LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm kể từ công cuộc đổi mới, sự đóng góp của ngành
nông nghiệp vào phát triển kinh tế nước ta đã đạt được những kết quả đáng
kể và đang ngày càng tăng lên. Sản phẩm của ngành nông nghiệp không
những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà nhiều sản phẩm còn có
khả năng xuất khẩu ra nước ngoài và đạt được những vị thế cao trên thị
trường thế giới. Ví dụ: gạo có khối lượng xuất khẩu đứng thứ 2 trên thị
trường thế giới trong nhiều năm: năm 2001, 2004…Năm 2001, thị phần xuất
khẩu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới là 14%, năm 2004 là 16%
(1)
. Cà
phê cũng có khối lượng xuất khẩu đứng thứ 2 trên thị trường thế giới liên tục
từ năm 2003 đến nay
(2).
Tuy nhiên, mặc dù các hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam có
khối lượng lớn, xếp hạng cao trên thị trường thế giới nhưng tổng giá trị xuất
khẩu thu được còn thấp. Nguyên nhân chủ yếu của thực tế này là phần lớn
các nông sản xuất khẩu của chúng ta là dưới dạng thô, sơ chế, tỉ lệ chế biến
nông sản thấp. Tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm vẫn chưa
đáp ứng, thỏa mãn các tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu lớn như Liên
minh châu Âu, Hoa Kỳ.
Với mục tiêu duy trì và nâng cao vị thế của hàng nông sản xuất khẩu
đồng thời làm tăng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu, việc nâng cao năng lực
cạnh tranh các mặt hàng nông sản Việt Nam là một điều hết sức cần thiết.
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa như trên, em lựa chọn đề tài:
“Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam sau 2
1
Theo báo cáo “Các nước xuất khẩu gạo hàng đầu giai đoạn 1994-2004” của Bộ Nông nghiệp Mỹ.
2
Theo báo cáo “Tổng khối lượng sản xuất của các nước xuất khẩu từ năm 2003 đến năm 2008” từ Tổ chức
Chương II: Thực trạng năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO
3
Theo “Chiến lược phát triển trông trọt đến năm 2020” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.
2
Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông
sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam trong thời gian tới
Trong khuôn khổ có hạn của một bài khóa luận tốt nghiệp, bài viết
không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy cô và các bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Phạm Thị Hồng Yến đã tận tình
hướng dẫn em trong quá trình hoàn thành bài khóa luận này.
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NĂNG LỰC CẠNH
TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CHỦ LỰC
1. Năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu chủ lực
1.1. Năng lực cạnh tranh
1.1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một tất yếu khách quan và
không ngừng diễn ra giữa các chủ thể trong nền kinh tế từ ở cấp độ giữa các
cá nhân đến các doanh nghiệp và cho đến các quốc gia. Trong quá trình cạnh
tranh với nhau, nhằm giành được lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp
dụng nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển lợi thế của mình trên thị
trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể, được
gọi là năng lực cạnh tranh.
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trên phạm vi
toàn cầu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm năng
lực cạnh tranh. Nguyên nhân là, thứ nhất, do phạm vi tiếp cận quá lớn, năng
lực cạnh tranh có thể là của sản phẩm, doanh nghiệp hoặc quốc gia. Thứ hai,
mục tiêu của từng đối tượng là khác nhau. Ví dụ, đối với doanh nghiệp, mục
khả năng của một đất nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách
kinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, mà không
gặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán”. Đây là khái niệm vừa
mang tính kinh tế vĩ mô, vừa mang tính ngẫu nhiên, bởi vì, khi tính cạnh
tranh được xác định như là năng lực để duy trì thị phần có khả năng tạo ra
lợi nhuận thì năng lực này lại có triển vọng chưa rõ ràng và mang tính ngẫu
nhiên.
Trên cơ sở các khái niệm trên đây ta có thể đưa ra một khái niệm
chung nhất về năng lực cạnh tranh của quốc gia như sau: năng lực cạnh
tranh của quốc gia là khả năng đáp ứng đước các yêu cầu thay đổi của thị
4
Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF
5
Michael Porter là nhà kinh tế học Hoa Kỳ
6
Theo sách “ Lý thuyết năng lực cạnh tranh của quốc gia” của M. Porter
5
trường, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì được
mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.
* Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Theo tổ chức UNCTAD thuộc Liên hiệp quốc cho rằng: năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững
hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành
hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp.
Theo dự án VIE 01/025
(7)
, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu được lợi nhuận của doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước.
Trên cơ sở các quan điểm trên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
cũng trở thành lợi thế cạnh tranh và cũng không phải lợi thế cạnh tranh nào
cũng là lợi thế so sánh. Một sản phẩm có lợi thế so sánh nhưng không được
khai thác hiệu quả sẽ không tạo nên năng lực cạnh tranh, trong khi đó một
sản phẩm tuy lợi thế so sánh kém hơn so với đối thủ cạnh tranh nhưng nhờ
có chính sách hỗ trợ hợp lý của Nhà nước nên vẫn có thể có lợi thế cạnh
tranh là lợi thế nảy được hiện thực hóa thành năng lực cạnh tranh sản phẩm.
Vì vậy, chúng ta cần phân biệt và nhận rõ đâu là lợi thế so sánh để khai thác
và phát huy có hiệu quả hơn là chỉ tác động vào những sai biệt về giá cả để
có năng lực cạnh tranh “ảo” của sản phẩm nhờ chính sách vĩ mô.
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đánh giá bởi 2 nhóm chỉ tiêu,
gồm: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu định lượng.
_Nhóm chỉ tiêu định tính, bao gồm các chỉ tiêu: chất lượng sản phẩm,
mẫu mã, vệ sinh an toàn sản phẩm, thương hiệu.
7
_ Nhóm chỉ tiêu định lượng, bao gồm các chỉ tiêu: doanh thu, thị
phần, giá cả.
* Nhóm chỉ tiêu định tính
_ Chất lượng sản phẩm: Chất lượng là một trong các tiêu chí quan
trọng nhất khi người mua lựa chọn sản phẩm. Chất lượng của sản phẩm phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như nguyên liệu sản xuất (nguyên liệu, phụ liệu),
trình độ công nghệ và kỹ thuật của công nhân. Một sản phẩm tốt không
những đảm bảo các yếu tố bên trong mà quan trọng hơn cả là phải thỏa mãn
đúng thị hiếu của khách hàng ở từng thời điểm, từng khu vực.
_ Mẫu mã: Mẫu mã là kiểu dáng, hình thức bên ngoài của sản phẩm,
là cái tạo ra sự ấn tượng của khách hàng trước khi tiêu dùng sản phẩm. Mẫu
mã càng đẹp sẽ càng khiến khách hàng chú ý tới sản phẩm, quan tâm và biết
đến sản phẩm nhiều hơn. Từ đó, sản phẩm sẽ tiếp cận đến với người tiêu
dùng dễ dàng hơn.
_Thương hiệu: Thương hiệu chính là tài sản quý giá đối với bất kỳ
vị trí quan trọng.
Hàng xuất khẩu chủ lực là hàng chiếm vị trí quyết định trong kim
ngạch xuất khẩu do có thị trường nước ngoài và điều kiện sản xuất trong
nước thuận lợi.
8
Theo sách: “Việt Nam-WTO, những cam kết liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn và doanh
nghiệp”, trang
9
Như vậy khái niệm mặt hàng xuất khẩu chủ lực được đưa ra nhằm chỉ
một nhóm hàng trong cơ cấu hàng xuất khẩu của một quốc gia, phân biệt với
hàng thứ yếu và hàng quan trọng.
Sự phân loại này chỉ dựa trên tính chất tỷ trọng giá trị xuất khẩu của
mặt hàng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng tỷ trọng này cụ thể là bao
nhiêu để coi là hàng xuất khẩu chủ lực lại không được thống nhất giữa các
quốc gia. Tùy từng quốc gia khác nhau, tùy từng giai đoạn khác nhau, mà tỷ
trọng này được chia ra khác nhau
Có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về mặt hàng xuất khẩu chủ
lực như sau:
Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là mặt hàng xuất khẩu có khả năng tổ
chức sản xuất trong nước một cách có hiệu quả, có thị trường tiêu thụ ngoài
nước rộng lớn, tương đối ổn định trong thời gian dài và đóng góp kim
ngạch lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước.
Vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn. Một
mặt hàng này ở thời điểm này có thể được coi là hàng xuất khẩu chủ lực,
nhưng ở thời điểm khác thì có thể là hàng xuất khẩu quan trọng, thậm chí là
hàng xuất khẩu thứ yếu. Vì vậy, từng theo từng giai đoạn khác nhau mà
chúng ta có danh sách các mặt hàng xuất khẩu chủ lực khác nhau.
Một mặt hàng trở thành hàng xuất khẩu chủ lực phải có 4 yếu tố cơ
bản sau: Thứ nhất là, phải tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước; thứ
hai là, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên
sản phụ thuộc vào chất lượng, giá bán và quá trình tổ chức tiêu thụ của mặt
hàng.
9
Theo “Chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2020” của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn”
11
Doanh thu của hàng nông sản tỉ lệ thuận với giá bán của nó, do đó với
sản lượng sản phẩm được tiêu thụ như nhau, mặt hàng nông sản có năng lực
cạnh tranh cao thì giá bán của mặt hàng này đạt giá trị cao. Trên thực tế,
những mặt hàng nông sản có giá bán cao phải là những mặt hàng có chất
lượng tốt, tỉ lệ chế biến cao. Việc tăng sản lượng và doanh thu của một mặt
hàng nông sản ngoài phụ thuộc vào giá bán, chất lượng còn phụ thuộc vào
quá trình tổ chức tiêu thụ của mặt hàng.
1.3.2. Thị phần hàng nông sản xuất khẩu lớn.
Trên thị trường hàng nông sản, mỗi loại mặt hàng nào cũng có một
cuộc cạnh tranh không ngừng diễn ra giữa các sản phẩm đến từ các nhà sản
xuất khác nhau, tranh giành khách hàng nhằm tăng số lượng sản phẩm tiêu
thụ của mình. Thị phần thị trường của sản phẩm lớn hay nhỏ thể hiện năng
lực cạnh tranh của sản phẩm đó là mạnh hay yếu so với các đối thủ khác trên
thị trường.
Độ lớn của thị phần sản phẩm phản ánh năng lực cạnh tranh của sản
phẩm và vị thế của sản phẩm trên thị trường thế giới. Một sản phẩm có thị
phần lớn trên thị trường thì sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh cao và tiềm
năng cạnh tranh lớn. Ngược lại, sản phẩm có thị phần nhỏ, hay giảm sút trên
thị trường thì sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh yếu, dễ có khả năng bị
loại ra khỏi trên thi trường.
Khi một sản phẩm đảm bảo được các yếu tố bên trong như có chất
lượng sản phẩm tốt hơn, giá cả thấp hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
tốt hơn,…sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Một khi sản phẩm
này gặp cơ hội thị trường, công tác xúc tiến bán hàng hiệu quả, nhanh gọn sẽ
tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường, buộc các đối thủ cạnh tranh
13
năng cạnh tranh về chi phí chỉ là điều kiện cần chứ không phải là điều kiện
đủ đối với việc duy trì và mở rộng thị phần bởi vì năng lực cạnh tranh của
sản phẩm còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thông tin, năng lực kinh
doanh của các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, năng lực marketing quốc
tế, khả năng đối phó rủi ro v.v… Như vậy, do chi phí thấp mới chỉ là khởi
đầu của tính cạnh tranh, kinh doanh, vấn đề đặt ra là cần phải biết chuyển từ
lợi thế so sánh về chi phí thấp đến năng lực cạnh tranh trong hoạt động xuất
khẩu hàng nông sản. Ngoài ra, từ khâu sản xuất đến khâu xuất khẩu hàng
nông sản phải trải qua hàng loạt các khâu dữ trự, chế biến và tác động của
môi trường thể chế chính sách trong và ngoài nước v. v…có ảnh hưởng
không nhỏ đến năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu dựa trên
tiêu chí chi phí sản xuất, người ta dùng chỉ số chi phí nguồn lực trong nước
(Dosmetic Resource Cost – DRC) của một sản phẩm là chỉ số thường dùng
để đo sức cạnh tranh của sản phẩm trong trường hợp không có những sai
lệch về giá cả do những can thiệp về chính sách. Ý nghĩa của DRC phản ánh
chi phí thực sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một hàng hóa nào
đó. DRC biểu thị tổng chi phí của các nguồn lực trong nước được sử dụng
tương ứng với 1 đôla thu được từ sản phẩm đem bán. Do đó, DRC nhỏ hơn 1
có nghĩa là cần một lượng nguồn lực trong nước nhỏ hơn 1 để tạo ra được 1
đồng giá trị gia tăng quốc tế, khi đó sản phẩm có lợi thế cạnh tranh. DRC
lớn hơn 1 thì có nghĩa là cần một nguồn lực lớn hơn 1 để tạo ra được 1 đồng
giá trị gia tăng theo giá quốc tế, và như vậy sản phẩm không có lợi thế cạnh
tranh.
b. Giá hàng nông sản xuất khẩu cao
Trong nền kinh tế thị trường, việc xác định giá của sản phẩm chịu sự
tác động của nhiều nhân tố khác nhau như chi phí cho sản phẩm, nhu cầu thị
14
trường về sản phẩm, mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, các
phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, vừa phải thỏa mãn các yêu cầu liên
quan đến đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm như dư lượng kháng sinh và
chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm, các quy định về bảo vệ môi trường, các
điều kiện tiêu chuẩn đối với cơ sở chế biến xuất khẩu v.v…
1.3.5. Thương hiệu và uy tín hàng nông sản xuất khẩu tốt.
Thương hiệu và uy tín của hàng nông sản chính là sự tổng hợp các
thuộc tính của sản phẩm như chất lượng, lợi ích, mẫu mã, và dịch vụ của sản
phẩm. Thương hiệu không những là dấu hiệu để nhận biết và phân biệt sản
phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác, mà nó
còn là tài sản rất có giá trị của doanh nghiệp, là uy tín và thể hiện niềm tin
của người tiêu dùng đối với sản phẩm.
Ngày nay, phần lớn các sản phẩm xuất khẩu trên thị trường quốc tế
đều có gắn thương hiệu. Thương hiệu của sản phẩm đã trở thành tài sản vô
cùng quý giá và là vũ khí quan trọng trong cạnh tranh. Thương hiệu của một
mặt hàng nông sản nào càng nổi tiếng, mạnh thì sức cạnh tranh của hàng đó
càng lớn. Điều đó có nghĩa là, nếu một sản phẩm nào đó đã có được uy tín
và hình ảnh tốt đối với người tiêu dùng thì sản phẩm đó có một lợi thế cạnh
tranh hơn hẳn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Đó chính là giá trị
vô hình của thương hiệu hàng nông sản tạo ra sự khác biệt của sản phẩm đối
với khách hàng.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh khốc
liệt, không ngừng, muốn đứng vững được trên thị trường buộc các doanh
nghiệp phải tạo dựng cho hàng nông sản của mình một thương hiệu mạnh,
16
một thương hiệu có tên tuổi trong lòng khách hàng. Đó là một trong các tiêu
chí quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh và sự tồn tại của hàng xuất
khẩu trên thị trường.
1.4. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất
khẩu
Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt khi nước ta đã
nay, Việt Nam có khoảng 70% dân số cả nước sống ở nông thôn và làm sản
xuất nông nghiệp, xuất khẩu nông sản sẽ vừa tận dụng được lợi thế nguồn
lao động rẻ vừa tạo công ăn việc làm cho nông dân và người lao động, góp
phần làm tăng thu nhập quốc dân, cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm
nghèo, tạo sự cân bằng giữa thành thị và nông thôn. Nhờ tăng cường xuất
khẩu nông sản ta thị trường thế giới, năm 1993, thu nhập một hộ nông dân
mới chỉ 7,7 triệu đồng/1 năm, nhưng đến năm 2008, mức thu nhập này đã
tăng gần 2,5 lần, đạt 16,8 triệu đồng/1 năm.
(10)
1.4.3. Tạo nguồn ngoại tệ phục vụ cho sự phát triển kinh tế.
Xuất khẩu nông sản tạo ra nguồn thu ngoại tệ cơ bản và vững chắc
nhất, góp phần quan trọng vào việc cải thiện cán cân thanh toán và tăng dự
trữ ngoại tệ của đất nước. Trong điều kiện đất nước còn nghèo, đồng nội tệ
chưa có khả năng là đồng tiền có khả năng chuyển đổi trên thế giới, thì xuất
khẩu nông sản có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu ngoại tệ để
nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ và vật tư cần thiết cho sự phát triển
kinh tế đất nước. Hơn nữa, việc hạn chế nhập khẩu một số sản phẩm lương
10
Theo Niêm giám thống kê 2008
18
thực, thực phẩm bằng việc phát triển và mở rộng sản xuất trong nước đã góp
phần làm giảm gánh nặng ngoại tệ vốn khan hiếm đối với nước ta hiện nay.
1.4.4. Góp phần mở rộng hợp tác quốc tế.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, đất nước ta
với tư cách là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ đang thúc đẩy liên kết mở
rộng quan hệ thương mại với các nước trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi
cùng nhau phát triển. Trong ngành nông nghiệp, nhiều nước đã hợp tác đầu
tư, liên doanh liên kết với Việt Nam trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến và
xuất khẩu hàng nông sản.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và sự xuất hiện nhiều mặt hàng nông sản
trường. Quốc hội Hoa Kỳ có thể thông qua một đạo luật để trợ cấp và bảo hộ
cho hoạt động xuất khẩu nông sản của Hoa Kỳ. Đồng thời, Chính phủ Hoa
Kỳ có chính sách bảo hộ khá tinh vi đối với hàng nông sản thông qua các
hàng rào kỹ thuật và hành chính như quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật như
cấm các mặt hàng nông sản biến đổi gen, quy định về đăng ký nhãn hiệu
hàng hóa, quy định chặt chẽ về bao bì đóng gói, ban hành đạo luật về bảo vệ
lợi ích người tiêu dùng…
2.1.3. Thực hiện hoạt động tài trợ xuất khẩu
Các hoạt động tài trợ xuất khẩu được thực hiện bao gồm tài trợ trước
khi giao hàng và tài trợ sau khi giao hàng. Chính phủ Hoa Kỳ khuyến khích
các ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng xuất khẩu ở mức lãi suất hợp lý.
Trên thực tế, các hợp đồng bảo hiểm hay bảo lãnh do các cơ quan tín dụng
xuất khẩu nhà nước cấp như: ngân hàng xuất - nhập khẩu được coi là khoản
20
đặt cọc chăc chắn để các ngân hàng thương mại cho các nhà xuất khẩu vay
tiền với điều kiện ưu đãi. Quỹ tài trợ xuất khẩu không chỉ có tác dụng duy trì
giá cả ổn định trong sản xuất, chế biến mà còn là sự trợ giúp cần thiết khi
cần đổi mới trang thiết bị để nâng cao mức độ chế biến, cải thiện chất lượng
và an toàn khi sử dụng, hỗ trợ thâm nhập thị trường mới hay phát triển một
sản phẩm mới.
2.1.4. Xây dựng thương hiệu, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư rất lớn vào các hoạt động quảng bá
sản phẩm và tuyên truyền sâu rộng trong công chúng để hình thành những
thói quen mới trong tiêu dùng hàng nông sản, đồng thời xây dựng thương
hiệu hàng nông sản theo hướng hình thành những thương hiệu nổi tiếng để
tăng giá hàng nông sản xuất khẩu.
Ở Hoa Kỳ, lợi ích của người tiêu dùng được bảo vệ rất cao thông qua
các đạo luật và các Hiệp hội bảo vệ lợi ích người tiêu dùng. Khi hàng hóa bị
người tiêu dùng phản đối về chất lượng, doanh nghiệp phải có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng một cách thỏa đáng. Vì vậy, chất
hóa sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng
nằm trong quy hoạch đầu tư đồng bộ của Chính phủ. Do vậy, tiềm năng
trong sản xuất nông nghiệp được khai thác và phát huy triệt để, sản xuất phát
triển nhanh chóng, xuất khẩu hàng đầu trên thế giới như gạo, sắn, cao su,
v.v…
2.1.2. Chính sách thuế và tín dụng.
Để khuyến khích xuất khẩu hàng nông sản, chính phủ Thái Lan thực
hiện các biện pháp khuyến khích xuất khẩu gạo như bỏ chế độ hạn ngạch,
không thu thuế xuất khẩu, nhà xuất khẩu chỉ nộp thuế lợi tức nếu có, miễn
thuế nhập khẩu máy móc thiết bị và chuyển giao công nghệ nước ngoài,
giảm 5% thuế thu nhập của công ty trong 5 năm sau thời kỳ được miễn thuế,
giảm gấp đôi thuế thu nhập về điện nước, giao thông vận tải trong 1 năm cho
22
các cơ sở chế biến kinh doanh xuất khẩu gạo. Thái Lan áp dụng chính sách
hỗ trợ xuất khẩu gạo như cho nhà xuất khẩu vay vốn ngân hàng với lãi suất
ưu đãi, đặc biệt là vốn dài hạn với lãi suất thấp. Ngoài ra, Nhà nước còn hỗ
trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo bằng nhiều hình thức khác nhau như
mua lại gạo của các nhà xuất khẩu, chịu chi phí lưu kho, bảo quản, vận
chuyển khi giá gạo trên thế giới xuống thấp v.v…đồng thời Nhà nước còn
định hướng những thị trường chủ yếu, can thiệp để ký những hợp đồng lớn.
2.1.3. Chính sách giá cả nông sản.
Chính sách giá cả nông sản của Thái Lan là một trong các chính sách
can thiệp của Chính phủ vào quá trình sản xuất và xuất khẩu được đánh giá
là khá thành công. Dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, người nông
dân được tự quyết định mô hình canh tác và tiêu thụ sản phẩm do mình sản
xuất ra. Tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng mà cơ chế giá có sự
thay đổi linh hoạt, những mục tiêu của chiến lược chính sách giá của Chính
phủ Thái Lan là: thứ nhất, khuyến khích người sản xuất trên cơ sở đảm bảo
giá nơi sản xuất có lợi cho người sản xuất và giá bán lẻ thấp có lợi cho người
tiêu dùng; thứ hai, đảm bảo ổn định giá nông sản ở thị trường trong nước,
2.3. Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có đất tự nhiên rộng, nhưng diện tích đất
canh tác ít (chiếm 10,9% tổng diện tích đất tự nhiên, bình quân diện tích đất
canh tác trên đầu người 0,11 ha/người). Hiện nay, Trung Quốc là nước có
sản lượng nông sản lớn trong khu vực châu Á và thế giới.
2.3.1. Đa dạng hóa nông sản xuất khẩu và cải thiện chất lượng sản phẩm
theo hướng toàn diện.
Đa dạng hóa sản phẩm nông sản xuất khẩu, cải thiện chất lượng và
hiệu quả được coi là định hướng cơ bản của Trung Quốc trong quá trình điều
chỉnh sản xuất nông nghiệp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm
nghiệp, và trồng cây ăn quả. Trung Quốc đã có những chính sách khuyến
24
khích sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu như tập trung sản xuất sản
phẩm có ưu thế như ngũ cốc, chè, chăn nuôi lợn. Đưa ra những chinh sách
ưu tiên đặc biệt cho những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao như các
loại giống lai như lúa lai, ngô lai.
2.3.2. Đầu tư trọng điểm cho khâu bảo quản và chế biến nông sản xuất
khẩu.
Trung Quốc đã hướng vào việc nâng cao giá trị hàng nông sản xuất
khẩu thông qua tăng đầu tư vào khâu bảo quản và chế biến bắt đầu từ những
năm cải cách và mở cửa nền kinh tế. Về lương thực, Trung Quốc đã xây
dựng hơn 60.000 kho bảo quản lương thực với dung lượng tích trữ 1,6 tỷ
tấn, trong đó 78% là các kho có hệ thống điều khiển nhiệt, ẩm hiện đại. Vì
vậy tổn thất sau thu hoạch của ngũ cốc đã giảm từ 12-15% năm 1970 xuống
còn 5-10% năm 1995. Năm 2005, tổn thất sau thu hoạch chỉ còn dưới 5% và
dự tính đến năm 2010 tổn thất còn dưới 3%.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã xây dựng và phát triển mô hình xí
nghiệp Đầu rồng về chế biến nông sản. Để thúc đẩy xí nghiệp Đầu rồng phát
triển, Nhà nước đã hỗ trợ về nhiều mặt như các ngân hàng khi xem xét phân
bổ vốn cho vay thì phải ưu tiên cho các xí nghiệp Đầu rồng vay vốn linh