THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NINH - Pdf 75

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM CHI NHÁNH QUẢNG NINH
2.1 Khái quát về quá trình phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
- Chi nhánh Quảng Ninh
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển
Trong những năm đầu của thập kỷ 90, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi
mới , nhiều thành phần kinh tế ra đời, hoạt động sản suất kinh doanh phát triển ,
đời sống nhân dân được cải thiện do đó nảy sinh những nhu cầu cấp thiết về vốn và
dịch vụ NH . Để đáp ứng đòi hỏi của tình hình thực tế, góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương và thực hiện đường lối đổi mới mô hình tổ
chức của hệ thống NH Việt Nam , được sự ủng hộ và giúp đỡ của các cơ quan có
thẩm quyền và các ban ngành ở tỉnh Quảng Ninh, ngày 01/10/1991 chi nhánh
NHNT Quảng Ninh đã khai trương và chính thức đi vào hoạt động.
Trải qua 17 năm xây dựng và phát triển, chi nhánh NHNT Quảng Ninh đã
từng bước hoàn thiện mô hình tổ chức của mình .Với tiền thân là phòng Ngoại hối
thuộc chi nhánh NH Nhà Nước Quảng Ninh, Chi nhánh NHNT Quảng Ninh
những ngày đầu thành lập chỉ gồm 3 phòng nghiệp vụ với trang thiết bị hết sức
thiếu thốn và lạc hậu : tổng số cán bộ nhân viên (CBNV) là 19 người, trong đó số
CB có trình độ Cao đẳng, Đại học chiếm 42%, số CB có trình độ ngoại ngữ và tin
học rất ít ỏi. Đến nay sau 17 năm thành lập, tổ chức của chi nhánh NHNT Quảng
Ninh gồm 2 chi nhánh cấp II Bãi Cháy và Móng Cái, 1 phòng giao dịch Uông Bí
và 10 phòng nghiệp vụ với tổng số CBNV là 132 người, trong đó 77% CB có trình
độ Đại học và Cao đẳng, 9,8% CB có trình độ Cao học, 83% CB có trình độ ngoại
ngữ từ A đến Đại học, 100% biết sử dụng vi tính.
Ngay từ khi thành lập, Vietcombank Quảng Ninh đã tích cực khơi tăng
nguồn vốn huy động tại chỗ thông qua việc mở rộng các đối tượng khách hàng , đa
dạng hoá các hình thức huy động, cung cấp các loại hình dịch vụ một cách linh
hoạt, phuc vụ khách hàng trọn gói từ khâu thanh toán , cho vay, chiết khấu, bảo
lãnh đến tư vấn…Từ chỗ nguồn vốn huy động ban đầu chỉ có 3 tỷ ĐVN với 21
khách hàng, chủ yếu thuộc khối du lịch và XNK . Đến nay, số dư vốn huy động từ
khách hàng của chi nhánh đã đạt 1.442 tỷ VNĐ, chiếm 89.6% tổng nguồn vốn của

P. Quan hệ khách hàng
P. Quản lý nợ
P. Ngân quỹ
Tổ Kiểm tra nội bộ
Tổ Tin học

2.1.3 Kết quả kinh doanh chủ yếu
Với định hướng chiến lược đúng đắn về bộ máy tổ chức, mạng lưới hoạt
động, tăng cường công tác huy động vốn mở rộng hoạt động đầu tư, và nâng cao
chất lượng các mặt hoạt động khác, Chi nhánh NHNT Quảng Ninh đã từng bước
vươn lên trưởng thành và phát triển ổn định, góp phần nâng cao thu nhập cho
CBNV, đóng góp cho Ngân sách ngày càng lớn.

Biểu đồ 2.2: Lợi nhuận trước thuế của Chi nhánh NTNT Quảng Ninh
Trong 4 năm qua hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNT Quảng Ninh
vẫn tiếp tục tăng trưởng với chất lượng tương đối cao và ổn định. Cùng với việc
tăng cường đào tạo, ứng dụng công nghệ hiện đại như áp dụng thành công chương
trình NH bán lẻ, thanh toán trực tuyến IBT – online và các dịch vụ phát hành thanh
toán thẻ và tăng cường thông tin quảng cáo thì bên cạnh đó cũng bộc lộ những bất
cập, yếu kém về cơ sở vật chất, về nguồn lực con người, về sự mất cân đối trong
cơ cấu huy động vốn, mất cân đối về nguồn vốn và sử dụng vốn. Công tác
Marketing đã được quan tâm và nâng cấp song còn thiếu đồng bộ và chưa đạt hiệu
quả.

2.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam -
Chi nhánh Quảng Ninh
2.2.1. Về hoạt động huy động vốn
Bảng 2.3: Tình hình huy động vốn của NHNT – Chi nhánh Quảng ninh
Đơn vị tính: Tỷ đồng, triệu USD
Nội dung

tăng trưởng qua các năm, năm 2006 tăng 24,8 % so với năm 2005 (đạt 1022,95 tỷ
đồng) năm 2007 tăng 58,5 % so với năm 2006 (đạt 1621,62 tỷ đồng ) Tỷ trọng
HĐV/Tổng NV tăng mạnh, năm 2007 đạt 81,6 % (năm 2006 là 68,38 %, năm
2005 là 57,14 % ) tăng tính chủ động về vốn do đó phần VHĐ thiếu trước đây của
Chi nhánh thường xuyên phải vay VCB TW bình quân trên 400 tỷ thì đến nay đã
giảm mạnh.
Tuy nhiên xét về cơ cấu nguồn vốn phân theo thời hạn thì vốn huy động
ngắn hạn có chiều hướng tăng mạnh từ tốc độ tăng 7,9 % của năm 2005 so với
năm 2004, năm 2006 đã vọt lên 29,42 % so với năm 2005 ,năm 2007 tăng 38,8 %
so năm 2006. Trong khi nguồn vốn trung dài hạn (TDH) vốn đã chiếm tỷ lệ rất
thấp trên dưới 10 %/vốn huy động lại có xu hướng giảm càng làm cho cơ cấu huy
động vốn của Chi nhánh mất cân đối nghiêm trọng về kỳ hạn. Mặt khác thị phần
huy động vốn của Chi nhánh so với địa bàn chỉ chiếm khoảng 20% có tăng giảm
đôi chút nhưng không đáng kể chứng tỏ khả năng huy động vốn của Chi nhánh
chưa được cải thiện.
Xét về vốn vay NHTW thì có sự giảm mạnh qua các năm, năm 2005 vay
NHTW 490 tỷ đồng, nhưng đến năm 2006 chỉ còn 285 tỷ đồng (giảm 58,16 % so
với năm 2005) năm 2007 là 201 tỷ đồng ( giảm 70,52 % so với năm 2006) chứng
tỏ ngân hàng ngày càng phát triển, không còn phải dựa vào vốn vay của NHTW
2.2.2 Về hoạt động cho vay
Bảng 2.4: Tình hình hoạt động TD của chi nhánh NHNT tỉnh Quảng ninh
Đơn vị tính: Tỷ đồng, triệu USD
Nội dung
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Sosánh
2006/2005
(%)
Sosánh
2007/2006
(%)

2005, năm 2007 tăng lên 58% so với năm 2006, đây là một trong những nỗ lực rất
lớn của Chi nhánh để giải bài toán tìm đầu ra cho nguồn vốn huy động bằng ngoại
tệ. Tuy tốc độ tăng trưởng TD cao nhưng tỷ lệ nợ quá hạn lại giảm xuống qua từng
năm từ 3,14% năm 2005 xuống 3% năm 2006 và chỉ còn 2,9% năm 2007, đặc biệt
là nợ quá hạn của những năm cũ để lại, trong 3 năm gần đây không có nợ quá hạn
mới phát sinh.
Tuy nhiên so sánh với cơ cấu huy động vốn đã phân tích ở trên chúng ta có
thể thấy trong khi vốn huy động ngắn hạn tăng mạnh thì dư nợ ngắn hạn lại có
chiều hướng giảm sút từ 177,19 tỷ đồng năm 2005 xuống còn 171,17 tỷ đồng năm
2006, dư nợ TDH của Chi nhánh lại tăng mạnh luôn chiếm 75% trên tổng dư nợ
nhưng HĐV TDH/∑VHĐ chỉ chiếm khoảng trên 10%. Dư nợ cho vay ngoại tệ
trên tổng dư nợ chỉ đạt xấp xỉ 10% trong 3 năm từ 2005 đến 2007, nhưng vốn huy
động ngoại tệ trên tổng vốn huy động lại chiếm tới 50% mặc dù tỷ lệ này đã được
giảm thấp so với những năm trước đây (khoảng 70%). Như vậy có một sự bất hợp
lý giữa cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn thể hiện ở sự mất cân đối về kỳ hạn huy
động, về cơ cấu huy động giữa nội tệ và ngoại tệ hiện Chi nhánh vẫn ở trong tình
trạng thừa vốn ngoại tệ, thiếu vốn VNĐ đồng thời mất cân đối giữa kỳ hạn huy
động vốn và sử dụng vốn (nói cách khác là kỳ hạn TS Có lớn hơn kỳ hạn TS Nợ)
dẫn đến nguy cơ về rủi ro lãi suất.
2.2.3 Các hoạt động kinh doanh khác
2.2.3.1 Tình hình thanh toán Quốc tế và kinh doanh ngoại tệ
Bảng 2.5: Tình hình thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ của chi nhánh
NHNT tỉnh Quảng ninh
Đơn vị tính: Triệu USD
Nội dung Năm 2005 Năm 2006
Năm 2007
Sosánh
2006/2005
(%)
Sosánh

Số tiền Thị phần (%) Số tiền Thị phần (%)
1. NH Công thương 33,23 16,29 62,49 21,9
2. NH Nông nghiệp 15,11 7,41 24,3 8,5
3. NH Ngoại thương 140,76 69 180,24 63,62
4. NH Đầu tư & PT 7,14 3,5 8,4 2,94
5.NH Cổ phần Hàng Hải 7,52 3,69 7,2 2,52
6. NH CP nhà Hà Nội 0,23 0,11 1,4 0,52
(Nguồn số liệu: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh NHNN Quảng Ninh năm
2006, 2007)
Theo số liệu bảng 2.5, ta thấy kim ngạch thanh toán Quốc tế của Chi nhánh
liên tục tăng trưởng qua các năm từ 125,77 triệu USD năm 2005 lên 140,76 triệu
USD năm 2006 và đạt 180,24 triệu USD năm 2007. Trong đó các lĩnh vực thanh
toán XNK, thanh toán phi mậu dịch, thanh toán thẻ đều tăng đáng kể. Dịch vụ thẻ
với tốc độ phát triển nhanh, đặc biệt là năm 2006 hoạt động kinh doanh thẻ đã có
sự biến đổi lớn về lượng và chất, sản phẩm thẻ ATM Connect 24 đã được đưa vào
sử dụng hàng loạt với số lượng phát hành 3.900 thẻ tăng 116% so với năm 2005.
Cùng với nó là việc triển khai lắp đặt một loạt máy rút tiền tự động ATM, dịch vụ
thẻ đã thực sự vừa là nền tảng vừa là mũi nhọn cho mảng dịch vụ NH bán lẻ, mở ra
một hướng mới cho việc huy động vốn, tiết kiệm chi phí vốn cho NH đồng thời
cũng nâng cao hình ảnh, uy tín của Chi nhánh trên địa bàn. Bên cạnh những thành
tích đáng kể trên hoạt động thanh toán XNK của Chi nhánh có dấu hiệu chững lại,
năm 2005 thanh toán XNK giảm 3,1% so với năm 2004 ,tuy đã tăng trở lại vào
năm 2006 đạt 68,8 triệu USD (tăng 18,02%) năm 2007 tăng lên 89,42 triệu USD
( 29,7%) song thị phần thanh toán quốc tế của Chi nhánh bị giảm từ 69% năm
2006 xuống còn 63,62% năm 2007, ( bảng 2.6 ) chứng tỏ mảng thanh toán quốc tế
vốn là ưu thế của VCB Quảng Ninh đang đứng trước sự cạnh tranh giữa các NH
trên điạ bàn.
Doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh tăng mạnh xấp xỉ khoảng 70%
qua từng năm từ 2005 - 2007 do hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Chi nhánh diễn
ra trong điều kiện tương đối thuận lợi, kim ngạch XNK tăng mạnh, tỷ giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status