DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cán bộ nhân viên………………………..CBNV
Ngân hàng ………………………………NH
Ngân hàng cổ phần … ………………….NHCP
Ngân hàng Ngoại thương …………….....NHNT
Ngân hàng thương mại…………………...NHTM
Huy động vốn…………………………….HĐV
Tín dụng……………………………….....TD
Trung dài hạn……………………………TDH
Tài sản……………………………………TS
Trung ương………………………….…....TW
Xuất nhập khẩu…………………..………XNK
MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM ) có vị trí quan trọng bậc nhất trong hệ thống
tài chính của mỗi quốc gia và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp vốn
cho nền kinh tế với chức năng cơ bản là luân chuyển tài sản (TS) và cung ứng dịch
vụ thanh toán cho toàn xã hội.
Lịch sử phát triển của hệ thống Ngân hàng (NH) trên thế giới đã cho thấy có
mối tương quan rất chặt chẽ giữa tốc độ phát triển kinh tế với tốc độ phát triển của
NH .Vì vậy, sự lớn mạnh, sự an toàn vững chắc và hoạt động có hiệu quả của các
NHTM là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho hoạt động và phát triển của nền kinh tế.
Trong những năm qua với sự chuyển mình từ nền kinh tế kế hoạch tập trung,
quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận tạo ra bước nhảy
vọt trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội .Đạt được kết quả đó phải kể
đến sự đóng góp to lớn của ngành NH - lĩnh vực then chốt trong hệ thống tài chính
Việt Nam.
Ngày nay trong xu thế hội nhập, việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn
gắn liền với sự phát triển của kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự
phát triển đó .NHTM cùng với hoạt động kinh doanh của mình chính là cầu nối
giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế.
trong việc giữ hộ của cải hoặc thanh toán hộ thì cho đến nay hoạt động của NH đã
được mở ra trên rất nhiều các lĩnh vực với công nghệ ngày càng hoàn thiện. Thực tế
nhiều năm qua đã chứng tỏ cho thấy rằng : NH đóng vai trò làm môi giới, làm trung
gian cho sự gặp gỡ của cung và cầu tiền tệ, thông qua việc huy động vốn tạm thời
nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức trong xã hội rồi cho vay lại đối với cá nhân, các tổ
chức đang có nhu cầu về vốn. Điều này góp phần đẩy mạnh tốc độ quay vòng vốn
tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, biến tiền nhàn rỗi vào đầu tư sản suất kinh doanh,
tránh lãng phí của cải vật chất cho xã hội. Qua đó đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế
mà tình hình hoạt động của NH phản ánh rất chính xác tình hình nền kinh tế, sự
vững mạnh, phồn vinh hay yếu kém của nền kinh tế được phản ánh rất rõ qua hoạt
động của NH.
4
NHTM ra đời như một đứa con ưu tú nhất của nền kinh tế hàng hoá và chính
NHTM đến lượt mình đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế
hàng hoá.
Hệ thống NHTM : Bao gồm các NHTM Quốc doanh, NHTM cổ phần, NH
tư nhân với chức năng chính là kinh doanh thông qua hoạt động trung gian tài chính
và thực hiện các dịch vụ NH. Hệ thống NHTM hoạt động dưới sự kiểm tra, giám
sát của Nhà nước thông qua các quy chế, quy định về hoạt động và thông qua việc
thực hiện các văn bản, hướng dẫn của NH Nhà nước để thực hiện các định hướng
trong chính sách tiền tệ tài chính của Nhà nước.
NHTM đã có mạng lưới rộng khắp trên cả nước phục vụ sản suất phân phối
lưu thông, tiêu dùng trong cả nước. Hơn thế nữa, nó còn có quan hệ rộng rãi và có
vai trò quan trọng về tiền tệ, tín dụng (TD), thanh toán giữa nước ta với nước ngoài.
1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
* Nghiệp vụ tạo vốn
Đây là nghiệp vụ khởi đầu trong hoạt động của NHTM. Vốn là cơ sở để
NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài vốn ban đầu cần thiết,
tức là đủ vốn điều lệ theo luật định, thì Ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới
huy động vốn và cho vay của Ngân hàng.
6
* Các nghiệp vụ khác
Ngoài ba nghiệp vụ trên, để tăng thêm lợi nhuận và đáp ứng nhu cầu khách
hàng, các Ngân hàng còn tích cực mở rộng và phát triển các hoạt động khác như
kinh doanh vàng bạc, kim khí đá quý, thực hiện các dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân
quỹ, dịch vụ uỷ thác và đại lý. Các nghiệp vụ của NHTM luôn có mối quan hệ chặt
chẽ mật thiết hữu cơ, là tiền đề là bổ sung cho nhau. Các Ngân hàng phải thực hiện
tốt tất cả các nghiệp vụ hoạt động từ đó tăng lợi nhuận, cải thiện vị thế góp phần
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.2 Vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Vốn kinh doanh của NHTM là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài
sản có của NH và được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Vốn của NH cũng có
thể thuộc quyền sở hữu của NH hoặc vay từ bên ngoài.Vì vậy NH phải có trách
nhiệm cả với cổ đông và người gửi tiền. Vốn của NH khi sử dụng cho kinh doanh
chủ yếu để tài trợ thiếu hụt tạm thời của khách hàng và việc sử dụng vốn phải đáp
ứng yêu cầu lợi nhuận và an toàn.
1.2.2 Các phương thức huy động vốn của ngân hàng thương mại
1.2.2.1 Huy động vốn chủ sở hữu
Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trước khi thành lập NH là phải có đủ vốn
ban đầu theo luật định. Vốn chủ sở hữu chính là điều kiện pháp lý cơ bản và cũng là
yếu tố tài chính quan trọng nhất trong việc đảm bảo các khoản nợ với khách hàng.
Có thể nói quy mô vốn chủ sở hữu là yếu tố quyết định quy mô vốn và quy mô tài
sản có của NH. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số nguồn vốn hoạt
7
động kinh doanh của NH, nhưng nó là nguồn vốn rất quan trọng vì nó không chỉ
cho ta thấy quy mô của NH mà nó còn là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác .
Ngoài ra NH còn có các quỹ khác như: quỹ phúc lợi, khen thưởng...
1.2.2.2 Huy động nợ
* Nguồn vốn huy động : Do vốn chủ sở hữu thường chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong
tổng nguồn vốn kinh doanh của NHTM nên để hoạt động kinh doanh có hiệu quả
thì NH cũng phải huy động vốn từ bên ngoài, thông qua các khoản tiền gửi
+Tiền gửi thanh toán: Là tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân khi có nhu cầu
thanh toán nhằm tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu chi tiêu của
gia đình, bản thân... Đây là khoản nợ mà NH phải trả cho khách hàng bất kỳ lúc nào
họ yêu cầu .Ưu điểm của nguồn tiền gửi thanh toán là NH chỉ phải trả lãi suất thấp
hoặc bằng 0 .Hiện nay, một số NH sử dụng nhiều hình thức nâng cao lãi suất, các
tiện ích để có thể huy động một lượng lớn tiền gửi thanh toán.
+ Tiền gửi có kì hạn: Là những khoản tiền của các tổ chức, cá nhân gửi vào
NH mà có sự thoả thuận về thời gian rút tiền .Khác với tiền gửi thanh toán, tiền gửi
có kì hạn nhằm tìm kiếm lợi nhuận .Đối với NH thì tiền gửi có kì hạn là nguồn vốn
ổn định trong kinh doanh nên lãi suất NH phải trả cho loại tiền gửi này cao hơn tiền
gửi thanh toán, thời gian càng dài lãi suất càng cao.
+ Tiền gửi tiết kiệm dân cư :Là hình thức huy động vốn truyền thống của
NH, vốn huy động từ tiết kiệm dân cư thường chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng
9
nguồn vốn huy động của NH .Đây là nguồn vốn có quy mô lớn, tính ổn định cao
nhất, và là cơ sở để quyết định tỉ lệ dự trữ và tỉ lệ cho vay đối với NH. Tuy nhiên,
để huy động được nguồn vốn này thì NH cũng mất khá nhiều chi phí do việc thu
hút khách hàng cũng như cạnh tranh lãi suất.
+ Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác: các tổ chức TD khác cũng gửi
tiền vào NHTM với những mục đích nhất định và thường chỉ gửi trong thời gian
nhất định . Tuy nhiên, nguồn tiền này thường chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng
nguồn vốn mà NHTM huy động được.
* Nguồn vốn đi vay: Khi các nguồn tiền gửi không đủ đáp ứng nhu cầu thanh
toán và cho vay của NHTM thì các NHTM có thể huy động nợ bằng cách đi vay
NHTM như là kênh dẫn vốn tới các mục tiêu.Do vậy, vốn hình thành từ nguồn này
không mất chi phí.
- Nguồn từ thanh toán: các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có
thể hình thành các nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ
mở L/C...)
- Nguồn khác: ngoài các nguồn đã nêu trên NH còn có một số nguồn khác
như: lương chưa trả, thuế chưa nộp…
11
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn
1.3.1 Nhân tố chủ quan
∗
Chính sách lãi suất của NHTM
Lãi suất huy động là mối quan tâm hàng đầu chủ yếu khi một cá nhân hay tổ
chức kinh tế nào đó muốn gửi tiền vào Ngân hàng. Điều này là hoàn toàn hợp lý bởi
vì trong nền kinh tế ngành nào có lợi nhuận cao hơn bao giờ cũng thu hút được
nhiều người tham gia đầu tư. Chính vì vậy để tạo được nhiều vốn đáp ứng được nhu
cầu sử dụng của mình, các Ngân hàng phải có chính sách lãi suất hợp lý sao cho lãi
suất huy động vừa đảm bảo kích thích người gửi tiền vừa phù hợp với lãi suất cho
vay để tránh tình trạng vốn huy động với giá cao mà đầu tư với giá thấp.
Chính sách lãi suất có ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của Ngân hàng.
Do đó NHTM phải hoạch định chính sách lãi suất linh hoạt, phù hợp với tín hiệu thị
trường, tiếp tục thực hiện lãi suất dương trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của người
gửi tiền, Ngân hàng và người sử dụng vốn. Mức lãi suất huy động cần phải thấp
hơn lãi suất cho vay để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng và cũng phải thấp hơn lợi
nhuận của doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho người vay nhưng mức lãi suất
này không được thấp hơn tỷ lệ lạm phát để đảm bảo cho người gửi tiền vẫn có một
tỷ lệ thu nhập hợp lý. Có như vậy người gửi tiền mới thấy việc gửi tiền vào Ngân
hàng là có lợi.
các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế thì nghiệp vụ sử dụng vốn được thực hiện
sử dụng các nguồn vốn đó vào sản xuất kinh doanh, dịch vụ…để đem lại khả năng
sinh lời, thu lợi nhuận về cho Ngân hàng. Do vậy nếu hoạt động sử dụng vốn không
hiệu quả tất yếu dẫn đến việc huy động vốn bị thu hẹp lại. Khi sử dụng vốn kém
hiệu quả làm thất thoát vốn nhiều dẫn đến lòng tin của dân chúng vào Ngân hàng bị
13
giảm đi, tiền vốn huy động vào Ngân hàng cũng bị giảm. Từ đó rất khó khăn trong
việc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi. Nếu hoạt động tín dụng có hiệu quả tạo cho
các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế kinh doanh có hiệu quả, thu nhập xã hội ngày
càng tăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, đời sống dân cư ngày càng cao, nguồn vốn nhàn
rỗi ngày càng nhiều, tạo nguồn vốn cho Ngân hàng huy động ngày càng tăng trưởng
để thực hiện đầu tư cho các chu kỳ tiếp theo.
∗
Hoạt động Marketing Ngân hàng
Đây là vấn đề hết sức quan trọng nhằm giúp cho Ngân hàng nắm bắt được
yêu cầu, nguyện vọng của khách hàng .Từ đó Ngân hàng mới đưa ra các hình thức
huy động vốn, chính sách lãi suất, chính sách tín dụng... cho phù hợp. Đồng thời
các NHTM phải có thông tin đầy đủ kịp thời giúp cho người có tiền nhàn rỗi hiểu rõ
nên gửi tiền vào đâu và gửi như thế nào là có lợi nhất, từ đó có thể giúp cho khách
hàng lựa chọn hình thức gửi tiền vào Ngân hàng phù hợp nhất và Ngân hàng có thể
khai thác tối đa các nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư.
∗
Đổi mới công nghệ Ngân hàng nhất là khâu thanh toán
Cùng với việc đổi mới hoạt động Ngân hàng, các NHTM ngày càng trang bị
các công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân hàng, nhất là khâu thanh toán, làm cho
vốn luân chuyển nhanh, thuận tiện, đảm bảo an toàn cho khách hàng trong quan hệ
gửi tiền, rút tiền, vay vốn. Nếu thực hiện tốt khâu này thì sẽ giảm bớt lưu thông tiền
mình sao cho vừa lòng khách hàng.
15
∗
Uy tín của Ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường để tồn tại và phát triển, các NHTM phải có uy
tín trên thị trường .Uy tín phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh
toán chi trả cho khách hàng của Ngân hàng, uy tín được thể hiện ở chất lượng hoạt
động có hiệu quả của Ngân hàng. Chính vì vậy mà các NHTM phải không ngừng
nâng cao và đảm bảo uy tín của mình trên thương trường, từ đó có điều kiện để mở
rộng hoạt động kinh doanh của mình, thu hút được nguồn tiền nhàn rỗi của doanh
nghiệp và dân cư .Ngoài ra một Ngân hàng có bề dày lịch sử hoạt động sẽ được
nhiều khách hàng chọn lựa hơn các Ngân hàng ít kinh nghiệm và uy tín trên thị
trường.
* Mạng lưới và địa điểm hoạt động
NH là một trong những loại hình kinh doanh mà địa điểm có vai trò quan
trọng .Đây là nơi đưa sản phẩm dịch vụ của NH đến với khách hàng .Một NH có trụ
sở, chi nhánh ở nơi đông dân cư, trung tâm kinh tế phát triển sẽ thu hút được nhiều
khách hàng đến giao dịch. Kênh phân phối rộng khắp sẽ tăng cường khả năng giao
dịch, tiếp xúc khách hàng .NH sẽ có cơ hội huy động được mọi nguồn vốn kể cả
nguồn vốn nhỏ lẻ, phân tán trong dân cư.
Trong điều kiện hiện nay, NH cần kết hợp các kênh phân phối truyền thống
gồm: chi nhánh, đại lý, quầy…với các dịch vụ hiện đại như: Phone Banking, Home
bankinh, Internet Bankinh, ATM…để mở rộng giao dịch, gia tăng mạng lưới hoạt
động để thu hút nhiều khách hàng.
16
1.3.2 Nhân tố khách quan
Ngân hàng.
Khi tình hình kinh tế chính trị xã hội của một nước không ổn định, tỷ lệ lạm
phát cao, nền kinh tế suy thoái, thu nhập của người lao động ngày càng giảm, xu
hướng người dân thường giữ ngoại tệ mạnh hoặc là hàng hoá thay cho việc gửi tiền
vào Ngân hàng .Điều này gây ảnh hưởng đến nghiệp vụ huy động vốn của NHTM.
Nền kinh tế không tăng trưởng, sản xuất bị kìm hãm, lạm phát tăng làm cho môi
trường đầu tư của Ngân hàng bị thu hẹp lại do sản xuất đình trệ, thua lỗ nên không
doanh nghiệp nào vay vốn của Ngân hàng để sản xuất. Do đó thu nhập của Ngân
hàng giảm làm cho quá trình huy động vốn của Ngân hàng gặp khó khăn. Như vậy
hoạt động của NHTM trên các địa bàn phải luôn bám sát các chương trình mục tiêu
kinh tế của từng địa phương, từng vùng, nghiên cứu thăm dò thị trường. Từ đó đưa
ra các giải pháp, các sản phẩm cho phù hợp để thu hút được nhiều khách hàng.
* Đối thủ cạnh tranh
Cùng với sự xuất hiện và xâm nhập của các tổ chức tài chính trung gian, các
tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức phi tín dụng trong và ngoài nước,
thì các NHTM ngày càng phải đối mặt với nhiều thử thách trong quá trình cạnh
tranh thu hút vốn .Bởi khách hàng ngày càng có nhiều sự lựa chọn để đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của họ. Nếu như trước đây, việc tung ra mức lãi suất hấp dẫn là
vấn đề hàng đầu, thì nay các NHTM đều phải xem xét lại. Bởi lãi suất cao gây khó
khăn cho NH trong việc mở rộng doanh số cho vay, còn về phía khách hàng, họ lựa
chọn NH trên cơ sở còn nhiều yếu tố khác nữa: thái độ phục vụ, sự tiện lợi của các
dịch vụ mà NH cung cấp…Do vậy, để cạnh tranh được với các đối thủ, các NH
18
phải biết phân tích đặc điểm của từng nhóm đối tượng khách hàng, tiến hành phân
đoạn và lựa chọn các đoạn thị trường chính, áp dụng chính sách khách hàng linh
hoạt, phù hợp, liên tục hoàn thiện và đổi mới sản phẩm dịch vụ, tính toán lãi suất
huy động, cho vay…nhằm tăng sức cạnh tranh, khẳng định vị thế của mình.
∗
tế - xã hội của địa phương và thực hiện đường lối đổi mới mô hình tổ chức của hệ
thống NH Việt Nam , được sự ủng hộ và giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền và
các ban ngành ở tỉnh Quảng Ninh, ngày 01/10/1991 chi nhánh NHNT Quảng Ninh
đã khai trương và chính thức đi vào hoạt động.
Trải qua 17 năm xây dựng và phát triển, chi nhánh NHNT Quảng Ninh đã
từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức của mình .Với tiền thân là phòng Ngoại hối
thuộc chi nhánh NH Nhà Nước Quảng Ninh, Chi nhánh NHNT Quảng Ninh những
ngày đầu thành lập chỉ gồm 3 phòng nghiệp vụ với trang thiết bị hết sức thiếu thốn
và lạc hậu : tổng số cán bộ nhân viên (CBNV) là 19 người, trong đó số CB có trình
độ Cao đẳng, Đại học chiếm 42%, số CB có trình độ ngoại ngữ và tin học rất ít ỏi.
Đến nay sau 17 năm thành lập, tổ chức của chi nhánh NHNT Quảng Ninh gồm 2
chi nhánh cấp II Bãi Cháy và Móng Cái, 1 phòng giao dịch Uông Bí và 10 phòng
20
nghiệp vụ với tổng số CBNV là 132 người, trong đó 77% CB có trình độ Đại học
và Cao đẳng, 9,8% CB có trình độ Cao học, 83% CB có trình độ ngoại ngữ từ A
đến Đại học, 100% biết sử dụng vi tính.
Ngay từ khi thành lập, Vietcombank Quảng Ninh đã tích cực khơi tăng
nguồn vốn huy động tại chỗ thông qua việc mở rộng các đối tượng khách hàng , đa
dạng hoá các hình thức huy động, cung cấp các loại hình dịch vụ một cách linh
hoạt, phuc vụ khách hàng trọn gói từ khâu thanh toán , cho vay, chiết khấu, bảo
lãnh đến tư vấn…Từ chỗ nguồn vốn huy động ban đầu chỉ có 3 tỷ ĐVN với 21
khách hàng, chủ yếu thuộc khối du lịch và XNK . Đến nay, số dư vốn huy động từ
khách hàng của chi nhánh đã đạt 1.442 tỷ VNĐ, chiếm 89.6% tổng nguồn vốn của
Chi nhánh .Bên cạnh đó, Vietcombank Quảng Ninh đã xây dựng cho mình một mô
hình tổ chức và phương thức quản trị hiện đại, khoa học, bảo đảm hiệu quả kinh
doanh, kiểm soát được rủi ro, có khả năng cung ứng các sản phẩm dịch vụ NH đa
dạng như: huy động vốn, TD, thanh toán quốc tế, thanh toán bằng thẻ…Mặt khác,
Vietcombank Quảng Ninh cũng không ngừng tuyển dụng, đào tạo và sử dụng
nguồn nhân lực có chất lượng cao, trẻ trung, năng động.
P. Kế tóan thanh toán
P. Tổng hợp
P. Thanh toán quốc tế và dịch vụ
P. Quản lý rủi ro TD
P. Quan hệ khách hàng
P. Quản lý nợ
P. Ngân quỹ
Tổ Kiểm tra nội bộ
Tổ Tin học
2.1.3 Kết quả kinh doanh chủ yếu
Với định hướng chiến lược đúng đắn về bộ máy tổ chức, mạng lưới hoạt
động, tăng cường công tác huy động vốn mở rộng hoạt động đầu tư, và nâng cao
chất lượng các mặt hoạt động khác, Chi nhánh NHNT Quảng Ninh đã từng bước
vươn lên trưởng thành và phát triển ổn định, góp phần nâng cao thu nhập cho
CBNV, đóng góp cho Ngân sách ngày càng lớn.
Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận trước thuế của Chi nhánh NTNT Quảng Ninh
Trong 4 năm qua hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNT Quảng Ninh
vẫn tiếp tục tăng trưởng với chất lượng tương đối cao và ổn định. Cùng với việc
tăng cường đào tạo, ứng dụng công nghệ hiện đại như áp dụng thành công chương
trình NH bán lẻ, thanh toán trực tuyến IBT – online và các dịch vụ phát hành thanh
toán thẻ và tăng cường thông tin quảng cáo thì bên cạnh đó cũng bộc lộ những bất
cập, yếu kém về cơ sở vật chất, về nguồn lực con người, về sự mất cân đối trong cơ
cấu huy động vốn, mất cân đối về nguồn vốn và sử dụng vốn. Công tác Marketing
đã được quan tâm và nâng cấp song còn thiếu đồng bộ và chưa đạt hiệu quả.
2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam -
Chi nhánh Quảng Ninh
23
-Thị phần HĐV 19,07 20,52 22
(Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNT Quảng Ninh năm 2005, 2006, 2007)
Tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh NHNT Quảng Ninh không ngừng
tăng trưởng qua các năm, năm 2006 tăng 24,8 % so với năm 2005 (đạt 1022,95 tỷ
đồng) năm 2007 tăng 58,5 % so với năm 2006 (đạt 1621,62 tỷ đồng ) Tỷ trọng
HĐV/Tổng NV tăng mạnh, năm 2007 đạt 81,6 % (năm 2006 là 68,38 %, năm 2005
24
là 57,14 % ) tăng tính chủ động về vốn do đó phần VHĐ thiếu trước đây của Chi
nhánh thường xuyên phải vay VCB TW bình quân trên 400 tỷ thì đến nay đã giảm
mạnh.
Tuy nhiên xét về cơ cấu nguồn vốn phân theo thời hạn thì vốn huy động
ngắn hạn có chiều hướng tăng mạnh từ tốc độ tăng 7,9 % của năm 2005 so với năm
2004, năm 2006 đã vọt lên 29,42 % so với năm 2005 ,năm 2007 tăng 38,8 % so
năm 2006. Trong khi nguồn vốn trung dài hạn (TDH) vốn đã chiếm tỷ lệ rất thấp
trên dưới 10 %/vốn huy động lại có xu hướng giảm càng làm cho cơ cấu huy động
vốn của Chi nhánh mất cân đối nghiêm trọng về kỳ hạn. Mặt khác thị phần huy
động vốn của Chi nhánh so với địa bàn chỉ chiếm khoảng 20% có tăng giảm đôi
chút nhưng không đáng kể chứng tỏ khả năng huy động vốn của Chi nhánh chưa
được cải thiện.
Xét về vốn vay NHTW thì có sự giảm mạnh qua các năm, năm 2005 vay
NHTW 490 tỷ đồng, nhưng đến năm 2006 chỉ còn 285 tỷ đồng (giảm 58,16 % so
với năm 2005) năm 2007 là 201 tỷ đồng ( giảm 70,52 % so với năm 2006) chứng tỏ
ngân hàng ngày càng phát triển, không còn phải dựa vào vốn vay của NHTW
2.2.2 Về hoạt động cho vay
Bảng 2.4: Tình hình hoạt động TD của chi nhánh NHNT tỉnh Quảng ninh
Đơn vị tính: Tỷ đồng, triệu USD
Nội dung
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Sosánh