp
 Hàng tồn kho thường chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng số tài sản lưu động
của một doanh nghiệp và rất dễ bị xảy ra các sai sót hoặc gian lận lớn trong hoạt
động quản lý. Mỗi một doanh nghiệp sẽ lựa chọn các phương pháp khác nhau để
định giá hàng tồn kho cũng như các mô hình dự trữ phù hợp với doanh nghiệp
mình. Vì mỗi một phương pháp, mô hình khác nhau sẽ đem lại những kết quả khác
nhau nên yêu cầu đặt ra với các doanh nghiệp là phải đảm bảo tính thống nhất trong
việc sử dụng các phương pháp định giá cũng như mô hình dự trữ giữa các kì, các
năm tài chính;
 Giá trị hàng tồn kho ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán và do vậy có
ảnh hưởng trọng yếu tới lợi nhuận thuần trong năm;

sản phẩm dở dang sẽ càng nhiều.
 Thành phẩm: bao gồm thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi đi bán. Tồn
kho thành phẩm luôn tồn tại trong một doanh nghiệp tại một thời kì nhất định. Sau khi
hoàn thành các công đoạn sản xuất, hầu như tất cả các doanh nghiệp đều chưa thể tiêu
thụ hết ngay các sản phẩm của mình. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng này.
Để tiêu thụ sản phẩm có thể cần phải sản xuất đủ cả lô hàng mới được xuất kho, có “độ
trễ” nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, quy trình chế tạo nhiều công đoạn tốn nhiều
thời gian hoặc doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng mang tính thời vụ…
Ngoài ra, hàng tồn kho có thể bao gồm một số loại khác như:
 Hàng hoá mua về để bán (thường xuất hiện trong các doanh nghiệp thương
mại) bao gồm: Hàng hoá tồn kho, hàng mua đang đi trên đường, hàng gửi đi bán,
hàng hóa gửi đi gia công chế biến;
 Công cụ, dụng cụ tồn kho, gửi đi gia công chế biến và đã mua đang đi trên
đường.
2
Trên đây là cách phân loại hàng tồn kho theo các bộ phận cấu thành. Người ta
còn có thể phân loại hàng tồn kho theo thời gian mà hàng tồn kho tồn tại:
 Tồn kho một kì: Bao gồm các mặt hàng mà nó chỉ được dự trữ một lần mà
không có ý định tái dự trữ sau khi nó được tiêu dùng;
 Tồn kho nhiều kì: Gồm các mặt hàng được duy trì tồn kho đủ dài, các đơn
vị tồn kho đã tiêu dùng sẽ được bổ sung. Giá trị và thời hạn bổ sung tồn kho sẽ
được điều chỉnh phù hợp với mức tồn kho đáp ứng nhu cầu. Tồn kho nhiều kì
thường phổ biến hơn tồn kho một kì.
2
Chuẩn mực kế toán số 02 theo Quyết định số 149/2001QĐ-BTC
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 6 Học viện Ngân Hàng
1.1.3. Đặc điểm của các loại hàng tồn kho
1.1.3.1. Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong quá

hàng tồn kho dù ít dù nhiều cũng luôn tồn tại ở các doanh nghiệp. Bán thành phẩm là
những sản phẩm mới kết thúc quy trình công nghệ sản xuất (trừ công đoạn cuối cùng)
được nhập kho hay chuyển giao để tiếp tục chế biến hoặc có thể bán ra ngoài. Tồn kho
bán thành phẩm thường có thể phân thành ba loại hình: bán thành phẩm vận chuyển,
bán thành phẩm quay vòng, bán thành phẩm an toàn, được lần lượt thiết lập bởi các
mục đích khác nhau, đồng thời chịu ảnh hưởng của các nguyên nhân khác nhau.
Trong mô hình JIT, một trong những mục tiêu trọng tâm là giảm tối đa lượng
hàng tồn kho bán thành phẩm chứ không phải là rút ngắn chu kì sản xuất hay giảm
chi phí sản xuất. Chu kì sản xuất sản phẩm là thời gian bắt đầu từ khi nguyên vật
liệu được đưa vào cho đến khi đưa ra được thành phẩm. Đó chính là thời gian để
nguyên vật liệu, linh kiện thông qua hệ thống chế tạo sản xuất. Giữa thời gian
nguyên vật liệu thông qua hệ thống, lượng hàng tồn kho bán thành phẩm và năng
suất có mối quan hệ như sau:
Thời gian thông
qua bình quân
=
Lượng tồn kho bình quân bán thành phẩm
Năng suất của hệ thống
Công thức này được gọi là định luật Little. Nó chứng minh rõ ràng rằng nếu
giảm lượng hàng tồn kho bán thành phẩm của hệ thống có thể làm cho thời gian
nguyên vật liệu thông qua hệ thống (chu kì sản xuất) được rút ngắn. Khi tồn kho
bán thành phẩm được giảm thiểu sẽ có thể đem đến nhiều kết quả như:
Sản lượng tồn kho bán thành phẩm có hai hiệu ứng quan trọng đối với việc rút
ngắn chu kì sản xuất – vừa giảm tử số của định luật Litte, vừa tăng mẫu số, vừa
giảm chi phí lại vừa rút ngắn chu kì sản xuất như một mũi tên bắn trúng hai đích.
Việc giảm sản lượng bán thành phẩm còn rút ngắn chu kì sản xuất, khiến cho
biên độ dao động của thời gian hoàn thành gia công linh kiện sớm sẽ được rút ngắn,
từ đó lượng tồn kho dự phòng cần thiết lập sẽ được giảm đi.
Đây chính là nguyên nhân mô hình JIT coi việc giảm lượng tồn kho bán thành
phẩm là mục tiêu chính.

“Phiếu xuất kho thành phẩm”. Phiếu này có thể lập riêng cho mỗi loại hoặc nhiều
loại thành phẩm, tuỳ theo tình hình tiêu thụ thành phẩm.
Tóm lại, mỗi loại hàng tồn kho đều có những đặc điểm riêng. Vì thế, quy trình
quản lý và kiểm soát cũng có những nét khác biệt đòi hỏi các nhà quản lý doanh
nghiệp nắm vững tính chất hàng tồn kho của doanh nghiệp mình để đưa ra phương
pháp và mô hình quản lý hiệu quả.
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 9 Học viện Ngân Hàng
1.2. Quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý hàng tồn kho
Quản lý hàng tồn kho có ý nghĩa kinh tế quan trọng do hàng tồn kho là một
trong những tài sản có giá trị lớn trong doanh nghiệp. Bản thân vấn đề quản lý hàng
tồn kho có hai mặt trái ngược nhau là: để đảm bảo sản xuất liên tục, tránh đứt quãng
trên dây chuyền sản xuất, đảm bảo sản xuất đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của
người tiêu dùng trong bất cứ tình huống nào, doanh nghiệp có ý định tăng hàng tồn
kho. Ngược lại, hàng tồn kho tăng lên, doanh nghiệp lại phải tốn thêm những chi
phí khác có liên quan đến dự trữ chung. Vì vậy, bản thân doanh nghiệp phải tìm
cách xác định mức độ cân bằng giữa mức độ đầu tư cho hàng tồn kho và lợi ích do
thoả mãn nhu cầu của sản xuất và nhu cầu người tiêu dùng với chi phí tối thiểu
nhất.
Đối với một doanh nghiệp sản xuất chế tạo, yêu cầu quản lý hàng tồn kho
càng gắt gao. Quản lý hàng tồn kho tốt góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất –
kinh doanh của doanh nghiệp trước những yêu cầu đặt ra ngày càng cao của thị
trường như:
• Rút ngắn thời gian cần thiết để hệ thống sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu;
• Phân bổ chi phí cố định cho các đơn hàng hay lô sản xuất khối lượng lớn;
• Đảm bảo ổn định sản xuất và số lượng công nhân khi nhu cầu biến đổi;
• Bảo vệ doanh nghiệp trước các sự kiện làm đình trệ sản xuất như đình
công, thiếu hụt trong khâu cung cấp…
• Bảo đảm sự mềm dẻo trong hệ thống sản xuất…

Tiếp nhận
Kho bán
thànhphẩ
m
Kho
SP
G

i

h
à
n
g
K
h
á
c
h

h
à
n
g
Các giai đoạn sản xuất
K
h
o

n

hàng hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo
quản….
Nếu doanh nghiệp có nhu cầu về hàng tồn kho là D đơn vị hàng hóa/năm, và
N là số lần đặt hàng trong một năm thì lượng hàng đặt mỗi lần sẽ là Q = D/N
Lượng tồn kho trung bình A =
D
2N
Giả sử ta có giả thiết về hàng tồn kho của một doanh nghiệp như sau:
D =120.000đơn vị
N = 4 lần đặt hàng
Như vậy, lượng hàng cung ứng mỗi lần Q=D/N=120.000/4=30.000đv/1 lần
đặt hàng
Lượng tồn kho trung bình A=30.000/2=15.000 đv
Nhận xét: Ngay sau khi tầu cập bến, lượng hàng tồn kho lớn nhất sẽ là 30,000
đơn vị và trước khi lô hàng mới nhập kho, lượng hàng tồn kho ở mức thấp nhất và
bằng 0. Lượng hàng tồn kho trung bình sẽ là 15.000 đơn vị.
Giả sử hàng tồn kho có giá p = $2/1đv
Giá trị hàng tồn kho trung bình = p x A=2 x 15.000 = $30.000
Chi phí lưu kho = 10% giá trị hàng lưu kho = 10% x 30.000 = $3.000/năm
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 12 Học viện Ngân Hàng
Chi phí bốc dỡ, xếp hàng vào kho là $2.000/năm
Chi phí bảo hiểm kho là $500/năm
Khấu hao và thanh lý tài sản cũ không dùng được $1.000/năm
Tổng chi phí tồn kho = 3.000 + 2.000 + 500 + 1.000 = $ 6.500
Như vậy tỉ lệ phí tổn tồn kho/năm = 6.500/30.000 = 0,217
Nếu gọi:
t : Tỉ lệ chi phí lưu kho
TCC (Total Carrying Cost) : Tổng chi phí tồn kho
p : Đơn giá hàng lưu kho

Phương trình tổng quát tính tổng chi phí tồn kho sẽ là:
(1)

Phương trình (1) sẽ được áp dụng vào các mô hình quản lý hàng tồn kho dưới đây.
1.2.3. Các phương pháp quản lý hàng tồn kho
Khi nghiên cứu các phương pháp quản lý hàng tồn kho, chúng ta cần giải
quyết hai câu hỏi trọng tâm là:
• Lượng hàng cho mỗi đơn hàng là bao nhiêu thì chi phí sẽ thấp nhất
• Khi nào thì tiến hành đặt hang
1.2.3.1. Quản lý dự trữ theo phương pháp cổ điển hay mô hình dự trữ hiệu quả
nhất EOQ (Economic ordering Quantity)
Mô hình kiểm soát dự trữ cơ bản EOQ được đề xuất và ứng dụng từ năm
1915, cho đến nay nó vẫn được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Kỹ thuật kiểm
soát dự trữ theo mô hình này rất dễ áp dụng, nhưng khi sử dụng nó, người ta đã phảI
dựa vào những giả thiết quan trọng, đó là:
• Nhu cầu phải biết trước và nhu cầu không đổi
• Phải biết trước thời gian kể từ khi đặt hàng cho tới khi nhận được hàng và
thời gian đó không đổi
• Lượng hàng của mỗi đơn hàng được thực hiện trong một chuyến hàng và
được thực hiện ở một thời điểm đã định trước
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
TIC = H x
Q
+ S x
D
2 Q
min
Chuyên đề tốt nghiệp 14 Học viện Ngân Hàng
• Chỉ có duy nhất 2 loại chi phí là chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng
• Sự thiếu hụt trong kho hoàn toàn không xảy ra nếu như đơn đặt hàng được

xác định sao cho tại đó tổng chi phí TIC là nhỏ nhất. Q* tối ưu tại điểm có chi phí
đặt hàng và chi phí tồn trữ (chi phí cơ hội) bằng nhau.
Công thức này cũng có thể được thể hiện qua đồ thị sau:
Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa các loại chi phí tồn kho
Giả sử có số liệu về hàng tồn kho của một công ty sản xuất xe máy như sau:
Toàn bộ số hàng hoá cần sử dụng trong năm là 1600 tấm thép/năm, chi phí mỗi lần
đặt hàng là 1 triệu đồng, chi phí lưu kho một đơn vị hàng hoá là 0,5 triệu đồng.
Lượng hàng hoá mỗi lần cung ứng tối ưu là:
Số lần đặt hàng trong năm là: 1600/80 = 20 lần
Chi phí đặt hàng trong năm là: 20 * 1 = 20 triệu
Chi phí lưu kho hàng hoá là: 0,5 * 80/2 = 20 triệu
*Khoảng cách giữa hai lần đặt hàng
Kí hiệu T là khoảng cách giữa hai lần đặt hàng ta có:
T =
Số ngày làm việc trong năm
Số lượng đơn đặt hàng mong muốn (N)
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chi phí đặt
hàng SxD/Q
Khối lượng dự trữ
Chi phí
O
Chi phí lưu
kho HxQ/2
TIC
TIC’=0
Q*
Chuyên đề tốt nghiệp 16 Học viện Ngân Hàng
Giả sử trong năm công ty làm việc bình quân 320 ngày, khoảng cách giữa hai
lần đặt hàng sẽ là T = 320/20 = 16 ngày

tồn kho được dùng mỗi ngày d = 1600/320 = 5 đơn vị/ngày. Nếu thời gian giao
hàng L = 4 ngày không kể ngày nghỉ thì doanh nghiệp sẽ tiến hành đặt hàng khi
lượng nguyên liệu trong kho chỉ còn lại là: ROP = 4 x 5 = 20 đơn vị.
c) Lượng dự trữ an toàn
Đối với một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh
doanh là điều không thể lường trước, đặc biệt là các doanh nghiệp làm ăn theo thời
vụ hoặc sản xuất những sản phẩm nhạy cảm với thị trường. Tính không xác định
của nhu cầu và tính không xác định của thời gian đến sớm khi đặt hàng có thể xảy
ra hiện tượng hàng trong kho bị rỗng trước khi lượng bổ sung hàng đặt đến nơi. Để
đảm bảo sản xuất ổn định, doanh nghiệp cần duy trì lượng hàng tồn kho dự trữ an
toàn. Hơn nữa, hàng tồn kho là loại tài sản lưu động biến đổi hàng ngày, hàng giờ
nên yêu cầu về lượng dự trữ an toàn càng cần thiết hơn.
Nói đến cơ cấu tài sản trong một doanh nghiệp ta thường phân làm ba loại:
tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên và tài sản lưu động tạm thời. Tài sản
lưu động thường xuyên hay tài sản lưu động ròng (NWC) được xác định là chênh
lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Thành phần của NWC bao gồm cả ba
loại tài sản là tiền mặt như một tấm đệm cho việc chi tiêu ngoài dự kiến, một số
khoản phải thu có khả năng thu hồi cao và hàng tồn kho. Vì thế, lượng dự trữ an
toàn chính là lượng hàng tồn kho nằm trong tài sản lưu động ròng được duy trì
trong suốt quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Lượng dự trữ an toàn được hiểu là lượng hàng tồn kho dự trữ thêm vào
lượng dự trữ tại thời điểm đặt hàng.
Với doanh nghiệp sản xuất xe máy trên, ban lãnh đạo của doanh nghiệp này
quyết định mức dự trữ an toàn là 10 đơn vị hàng hoá, điểm đặt hàng mới sẽ là 20 +
10 = 30 đơn vị.
Trên thực tế rất khó xác định lượng dự trữ an toàn thông qua chi phí tổn thất
do thiếu hàng. Người ta thường dựa vào nhu cầu khách hàng có thể đáp ứng bởi
hàng tồn kho dự phòng (lượng dự trữ an toàn) trước khi đơn hàng mới nhập kho.
Mức phục vụ khách hàng được xác định càng cao thì mức độ tồn kho điểm hàng đặt
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10

lượng của từng loại hàng tồn kho trong từng thời điểm nhằm đảm bảo hàng được
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 19 Học viện Ngân Hàng
đưa đến nơi có nhu cầu đúng lúc, kịp thời để cho hoạt động của những nơi đó được
đảm bảo liên tục, tuy nhiên lại không bị sớm quá hay muộn quá.
Tuy nhiên, đây chỉ là một phương pháp quản lý hàng tồn kho cho một số loại
hàng tồn kho nhất định và một số loại hình doanh nghiệp nhất định. Ví dụ, các
doanh nghiệp trong ngành công nghiệp thực phẩm chỉ áp dụng mô hình JIT cho
những loại thực phẩm không thể dự trữ lâu (các mặt hàng tươi sống) và mô hình
EOQ cho dự trữ thực phẩm có thời gian sử dụng dài ngày. Tương tự, nếu trong
ngành y tế, các bệnh viện sử dụng mô hình JIT sẽ không phù hợp và có thể không
lường trước được những nguy hiểm do thiếu dụng cụ và thiết bị y tế có thể xảy ra.
Hơn nữa, để thực hiện được phương pháp này hiệu quả, cần phải kết hợp với
các phương pháp quản lý khác cũng như yêu cầu về khả năng liên kết của các đơn
vị sản xuất với nhau.
b) Những nguyên nhân gây ra sự chậm trễ (không đúng lúc) của quá trình cung ứng:

Mục đích của việc tìm hiểu những nguyên nhân gây ra sự chậm trễ của quá
trình cung ứng là để hiểu được các tác động của những nhân tố bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến phương pháp quản lý hàng tồn kho này.
Những nguyên nhân thường gặp là:
• Các nguyên nhân thuộc về lao động, thiết bị, nguồn vật tư của nguồn cung
ứng không bảo đảm các yêu cầu. Vì thế, những sản phẩm sản xuất ra không đạt yêu
cầu về tiêu chuẩn chất lượng, hoặc số lượng sản xuất không đủ lô hàng phải giao
đến đơn vị có nhu cầu và áp dụng mô hình dự trữ bằng 0;
• Thiết kế công nghệ, kĩ thuật sản phẩm không chính xác;
• Các bộ phận sản xuất thực hiện hoạt động chế tạo trước khi có bản vẽ kĩ
thuật hay thiết kế chi tiết hoàn thiện;
• Không nắm chắc yêu cầu của doanh nghiệp có nhu cầu;
• Các doanh nghiệp chưa thiết lập được mối liên kết chặt chẽ giữa các khâu;

nhu cầu thực sự, không đưa hàng đến nơi chưa có nhu cầu. Hệ thống vận chuyển
này người Nhật gọi là hệ thống Kaban. Để khái quát về hệ thống Kaban, ta có thể
thông qua ba nội dung quan trọng là: Chỉ sản xuất các sản phẩm theo yêu cầu, tại
các thời điểm đã được yêu cầu, với số lượng đúng theo yêu cầu.
Trên đây, chúng ta đã tìm hiểu hai phương pháp quản lý hàng tồn kho cơ bản.
Ngoài ra còn một số mô hình dựa trên cơ sở hai mô hình này. Tuy nhiên, mô hình vẫn
chỉ tồn tại trên lý thuyết nếu nó không được áp dụng hiệu quả vào thực tiễn. Chính vì thế
ta phải đưa ra được một số cách thức tiếp cận và đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho
có thể đưa lại kết quả chính xác về thực tiễn hoạt động này tại doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 21 Học viện Ngân Hàng
1.3. Đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp
1.3.1. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý hàng tồn kho
1.3.1.1. Các chỉ tiêu về tốc độ luân chuyển của hàng tồn kho
Đây là nhóm chỉ tiêu khá quan trọng trong phân tích tài chính để đánh giá
hoạt động sản xuất – kinh doanh của một doanh nghiệp cũng như hiệu quả hoạt
động quản lý hàng tồn kho tại doanh nghiệp đó.
Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho =
Gía vốn hàng bán
Giá trị hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho có thể được dùng để so sánh hiệu quả hoạt động
giữa các năm, kì tài chính của doanh nghiệp hoặc dùng để so sánh hoạt động của
doanh nghiệp với tỉ số trung bình của ngành.
Các doanh nghiệp luôn mong muốn tăng số vòng quay này. Tỉ số trên có thể
giúp các nhà phân tích nhận định về hiệu quả quản lý hàng tồn kho ở doanh nghiệp
đã tốt chưa, có sự bất hợp lý nào không
Thời gian một vòng luân
chuyển hàng tồn kho
= 360

pháp, mô hình mà còn phải dựa trên những kinh nghiệm và chính sách loại trừ những
nhân tố bất thường trong hệ thống sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 23 Học viện Ngân Hàng
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO
TẠI CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI – TÀI CHÍNH HẢI ÂU
2.1. Tổng quan về công ty THHH Thương mại – Tài chính Hải Âu
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty TNHH Thương mại - Tài chính Hải Âu tiền thân là công ty TNHH
Hải Âu thành lập năm 1991 hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xe tải hạng nặng
và xe công trình. Trải qua 20 năm hoạt động với những kinh nghiệm sẵn có, Công
ty đã và đang là một bạn hàng và là nhà cung cấp uy tín, hiệu quả hàng đầu đối với
các khách hàng trong và ngoài nước. Trong những ngày đầu thành lập với muôn
vàn khó khăn của một doanh nghiệp trẻ trước một lĩnh vực kinh doanh đầy rủi ro và
mạo hiểm, bằng nỗ lực và nội lực của bản thân, Hải Âu đã dần chiếm được lòng tin
của các đối tượng khách hàng và trở thành đối tác của nhiều Tập Đoàn lớn như:
Hyundai, SamSung, Kamaz, Daewoo, Sakai, Hitachi, DongFeng và là nhà cung cấp
quen thuộc của các Tập Đoàn, tổng công ty lớn như: Sông Đà, Cienco, Licogi, Hòa
Phát, Hoàng Anh Gia Lai, Trường Thịnh….
Trong 10 năm đầu tồn tại và phát triển có những giai đoạn sáp nhập, chia tách
và có những khó khăn tưởng chứng không vượt qua được nhưng Công ty vẫn duy trì
và bảo vệ được một thương hiệu Hải Âu mạnh.
Năm 2001 là một năm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với Hải Âu.
Nhận thấy nhu cầu và tình hình thị trường xuất hiện những cơ hội mới, Ban lãnh đạo
Công ty quyết định thay đổi và đầu tư mạnh mẽ cả về chất và lượng. Việc đầu tiên thay
đổi tên công ty thành công ty TNHH Thương mại - Tài chính Hải Âu như ngày nay.
Kế thừa các năng lực và giá trị cốt lõi, công ty TNHH Hải Âu ngày càng
phát triển lớn mạnh và bằng chứng trong 10 năm kế hoạch lần thứ 2 của mình Công
ty đó đạt được những thành tích đáng ghi nhận như sau:

đồng thời giúp giám đốc quản lý về mặt hành chính, quản trị như quản lý hồ sơ
của công ty, văn thư, bảo vệ, tiếp khách, hội nghị Phòng tổ chức hành chính
bao gồm hai bộ phận: bộ phận quản lý nhân sự, tổ chức tuyển dụng và đào tạo
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Chuyên đề tốt nghiệp 25 Học viện Ngân Hàng
và bộ phận chuyên trách các nhiệm vụ khác.
- Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ theo dõi, đôn đốc thực hiện kế hoạch
sản xuất, chuẩn bị để giám đốc ký các hợp đồng kinh tế, giúp Giám đốc đề ra
nhiệm vụ sản xuất cho từng phân xưởng tổ đội, theo dõi thực hiện các hợp đồng
sản xuất, quản lý kế hoạch vật tư, phương tiện vận tải của công ty, đồng thời hỗ
trợ cho Giám đốc lập ra các phương án sản xuất kinh doanh, vạch ra hướng đi
đúng đắn cho sản xuất.
- Phòng kỹ thuật: Có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề về kỹ thuật và công
nghệ, kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi xuất xưởng, quản lý mẫu mã các
sản phẩm, thiết bị và phụ tùng, thực hiện các dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng, sửa
chữa máy móc khi cần thiết.
- Phòng tài chính - kế toán: Có nhiệm vụ tham gia tư vấn và giúp việc cho
Giám đốc công ty trong lĩnh vực kế toán - tài chính. Ngoài ra phòng tài chính- kế
toán còn có nhiệm vụ phân tích và tổng hợp lập quyết toán tài chính, báo cáo với
giám đốc, với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như: Cục thuế, Công ty
kiểm toán Nhà nước, theo đúng chế độ quy định.
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Hải Âu
Nguyễn Thị Mai Hương Lớp: QTDNA – K10
Giám đốc
Phó đốc kinh doanh Phó giám đốc kỹ
thuật
Phòng tổ chức-
hành chính
Phòng kinh
doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status