ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÍ
Ở VIỆT NAM
Mục Lục
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I.1. Lí do chọn đề tài.
"Bình đẳng giới" chính là bình đẳng nam nữ và là một trong những vấn đề
cơ bản của quyền con người. Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì
bình đẳng giới càng được chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống
- xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lí. Bình đẳng giới trong hoạt động quản
lí, không đơn giản là nam - nữ có số lượng ngang nhau tham gia vào quản lí;
cũng không có nghĩa coi nam, nữ là giống nhau, không tính đến yếu tố tâm
sinh lý, yếu tố xã hội của từng giới trong hoạt động quản lí. Bình đẳng giới
trong hoạt động quản lí thể hiện ở chỗ nam và nữ cùng có vị thế xã hội như
nhau khi tham gia và thực hiện quản lí; sự tương đồng và khác biệt của nam
và nữ (dưới góc độ giới và giới tính) được thừa nhận và được coi trọng như
nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của từng giới; cả cán bộ nam và cán
bộ nữ đều có cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi như nhau trong quá trình thực
hiện quản lí, được hưởng các lợi ích bình đẳng như nhau theo các nguyên tắc
nhất định.
Vấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết
mọi quốc gia trên thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng
cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một trong
những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà.
Sinh thời Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: "Đảng và Chính phủ phải có kế
hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ sao cho ngày càng nhiều
phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo". Hiện nay
Việt Nam là một trong những nước được Liên hợp quốc đánh giá cao trong
việc nỗ lực rút ngắn khoảng khách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm,
kinh tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/ kế hoạch hoá gia đình. Một trong
tử
+ Các sách báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan tới: Tạp chí Xã hôi học,
Tạp chí Giáo dục và lý luận, tạp chí khoa học xã hội…
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu cơ
bản:
1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
Mục đích nhằm phân tích, thu thập thông tin khách quan, khoa học để
tổng hợp cơ sở lý luận của đề tài, là cơ sở là công cụ nền tảng cho vấn đề
cần nghiên cứu.
1.4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
1.4.2.1. Phương pháp điều tra.
Là phương pháp cơ bản, với việc xây dựng và sử dụng mẫu phiếu điều tra về
thự trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực chính tri – xã hội.
1.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm.
Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của các kỳ họp Quốc hội của Đảng và
nhà nước, từ các chỉ thị của các cấp chính quyền, các công văn, chính
sách của Đảng và nhà nước ta về vấn đề bình đẳng giới trong quản lí,
lãnh đạo của đất nước.
1.4.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
Lấy ý kiến của các chuyên gia về mẫu phiếu, cách xử lí, phân tích các số
liệu thu thập được….
1.4.3. Nhóm phương pháp toán học.
Sử dụng các phương pháp toán học để xử lí các số liệu thu được từ mẫu
phiếu điều tra, từ đó đưa ra những kết quả và sự đánh giá chính xác.
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.
Chương I.
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1. Khái niêm cơ bản về giới.
1.1. khái niệm giới.
Ngày nay, thuật ngữ quản lí đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định
nghĩa thống nhất. Có người cho quản lí là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo
sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác.
Cũng có người cho quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối
hợp những nổ lực cá nhân và nhằm đạt được mục đích của nhóm.
“ Quản lí là quá trình làm việc cùng nhau thông qua các cá nhân, các nhóm
cũng như nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích tổ chức”(P. hersey –
K. B Hard, 1995:12)
Định nghĩa chung nhất về quản lí đó là: “Quản lí là quá trình tác động liên
tục, có tổ chức, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng theo
một quy trình nhất định nhằm đạt hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra”
(Học viện CTQGHCM, 2000: 321)
3. Nội dung quản lí trong lĩnh vực chính trị.
Khoản 1, 2, 3, 4 điều 11 Luật Bình đẳng giới qui định bình đẳng giới
trong lĩnh vực chính trị như sau:
- Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia họat
động xã hội.
- Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước,
quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức.
- Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại
biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu
ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị–xã
hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội–
nghề nghiệp.
- Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt,
bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức.
4. Vai trò của phụ nữ trong quản lí.
Số phụ nữ tham gia quản lý nhà nước hiện nay đã tăng nhiều so với trước
đây nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm. Bên cạnh đó, phụ nữ chủ yếu đảm
nhiệm cấp phó.
nước. Theo đánh giá của Văn phòng QH, việc tham gia xây dựng pháp luật
và chính sách, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước và tọa đàm
với cử tri của các nữ đại biểu QH ngày càng có chất lượng. Vì vậy, các chị
càng thêm tự tin, trình bày ý kiến đại diện cho người dân và cho chính giới
nữ trong các kỳ họp của QH.
Hiện nay, số cán bộ công chức (CBCC) nữ tham gia công tác quản lý
nhà nước trong hệ thống chính quyền các cấp nhiều hơn so với trước: Một
Phó Chủ tịch nước, ba Bộ trưởng, 26 thứ trưởng và tương đương, hai Chủ
tịch UBND, 22 Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ CBCC nữ tham
gia lãnh đạo ở cấp bộ, vụ còn thấp, mới khoảng 8 - 15%, chưa tương xứng
lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ.
Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản
lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người
làm công ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp.
Trong số hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp, có khoảng 15% do phụ nữ đứng đầu hoặc nắm giữ cương vị chủ
chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp của một số ngành: dệt, may
mặc, giày dép, thực phẩm, đồ uống chiếm hơn 50%, ở các ngành giao
thông - vận tải, xây dựng, khai khoáng có 20% người quản lý doanh
nghiệp là nữ. Trong số 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình, có 27% do phụ nữ
điều hành.
Mặc dù Ðảng, Nhà nước đã có chủ trương cụ thể, chính sách rõ ràng,
song tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước còn ít. Tỷ lệ nữ CBCC là
lãnh đạo trong các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành và các cơ quan
nghiên cứu khoa học lại càng thấp. Hơn nữa, nữ lãnh đạo thường chỉ liên
quan các lĩnh vực xã hội. Rất hiếm nữ CBCC làm lãnh đạo trong lĩnh vực
quản lý kinh tế, kế hoạch, nghiên cứu khoa học. Tỷ lệ cán bộ nữ trong các
cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở chỉ chiếm khoảng 10 - 11%. Trong các
cấp ủy đảng, số nữ CBCC giữ vị trí trọng trách rất ít. Tỷ lệ trung bình nữ
CBCC ở vị trí chủ chốt như bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ chỉ khoảng
THỰC TRẠNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÍ Ở VIỆT
NAM
1. Thực trạng về bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam.
Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách
về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài năng của mình
và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước,
chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp… Hàng loạt văn bản
pháp luật được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và
thực hiện bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn
nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới.
Đặc biệt, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng
nhân dân các cấp đã quy định rõ phụ nữ có quyền bầu cử, ứng cử, cũng như
các cơ chế để đảm bảo phụ nữ được thực hiện những quyền đó.
Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước là nữ. Trong
Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25%. Tỷ lệ đại
biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1%
lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1%. Mặc dù tỷ lệ này chưa cao,
nhưng đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm
nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung
ương đến địa phương.
Bảng 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam qua các kỳ bầu cử
Nhiệm kỳ Nữ Đại biểu Tổng số Đại biểu Tỷ lệ nữ/ Tổng số
Khoá XII (2007-2011) 127 493 25,76%
Khoá XI (2002-2007) 136 498 27.31%
Khoá X (1997-2002) 118 450 26.22%
Khoá IX (1992-1997) 73 395 18.48%
Khoá VIII (1987-
1992)
88 496
Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải
thưởng Kovalevskaia Nhiều nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề
nghiệp, câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để tiếp tục phát huy trí tuệ,
tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội và là rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ. Theo
đánh giá của Ban tổ chức Trung ương, sau 5 năm tổng kết Chỉ thị 37 và 2
năm thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy
đảng, chính quyền, đại biểu dân cử vẫn còn thấp, chưa ổn định.
Để phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã hội,
nhất là vai trò trong quản lý lãnh đạo, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến
cơ sở, cần nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí và tài năng của phụ nữ cũng như
sự đóng góp của họ để đưa vị thế xã hội của người phụ nữ Việt Nam lên một
tầm cao mới.
Theo số liệu của Hội Phụ nữ, tỷ lệ nữ trong các tổ chức Đảng nhiệm kỳ
2010-2015 cấp T.Ư là 8,57%, tỉnh/thành là 11,37%, quận/huyện 15,01%,
xã/phường 18,01%, tăng không đáng kể so với nhiệm kỳ trước và không đạt
tiêu chuẩn 15% ở cấp T.Ư và tỉnh/thành. Còn trong Quốc hội, nhiệm kỳ
2011-2016 chỉ đạt 24,4%. Đây là nhiệm kỳ thứ 2 tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội
bị tụt giảm. Nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là 25,76%.
Bảng 2: Tỷ lệ phân bố nữ đại biểu trong một số cơ quan của Quốc hội
Khoá 2002-2007 Khoá 2007 - 2011
Nữ Nam Nữ Nam
Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh
niên, thiếu niên và nhi đồng
43,2 56,8 28,2 71,8
Hội đồng dân tộc 43,6 56,4 56,4 43,6
Uỷ ban về các vấn đề xã hội 40,5 59,5 37,5 62,5
Uỷ ban pháp luật 11,7 88,3 14,3 85,7
giới”. Tuy nhiên, phụ nữ giữ vị trí chủ chốt trong cơ quan Đảng, dân cử và
chính quyền còn ít ỏi, hiếm hoi hơn nữa. Ở cấp T.Ư nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ
có 1 nữ Ủy viên Bộ Chính trị và 2 nữ Bí thư. Cấp địa phương, phụ nữ là Bí
thư Tỉnh ủy, Huyện ủy và Đảng ủy xã chỉ đạt 0,25%; 5,5% và 7,25%. Thậm
chí, 9/35 tỉnh thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt.
“Không chỉ là tỷ lệ thấp, chủ yếu giữ chức “phó”, mà phụ nữ còn được giao
cho các mảng “chung chung” ở lĩnh vực xã hội nên tiếng nói của phụ nữ
trong quá trình lập pháp và quyết định những vấn đề thiết yếu như kinh tế,
ngân sách, đối ngoại, an ninh quốc gia càng hạn chế” – bà Ngô Thị Thu Hà -
Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ
nói.
Bà Hà chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ ít được đề bạt lên
vị trí cao hơn là vì Luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm
hơn nam giới (55 tuổi với nữ và 60 tuổi với nam). Điều này trái với khoản 4,
điều 11, Luật Bình đẳng giới: “Nam nữ bình đẳng về chuyên môn, độ tuổi
khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí, quản lý, lãnh đạo của cơ quan tổ
chức”. Đồng thời cũng mâu thuẫn với Nghị quyết 11-NQ/TƯ của Bộ Chính
trị: “Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy
hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm.
Trong nhiệm kỳ Công đoàn 2008-2010 (cấp cơ sở), 2008 – 2013 (cấp trên cơ
sở), tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở
chiếm tỷ lệ 26.6%; Trong đó số nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn cơ
sở, trên cơ sở là 14%, số nữ tham gia UBKT công đoàn các cấp là 29%. Tỷ
lệ nữ tham gia BCH Công đoàn các cấp hiện nay ở khối viễn thông thấp, chỉ
khoảng 25%. Khối bưu chính khoảng 48%. Tuy nhiên tại một số đơn vị viễn
thông, công ty cổ phần, liên doanh, TNHH số nữ tham gia BCH Công đoàn
rất ít. Đòi hỏi công đoàn các cấp cần quan tâm hơn nữa trong việc đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ nữ để tăng cường sự tham gia của nữ trong hoạt động công
đoàn ở các đơn vị này.Trong nhiệm kỳ Công đoàn 2008-2010 (cấp cơ sở),
2008 – 2013 (cấp trên cơ sở), tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Công đoàn
Tiến sĩ 15,44 84,58 17,02 82,98
Giáo sư 4,3 95,70 3,10 96,90 5,10 94.90
Nguồn: Hội đồng chức danh giáo sư, Bộ Giáo dục-Đào tạo qua các năm
2. Nguyên nhân của thực trạng.
Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng phụ nữ ít tham gia quản
lí, và dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự
khác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học. Tuy nhiên,
trong thực tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và có thể
gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ lãnh đạo -
những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định và thực hiện
chính sách đối với phụ nữ và người dân.
Vậy thế nào là định kiến giới? Các định kiến giới là một tập hợp các
đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là
thuộc tính của nam giới hay phụ nữ. Các quan niệm này thường sai lệch và
hạn chế những điều mà một cá nhân có thể làm. Ví dụ: một số định kiến coi
phụ nữ là phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, dịu dàng và thứ yếu. Một số định
kiến coi nam giới là độc lập, mạnh mẽ, có năng lực, quan trọng hơn và là
người ra quyết định tốt hơn; hoặc "trai anh hùng, gái thuyền quyên", hay
"trai tài, gái sắc". Trong thực tế, những đặc điểm tính cách này không chỉ
của riêng nam giới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể mang
những đặc điểm này. Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho
nam hay nữ dưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một
khía cạnh nào đó. Ví dụ, người ta hay cho rằng: phụ nữ không đủ mạnh để
làm lãnh đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái. Chính định
kiến đó đã hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà
họ có khả năng hoàn thành một cách dễ dàng. Các định kiến giới hiện nay
không chỉ gây bất lợi cho phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng bị bất lợi, như
hạn chế cơ hội của nam giới tham gia vào công việc chăm sóc gia đình hay
lựa chọn một hành vi lành mạnh là không hút thuốc hay không uống nhiều
Trong khi đó, công việc gia đình vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ
nữ. Và cũng chính vì vậy mà hậu quả là nhiều người phụ nữ giỏi giang, được
học hành tử tế đã phải nhường bước cho chồng và lui về chăm sóc gia đình,
để giữ tròn hạnh phúc.
Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc
phấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc. Đó cũng là lý
do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí cao
hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn. Đó cũng là nguyên nhân
tụt hậu của giới nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ và cả
trong lãnh đạo và quản lý.
Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm
lãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phù
hợp) bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đại
sự”, phụ nữ thì chỉ nên làm việc công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành
cho gia đình. Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong lãnh đạo, và
đặc biệt ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với giới nữ của
mình. Ngoài hiện tượng níu kéo áo nhau ở một số phụ nữ, thì vấn đề ở đây
vẫn là do định kiến giới, coi nam giới ở vị trí lãnh đạo tốt hơn là phụ nữ nên
trong các kỳ bầu cử, những người gạt phụ nữ khỏi danh sách bầu cử có khi
không phải là nam, mà lại là nữ.
Không ủng hộ phụ nữ làm công tác xã hội là một trong những nguyên
nhân dẫn tới tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương
xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ. Phụ nữ chiếm
tỷ lệ không thua kém trong nhiều ngành nghề và học tập trong các trường,
lớp đào tạo (đại học 47,23%; cao đẳng 50,01%), nhưng số nữ tham gia lãnh
đạo, quản lý đạt tỷ lệ thấp. Nữ lãnh đạo, quản lý ở cấp Trung ương, cấp vụ
trở lên và cán bộ nữ chủ chốt cấp tỉnh hiện nay hầu hết ở độ tuổi trên 50; tỷ
lệ cán bộ nữ cấp phòng ở huyện, quận giảm tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội
khóa XII thấp hơn tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XI (khóa XI là
27,31%, khóa XII là 25,76%).
cần được phát huy, nếu không bị định kiến trói buộc thì sẽ trở thành sự tiến
bộ, phát triển và họ sẽ đóng góp được rất nhiều cho sự phát triển của đất
nước.
Hai là, để có thể phát huy được vai trò và khả năng của phụ nữ, các dịch vụ
xã hội dành cho gia đình cần được phát triển một cách rộng rãi và phù hợp
với thu nhập để phụ nữ dễ dàng được tiếp cận. Tạo điều kiện cho phụ nữ đầu
tư sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập, có tiếng nói trong gia đình và từ
đó ít lệ thuộc hơn vào người chồng. Khắc phục về cơ bản tình trạng bất bình
đẳng trong một số lĩnh vực như: quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, các phúc
lợi xã hội, chế độ bảo hiểm …
Ba là, phụ nữ cần được giảm bớt gánh nặng gia đình. Muốn vậy, không chỉ
chia sẻ, nam giới cần phải tham gia vào công việc gia đình cùng với phụ nữ.
Tuy nhiên, trong khi bình đẳng giới đang là một quá trình thì việc nam giới
chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ cũng có một ý nghĩa to lớn. Chính sự
chia sẻ và cảm thông của người chồng đã làm cho nhiều người phụ nữ đạt
được thành công trong sự nghiệp.
Bốn là, lãnh đạo ở những cơ quan, đơn vị có nhiều phụ nữ cần được nâng
cao nhận thức giới để từ đó có được công bằng giới trong tuyển dụng, đào
tạo, đề bạt. Đặc biệt, trên phạm vi toàn xã hội, cần tạo điều kiện để người
phụ nữ có thời gian làm công việc gia đình, không nên coi phụ nữ cũng như
nam giới trong việc phân công, đòi hỏi, yêu cầu mà không tính đến việc
người phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ.
Năm là, đối với bản thân phụ nữ, cũng cần có sự kết hợp hài hòa chức năng
xã hội và gia đình. Bởi đây là nét đặc trưng của phụ nữ nước ta. Là phụ nữ
thường phải có gia đình, phải sinh con và nuôi dạy con. Đối với phụ nữ,
dung hòa giữa gia đình và công việc xã hội là điều không mấy dễ dàng. Tuy
nhiên đã có nhiều phụ nữ biết cách giải quyết tốt hai chức năng này và đã trở
thành người mẹ hiền, vợ đảm, lại là nhà quản lý giỏi, nhà khoa học thành
đạt. Kinh nghiệm của họ mà nhiều phụ nữ cần học tập là, cố gắng thu xếp
một cách khoa học để vừa có thời gian cho gia đình, vừa hoàn thành tốt công
các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là
sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội
và điều kiện cho nam, nữ phát triển toàn diện. Đồng thời tạo điều kiện và cơ
hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và
gánh vác phần lớn lao động gia đình
“Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, mỗi giới có vai trò riêng của mình.
Song để phụ nữ được bình đẳng với nam giới, không thể chỉ nghĩ giản đơn là
chuyện “hôm nay anh nấu cơm, quét nhà, rửa bát; ngày mai em rửa bát, quét
nhà, nấu cơm. Quyền bình đẳng của phụ nữ phải được giải quyết trên cơ sở
các biện pháp tổng hợp về kinh tế, văn hóa xã hội”.
Nhưng quan trọng nhất vẫn là phụ nữ cần biết bứt phá ra khỏi những ràng
buộc mang tính định kiến của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời từng
nói: “Giành lại quyền bình đẳng cho phụ nữ là cuộc cách mạng lâu dài, to
lớn và khó nhất. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và
Chính phủ hay nam giới giải quyết mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành
lấy”.
Bình đẳng là một trong những quyền cơ bản của phụ nữ một nước độc lập,
tự do. Nhưng muốn được bình đẳng, phụ nữ cần phải học. Học để có tri
thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng
nhân đạo, để tự tin khẳng định mình. Chỉ có tự do, bình đẳng, phụ nữ mới
thoát khỏi những rào cản mang tính định kiến của xã hội, mới có điều kiện
phát huy sáng tạo cá nhân mà thể hiện được tài năng, nhiệt tình cống hiến
ngày càng nhiều hơn cho đất nước.