DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
ACFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc
AFTA Hiệp định thương mại tự do ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Hoa Kỳ
CEPT Hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung
CIEM Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương
EHP Chương trình thu hoạch sớm
EU Liên minh châu Âu
FAO Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GEL Danh mục loại trừ hoàn toàn
GSP Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
IL Danh mục cắt giảm
ISO Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng
KNXK Kim ngạch xuất khẩu
KTQT Kinh tế quốc tế
MFN Quy chế tối huệ quốc
MRDA Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT)
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
SL Danh mục nhạy cảm
SPS Kiểm dịch động thực vật
1
RDC Hệ số chi phí nguồn lực
TBT Biện pháp kỹ thuật trong thương mại
TEL Danh mục loại trừ tạm thời
UNCTAD Tổ chức Thương mại và Phát triển Liên Hiệp quốc
USD Đồng đô la Mỹ
USDA Bộ Nông nghiệp Mỹ
khoáng sản. Hơn nữa khai thác khoáng sản xuất khẩu là lĩnh vực mà Chính
phủ đang hạn chế hoạt động và kiểm soát chặt chẽ. Nên hướng phát triển
của công ty sau khi chia tách là kinh doanh đa ngành đa lĩnh vực. Một
3
trong những hướng phát triển của công ty là kinh doanh xuất nhập khẩu
hàng nông, lâm, thủy, hải sản (gọi tắt là nông sản).
Trong thời gian thực tập vừa qua tại Phòng Xuất nhập khẩu số 2 –
công ty Xuất nhập khẩu Khoáng sản, em nhận thấy kinh doanh xuất nhập
khẩu hàng nông sản là lĩnh vực kinh doanh công ty mới tham gia trong một
vài năm gần đây. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của công ty
mới chỉ bao gồm: gạo, cao su tự nhiên, chè, gỗ và thủy sản. Hiện nay tỷ
trọng xuất khẩu của các mặt hàng này còn thấp sức cạnh tranh so với các
công ty khác kinh doanh trong lĩnh vực này còn yếu kém. Trong khi xuất
khẩu nông sản lại là một trong những hướng quan trọng giúp công ty phát
triển và giảm nhập siêu.
Xuất phát từ thực tế hoạt động kinh doanh của công ty như vậy, việc
nghiên cứu sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu
của Minexport, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của từng mặt hàng
so với đối thủ cạnh tranh để có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao
sức cạnh tranh là một việc làm cần thiết, rất có ý nghĩa về mặt lý luận và
thực tiễn cho Công ty trong điều kiện hội nhập WTO. Do vậy, em quyết
định nghiên cứu đề tài “Nâng cao sức cạnh tranh hàng nông sản xuất
khẩu của công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Khoáng sản trong điều kiện
hội nhập WTO”
Mục đích nghiên cứu của chuyên đề tập trung và những vấn đề sau:
Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận chung về cạnh
tranh và sức cạnh tranh của hàng nông sản, làm rõ sự cần thiết phải nâng
cao sức cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Minexport trong điều kiện
hội nhập WTO. Dựa trên cơ sở lý luận đó, chuyên đề sẽ phân tích và đánh
giá thực trạng sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu của
5
Chuyên đề này có cấu trúc 3-3-3, rất chặt chẽ, bao gồm 3 chương, mỗi
chương có 3 mục lớn, mỗi mục lớn có 3 mục con. Tuy vậy, đây là một đề
tài khó và phạm vi nghiên cứu rộng lớn, nên không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Rất mong được sự giúp đỡ và hướng dẫn nhiều hơn từ các thầy
cô giáo.
6
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỨC CẠNH TRANH
CỦA HÀNG HÓA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO
SỨC CẠNH TRANH HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU
CỦA MINEXPORT TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP WTO.
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA
1.1.1. Khái niêm về sức cạnh tranh của hàng hóa.
1.1.1.1. Các quan niệm về cạnh tranh.
Lý luận chung về cạnh tranh được nhiều tác giả nghiên cứu và trình
bày dưới nhiều góc độ khác nhau trong các giai đoạn phát triển khác nhau
của nền kinh tế quốc dân:
Trước hết để thấu hiểu về ý nghĩa cạnh tranh trong kinh doanh, ta
cần tìm hiểu về nguồn gốc sự tiến hóa của các loài trong tự nhiên theo
thuyết “đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên” của Chales Darwin.
Darwin cho rằng, các loài sinh sôi nảy nở theo cấp số nhân trong khi môi
trường sống trên trái đất thì có hạn, do đó tất yếu các loài sẽ phải cạnh
tranh với nhau để dành giật môi trường sống và nguồn sống. Các loài yếu
hơn và nhất là ít có những biến đổi để thích nghi với môi trường sống hơn
sẽ bị thua cuộc trong cuộc đấu tranh sinh tồn này và sẽ tiến tới tuyệt chủng.
Vậy trên trái đất bây giờ chỉ còn những loài mạnh, thích nghi tốt sinh sôi
nảy nở và các loài này lại cạnh tranh với nhau để chọn ra loài mạnh hơn,
thích nghi tốt hơn. Đây chính là nguồn gốc của sự tiến hóa. Như vậy chọn
lọc tự nhiên có xu hướng loại bỏ những cá thể yếu, duy trì và phát triển
những cá thể mạnh. Chales Darwin còn cho rằng: cạnh tranh giữa các cá
doanh trên một thị trường cụ thể nào đó nhằm tranh giành khách hàng, các
nguồn lực và uy tín để tiêu thụ nhiều hàng hóa hơn, tạo ra nhiều sản phẩm
tốt hơn qua đó tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho chủ thể và tạo điều kiện giúp
8
sản xuất phát triển. Cạnh tranh có thể đem lại sự phát triển cho chủ thể này
và gây thiệt hại và có thể dẫn đến tàn lụi của chủ thể khác. Song xét trên
giác độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn luôn tốt. Nó chính là nguyên nhân cơ
bản để xã hội phát triển. Nó giúp phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu,
chọn lựa một cách tự nhiên những gì ưu việt cho sự phát triển của xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển được, các doanh
nghiệp phải thừa nhận tính tất yếu của cạnh tranh, phải luôn luôn tim cách
nâng cao sức cạnh tranh để dành được ưu thế tương đối so với đối thủ.
Doanh nghiệp nào không biết tính tất yếu của cạnh tranh hoặc biết mà
không chấp nhận cạnh tranh sẽ sớm bị loại khỏi cuộc chơi, sẽ sớm tàn lụi.
1.1.1.2. Các quan niệm về sức cạnh tranh của hàng hóa.
Nếu hiểu cạnh tranh trong kinh doanh là cuộc đấu tranh gay gắt của
các chủ thể kinh tế trong một thị trường để tranh giành khách hàng và các
nguồn lực thì có cạnh tranh giữa các các nhân, các doanh nghiệp, các nền
kinh tế. Trong quá trình cạnh tranh với nhau, các chủ thể phải áp dụng tổng
hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế và sức mạnh của
minh trên thị trường. Vị thế và sức mạnh của chủ thể đó so với các đối thủ
khác trên cùng một thị trường được gọi là sức cạnh tranh hay khả năng
cạnh tranh của chủ thể đó. Khi muốn nói khả năng duy trì vị thế của một
loại hàng hóa nói chung, hàng nông sản nói riêng so với các hàng hóa cạnh
tranh khác trên thị trường, mà hàng hóa này phải thuộc một doanh nghiệp
nào đó, một nước nào đó người ta cũng dùng thuật ngữ “sức cạnh tranh
của hàng hóa”. Nói cách khác sức cạnh tranh của hàng hóa chính là mức
độ hấp dẫn của hàng hóa đó đối với khách hàng trên một thị trường. Như
vậy, khi nghiên cứu sức cạnh tranh của một mặt hàng nào đó, càn phải
nghiên cứu dưới các giác độ khác nhau như cạnh tranh ở giác độ quốc gia,
10
doanh mặt hàng đó có sức mạnh cạnh tranh và sức mạnh đó là năng suất
lao động cao hơn. Với cách tiếp cận như vậy, Micheal Porter đã đưa ra
khuân khổ các yếu tố tạo ra sức mạnh cạnh tranh của một ngành hoặc một
doanh nghiệp mà ông gọi là “khối kim cương“ các lợi thế cạnh tranh.
Các nhóm yếu tố bao gồm:
i. Nhóm các điều kiện về nhân tố sản xuất.
ii. Nhóm các điều kiện về cầu.
iii. Nhóm các điều kiện về các ngành phụ trợ và các ngành liên
quan có năng lực cạnh tranh quốc tế.
iv. Nhóm chiến lược, cơ cấu của ngành và đối thủ cạnh tranh.
Cũng theo quan điểm của Micheal Porter, trong nền kinh tế thị trường,
bất kỳ ngành nào, công ty nào trong quá trình hoạt động cũng chịu sức ép
cạnh tranh. Sức ép cạnh tranh của ngành, của công ty phụ thuộc vào 5 yếu
tố, đó là
i. Sức mạnh đàm phán của người cung cấp.
ii. Sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng.
iii. Sự đe dọa của các sản phẩm và dịch vụ thay thế.
iv. Sức mạnh đàm phán của người mua.
v. Sức ép của các đối thủ cạnh tranh trong nội bộ ngành.
11
Ngoài ra nhiều công ty áp dụng mô hình SWOT (điểm mạnh, điểm
yếu, cơ hội và nguy cơ) để phân tích sức cạnh tranh của công ty. Mục đích
của việc phân tích này là sự phối hợp logic các mặt mạnh, mặt yếu với các
nguy cơ và cơ hội thích hợp để đưa ra các phương án chiến lược tốt nhất.
Bằng cách phối hợp đó, công ty có thể giảm thiểu được các mặt yếu, tránh
được các nguy cơ đồng thời phát huy được điểm mạnh, tận dụng được các
cơ hội đến với mình. Như vậy, sức cạnh tranh của ngành hay của doanh
nghiệp được hiểu là năng lực duy trì hay tăng được lợi nhuận và thị phần
của doanh nghiệp trên các thị trường trong và ngoài nước.
ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu
giáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì, v.v...hơn hẳn các
hàng hóa cùng loại. Nói cách khác, sức cạnh tranh của hàng hóa được hiểu
là tất cả những đặc điểm, yếu tố, tiềm năng mà hàng hóa đó có thể duy trì
và phát triển vị trí của mình trên thị trường trong một thời gian dài. Sức
cạnh tranh của hàng hóa còn được thể hiện ở vị trí của mặt hàng đó thên thị
trường, đó là sức mua đối với hàng hóa đó của thị trường, là mức độ chấp
nhận của người tiêu dùng. Tuy nhiên, sẽ không có sức cạnh tranh của hàng
hóa cao khi sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia sản xuất ra hàng
hóa đó là thấp.
1.1.2. Các lý thuyết về cạnh tranh.
1.1.2.1. Lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển.
Lý luận về cạnh tranh do nhà kinh tế học người Anh Adam Smith
khởi xướng dựa trên quan điểm tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cũng như sự tự do lựa chọn tiêu dùng của các hộ gia đình, không cần có sự
can thiệp của Nhà nước. Điểm xuất phát trong lý luận của ông là nhân tố
“con người kinh tế“, trong đó loài người là một liên minh trao đổi. Trong
quá trình trao đổi sản phẩm và lao động cho nhau, con người luôn chỉ biết
tư lợi và làm theo tư lợi. Song nhờ sự sắp đặt của “bàn tay vô hình“ mà
“con người kinh tế“ trong khi theo đuổi lợi ích riêng đồng thời thực hiện
nhệm vụ không nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội nên lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội thống nhất nhau.
David Ricardo cũng đề cao tự do cá nhân, coi đó là tiêu chuẩn của
tiến bộ xã hội. Ông cho rằng quá trình phát triển kinh tế bao giờ cũng bị chi
13
phối bởi quy luật khách quan và phản đối sự can thiệp của Chính phủ vào
các hoạt động kinh tế.
W. S. Jevous, A. Mashall và L. Walras là những người sáng lập
trường phái tân cổ điển cũng đều ủng hộ chủ nghĩa tự do. Nhưng họ lấy thị
trường tự do với giả định cạnh tranh hoàn hảo , không có độc quyền. Lúc
trên thị trường với một số ít đơn vị cung.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm cạnh tranh mang tính độc quyền chỉ là:
cạnh tranh giữa nhiều người cùng với những hàng hóa khác biệt.
Lý thuyết cạnh tranh mang tính độc quyền đã tạo ra cơ sở cho các
doanh nghiệp có thêm nhưng phương pháp để xây dựng chiến lược
Marketing khác nhau phù hợp với vị thế của doanh nghiệp trên thị trường
đồng thời phù hợp với hình thái thị trường trong từng thời kỳ nhất định.
1.1.2.3. Lý thuyết cạnh tranh hiệu quả.
Những năm 40 của thế kỷ XX, trường phái Áo, mà đại diện tiêu biểu
là nhà kinh tế học người Mỹ gốc Áo J. A. Schumpeter nghiên cứu về cạnh
tranh đã ảnh hưởng một cách mạnh mẽ đến sư phát triển tiếp theo của lý
thuyết cạnh tranh. Tiến bộ rõ rệt nhất trong luận điểm của Schumpeter là
nghiên cứu cạnh tranh như là một quá trình “động“ và phát triển. Quá trình
“động“ được thể hiện là doanh nghiệp cần phải thích ứng với các thay đổi
trên thị trường do các tư tưởng mới phát sinh, các phát hiện mới, tiến bộ
mới, cơ hội mới và thông tin mới đã là thay đổi thị hiếu của người tiêu
dùng, thay đổi trình độ kỹ thuật và các nguồn lực xã hội để hướng tới một
sự cân bằng mới. Ngoài ra, doanh nghiệp cần có sự trợ giúp của Chính phủ
để tài năng của họ được phát huy và mang lại hiểu quả cao nhất.
Schumpeter còn cho rằng độc quyền hoàn toàn không có hại mà lại có
những ưu việt nhất định: độc quyền mở rộng cơ hội và thế lực cho những
người có tài, thu hẹp thế lực của những người có rất ít hoặc không có tài.
15
Ngoài ra, sự ra đời của các tổ chức độc quyền mới không làm không làm
cạnh tranh suy yếu mà khiến cạnh tranh “tĩnh“ chuyển sang cạnh tranh
“động“ với mức độ cạnh tranh sâu sắc hơn và cạnh tranh không chỉ là cạnh
tranh về giá, chất lượng, thị trường tiêu thụ mà còn cạnh tranh về tiến bộ kỹ
thuật mới, về sản phẩm mới, về thị trường tiêu thụ mới, và về loại hình tổ
chức mới.
Dựa trên luận điểm của Schumpeter, Clack đã nhanh chóng tiếp thu và
tranh của mặt hàng đó có được nâng cao hay không còn phụ thuộc vào tốc
độ chuyển dịch cơ cấu hàng hóa theo hướng nâng cao dần tỷ trọng xuất
khẩu hàng hóa có giá trị kinh tế cao.
Doanh thu của một mặt hàng được tính bằng công thức sau:
TR=
∑
=
n
i
ii
xQP
1
Trong đó:
TR: Doanh thu.
P
i
: Giá cả một đơn vị sản phẩm i.
Q
i
: Số lượng sản phẩm i được tiêu thụ.
N: Số chủng loại sản phẩm được tiêu thu.
1.1.3.2. Thị phần hàng nông sản xuất khẩu.
Tổng cầu của mỗi chủng loại hàng nông sản trên một thị trường
thường là xác định. Khi một mặt hàng đảm bảo được yếu tố bên trong như
có chất lượng tốt hơn, giá cả thấp hơn, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
tốt v.v.. và có được những yếu tố bên ngoài như cơ hội kinh doanh xuất
17
hiện, công tác xúc tiến bán hàng hiệu quả, thương hiệu sản phẩm mạnh,
mạng lưới phân phối được mở rộng ...sẽ làm tăng sức cạnh tranh của sản
phẩm, tăng thị phần, buộc đối thủ cạnh tranh phải nhường lại từng thị phần
Trong nền kinh tế thị trường, việc xác định giá của một sản phẩm chịu
tác động của nhiều nhân tố khác nhau như chi phí cho sản phẩm, nhu cầu
của thị trường về sản phẩm, mức độ cạnh tranh của sản phẩm trên thị
trường, các quy định của chính phủ về luật pháp và thuế quan, cách tiếp thị
và bán sản phẩm....Không hẳn một sản phẩm cùng loại, chất lượng tương
đương, sản phẩm nào có giá thấp hơn sẽ có tính cạnh tranh cao hơn. Giá
cao có thể thể hiện rằng sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích và họ sẵn
sàng trả giá cao để được tiêu dùng sản phẩm đó. Trong một thị trường có
sự cạnh tranh của hàng nông sản các nước, các doanh nghiệp xuất khẩu
khác nhau thì khách hàng có quyền lựa chọn cho mình loại sản phẩm tốt
nhất mà mình ưa thích và cùng một loại sản phẩm đó thì chắc chắn họ sẽ
lựa chọn sản phẩm có giá thấp hơn. Giá bán hàng hóa cao sẽ là cơ hội nâng
cao giá trị hàng hóa, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa. Việc
tăng giá trị của một đơn vị sản phẩm nông sản phụ thuộc vào việc gia tăng
giá trị trong các công đoạn chế biến nông sản. Những công đoạn chế biến
sản phẩm càng sâu, càng dòi hỏi công nghệ cao thì giá trị của nông sản chế
biến càng cao và giá bán càng cao.
1.1.3.4. Chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm hàng nông sản xuất
khẩu.
Chất lượng của hàng nông sản thể hiện ở giá trị sử dụng và thời gian
sử dụng của sản phẩm. Yêu cầu đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp, quốc gia
là phải cung ứng những sản phẩm có chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu
19
ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Do vậy, chất lượng sản phẩm,
dịch vụ là tiêu chí quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định nhất tới sức cạnh
tranh của hàng nông sản xuất khẩu. Trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
trên thị trường quốc tế, hàng nông sản muốn xuất khẩu được phải đảm bảo
chất lượng theo tiêu chuẩn của quốc tế.
Ngày nay, trên thị trường các nước phát triển, xu hướng cạnh tranh
không chỉ bằng chất lượng mà còn phải gắn với các yếu tố về bảo vệ môi
Hình 1.2. cho thấy, có 3 khâu tạo ra giá trị cho hàng nông sản là: sản
xuất nông sản, chế biến nông sản và xuất khẩu nông sản. Nếu như khâu sản
xuất, thu gom, chế biến thực hiện tốt thì giá trị hàng nông sản sẽ cao và
nông sản sẽ có sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, do sản phẩm nông
nghiệp có tính thời vụ cao, quá trình sản xuất có chu kỳ dài, đòi hỏi phải có
sự kết hợp rất chặt chẽ, đồng bộ về về thời gian và khối lượng cung cấp
nông sản nguyên liệu với năng lực chế biến và hợp đồng xuất khẩu.
- Việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản gắn chặt chẽ với
việc phát huy lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên của từng vùng.
Do đặc điểm đa dạng về mặt sinh học, mỗi loại cây con thường chỉ
phát triển tốt khi phù hợp với điều kiện đất đai, khi hậu, sông ngòi và thảm
21
Đầu
vào
sản
xuất
Sản
xuất
nông
sản
Thu
gom
nông
sản
Chế
biến
nông
sản
Xuất
khẩu
- Tổng sản lượng hàng nông sản trên thị trường co hệ so co giãn rất
thấp đối với giá.
Xét trong ngắn hạn, tổng sản lượng nông sản được sản xuất ra không
phụ thuộc vào giá cả hàng hóa. Đặc điểm này của hàng nông sản chủ yếu
xuất phát từ: Tổng sản lượng hàng nông sản xuất khẩu khó có thể điều
chỉnh trong ngắn hạn do bị giới hạn về diện tích canh tác, số lượng cây con
và năng xuất, phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất vào yêu cầu khác nhau về đất
đai, thổ nhưỡng và khí hậu đối với các loại cây con khác nhau; Hầu hết
nông sản được sản xuất ra là những sản phẩm có thời gian sử dụng ngắn do
tính chất sinh học của sản phẩm, người nông dân thường phải bán sản
phẩm của mình ngay sau khi thu hoạch; Việc bảo quản hàng nông sản đòi
hỏi chi phí lớn; Do những giới hạn về sinh lý mà mỗi người chỉ tiêu thụ
mỗi loại nông sản với số lượng nhất định và do vậy, không phải vì sản
phẩm nông sản trên thị trường nhiều và rẻ mà người tiêu dùng mua nhiều
sản phẩm hơn. Hoặc không phải vì nhu cầu tiêu dùng lớn và giá đắt mà
người sản xuất khi muốn đều có thể cung ứng ngay một khối lượng lớn cho
thị trường do sản xuất hàng nông sản đòi hỏi phải có thời gian mà thời gian
sản xuất lại phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản phẩm. Việc
nghiên cứu đặc điểm này của hàng nông sản sẽ giúp chúng ta có những giải
pháp đúng đắn trong việc định giá cả nông sản và lượng cung trên thị
trường trong từng thời kỳ.
1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng nông
sản
Các nhân tố có ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình tạo ra sức cạnh
tranh của hàng nông sản có liên quan chặt chẽ đến các tiêu chí đánh giá
được trình bày ở trên gồm:
- Nguồn lực tự nhiên
23
Do hàng nông sản là những sản phẩm hữu cơ nên chủng loại và chất
lượng hàng hóa phụ thuộc rất lớn vào tính chất sinh học, điều kiện đất đai,
các nước thực hiện nghiêm túc. Đặc biệt, nhiều nước phát triển như Hoa
Kỳ, EU,... vẫn chi những khoản tiền rất lớn để trợ cấp hàng nông sản xuất
khẩu cùng với những quy định nghiêm ngặt về tiêu chuẩn kỹ thuật đã gây
ra khó khăn cho hàng nông sản của các nước khác thâm nhập vào thị
trường các nước này, trong đó có hàng của Việt Nam.
1.3. SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH HÀNG
NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CỦA MINEXPORT.
Trong điều kiện hội nhập WTO, việc nâng cao sức cạnh tranh của
hàng nông sản xuất khẩu của Minexport nói riêng và Việt Nam nói chung
là hết sức cần thiết vì những lý do chính sau đây:
1.3.1. Vai trò to lớn của xuất khẩu hàng nông sản đối với Minexport.
1.3.1.1. Đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, tăng kim ngạch nhập khẩu.
Từ sau khi tái lập lại năm 1993, Minexport đã bàn giao tất cả các mặt
hàng xuất khẩu chủ lực cho các bộ ngành khác. Vì các mặt hàng xuất khẩu
chủ lực không còn, công ty đã chủ trương đa dạng hóa các mặt hàng xuất
nhập khẩu, các lĩnh vực kinh doanh. Một trong những hướng phát triển của
công ty là kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy hải sản (goi
tắt là nông sản). Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Minexport
hiện nay bao gồm: thủy sản, thịt, tinh dầu và hương liệu, gỗ, mây tre đan.
Đến nay, tuy tỷ trọng giá trị nông sản xuất khẩu trong tổng giá trị xuất khẩu
hàng năm chưa cao, mới chiếm khoảng 20,5%. Nhưng nó cũng mở ra một
hướng kinh doanh mới đầy tiềm năng. Góp phần tăng kim ngach xuất khẩu
giảm nhập siêu.
25