BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
___________________
ĐINH THỊ THẮM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999.
THỰC TRẠNG TẠI HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP
Nghệ An, tháng 5 năm 2013
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LUẬT
___________________
ĐINH THỊ THẮM
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999.
THỰC TRẠNG TẠI HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
TRONG GIAI ĐOẠN 2010 - 2012
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT TƯ PHÁP
Giảng viên hướng dẫn : Đặng Thị Phương Linh
Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Thắm
Mã số sinh viên : 0955031170
Lớp : 50B2 - Luật
Nghệ An, tháng 5 năm 2013
2
MỞ ĐẦU
vấn đề lí luận về tội giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999.
Thực trạng tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2010 –
2012” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói, tội giết người là một đề tài luôn thu hút được sự quan tâm,
chú ý của nhiều nhà nghiên cứu. Điều đó thể hiện ở việc đã có nhiều công
trình khoa học nghiên cứu về đề tài này. Trong đó, có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu như:
Thượng tá, Tiến sĩ - Nguyễn Minh Đức, phó giám đốc trung tâm nghiên
cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm học của Viện kiểm sát nhân dân,
Nguyên nhân và điều kiện gia tăng tội phạm giết người.
Hoàng Công Huân (1997), Tội giết người theo Luật hình sự Việt
Nam và đấu tranh phòng chống tội phạm giết người, Nxb Hà Nội.
Đỗ Đức Hồng Hà (2007), Tội giết người trong Luật hình sự Việt
Nam và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, Luận văn tiến sĩ luật
học, Hà Nội.
Như vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đề tài
này. Các công trình kể trên được các tác giả tập trung nghiên cứu ở
những phương diện và góc độ khác nhau như: Tội phạm học, hình pháp
học. Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Hoa Lư nói riêng và trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình nói chung chưa có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài
này. Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài này làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của khóa luận là tìm hiểu các quy định của BLHS Việt Nam
năm 1999 về tội giết người. Đồng thời tìm hiểu thực trạng về tội giết người tại
huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
4
Qua đó người viết đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao
về điểm mới trong Điều 93 BLHS năm 1999, nguyên nhân, giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội giết người.
Ngoài ra, kết quả của khóa luận có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
học tập, trong xây dựng kế hoạch, chính sách, đường lối thực hiện công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội giết người nói riêng trên địa
bàn huyện Hoa Lư.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần danh mục từ viết tắt, phần mở đầu, phần kết luận, phần
danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội giết người trong Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999
Chương 2: Thực trạng tội giết người tại huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
trong giai đoạn 2010 - 2012
6
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tội giết người
a) Khái niệm
Để tìm hiểu khái niệm tội giết người, trước tiên chúng ta phải hiểu thế
nào là tội phạm? Khái niệm này dùng để chỉ tất cả các hành vi được luật quốc
gia hoặc luật quốc tế xác định mà chủ thể thực hiện phải chịu biện pháp
cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước là hình phạt. Tuy nhiên, sự ghi
nhận khái niệm này trong luật hình sự của các nước cũng như quan điểm của
các nhà khoa học về tội phạm là không hoàn toàn giống nhau.
Một số quốc gia ghi nhận khái niệm tội phạm trong điều luật cụ thể. Có
thể kể đến như:
Theo quy định tại Điều 3 BLHS Philipines thì tội phạm được hiểu là:
“Hành vi hành động hoặc hành vi không hành động bị trừng trị về mặt hình
hiểu là các hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực
hiện, có lỗi, xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của
người khác.
Các tội xâm phạm tính mạng, bao gồm: tội giết người, tội giết con mới
đẻ, tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, tội bức tử…
Hiện nay, trong Luật hình sự của nhiều quốc gia, khái niệm tội giết
người cũng như những quy định về loại tội phạm này là không thống nhất. Có
những quốc gia mô tả cụ thể những dấu hiệu của tội giết người nhưng có quốc
gia lại chỉ quy định tội danh và nêu hình phạt trong luật. Có thể kể đến như:
Điều 248 BLHS Philippines quy định: “Người nào có hành vi tước
đoạt tính mạng của người khác thì phạm tội giết người và phải chịu hình phạt
tù chung thân nếu có một trong các tình tiết sau: Nhờ người khác có hung khí
8
hỗ trợ; giết thuê; bằng cách phóng hỏa, bỏ thuốc độc; lợi dụng hoàn cảnh
thiên tai; bằng thủ đoạn tàn ác”
Điều 288 BLHS Thái Lan quy định: “Người nào có hành vi giết người
thì bị phạt tử hình hoặc phạt tù từ 15 năm đến 20 năm”
Từ thực tiễn xét xử: “Tội giết người được hiểu là hành vi cố ý tước
đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác”
Theo cuốn Bình luận BLHS quy định: “Tội giết người được hiểu là
hành vi làm chết người khác một cách cố ý và trái pháp luật”
Có thể thấy khái niệm về tội giết người đang tồn tại dưới nhiều quan
điểm khác nhau, mỗi quốc gia có cách định nghĩa khác nhau cũng như có quy
định khác nhau về tội giết người. Tuy nhiên, các quan điểm đều tập trung
nhấn mạnh tội giết người là hành vi trái pháp luật và nhằm tước bỏ tính mạng
của người khác.Trong BLHS Việt Nam, việc quy định về tội giết người chỉ
dừng lại ở việc nêu tội danh mà không mô tả những dấu hiệu pháp lí cụ thể
của tội giết người. Trong khi đó, BLHS Philipines lại mô tả cụ thể những dấu
hiệu pháp lí của tội giết người.
Trên cơ sở khái niệm tội phạm, khái niệm tội giết người trong cuốn
thì cũng đồng nghĩa với việc hành vi đó có tính chất nguy hiểm cho xã hội.
Bên cạnh các hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm cho xã hội thì cũng
phải nhắc đến các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội (những tình tiết
làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên được quy
định trong luật hình sự để xác định những trường hợp bình thường là tội phạm
nhưng không bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong điều kiện kèm theo
những tình tiết đó).Trong BLHS Việt Nam quy định hai tình tiết loại trừ tính
nguy hiểm cho xã hội đó là phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết. Bên
cạnh đó còn có một số tình tiết khác cũng có tính chất tương tự nhưng chưa
được quy định trong BLHS Việt Nam như tình tiết cưỡng bức (phạm tội do bị
người khác cưỡng bức, ép buộc), tình tiết rủi ro (phạm tội vì do rủi ro thiên
tai, các rủi ro bất ngờ nằm ngoài dự kiến, tầm kiểm soát của người phạm tội),
tình tiết thi hành lệnh cấp trên (vì thi hành lệnh cấp trên dẫn đến phạm tội)…
10
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội giết người được thể hiện ở chỗ nó có
thể tước đoạt đi tính mạng và chấm dứt sự sống của người khác. Hoặc nó
cũng có thể gây thương tích cho nạn nhân, ảnh hưởng đến sức khỏe của nạn
nhân khi người đó phạm tội giết người trong trường hợp phạm tội chưa đạt.
Như chúng ta đã biết, tính mạng con người, quyền được tôn trọng và bảo vệ
tính mạng của con người là một trong những khách thể quan trọng hàng đầu
được pháp luật hình sự bảo vệ. Bởi, suy cho cùng thì mọi khách thể mà pháp
luật hình sự hướng tới đều là để bảo vệ con người mà muốn bảo vệ con người
thì pháp luật phải bảo vệ quyền được sống, bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho
con người trước khi bảo vệ các quyền và lợi ích khác của con người. Trường
hợp giết người do phòng vệ chính đáng thì tính nguy hiểm cho xã hội bị loại
trừ và không phải là tội phạm. Giết người trong trường hợp phòng vệ chính
đáng là trường sự hợp được sự cho phép của pháp luật khi mà người phạm tội
vì bảo vệ lợi ích của nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng
của mình hoặc của người khác mà giết người đang có hành vi xâm phạm các
lợi ích nói trên. Còn trường hợp giết người trong tình thế cấp thiết thì về
phạm tội. Còn trong trường hợp, hình phạt được áp dụng đối với những cá
nhân không có lỗi thì mục đích của hình phạt sẽ không phát huy được hiệu
quả của của nó.
Đối với tội giết người, lỗi của người phạm tội chỉ có thể là lỗi cố ý mà
không phải là lỗi vô ý. Trong đó có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián
tiếp. Sở dĩ, trong tội giết người không tồn tại lỗi vô ý là vì khi thực hiện hành
vi khách quan của tội giết người, bản thân người phạm tội rõ ràng nhận thức
được hành vi của mình có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng của người
đó và họ cũng mong muốn hậu quả chết người xảy ra. Hoặc tuy hậu quả chết
người là điều mà người phạm tội không mong muốn nhưng để đạt được mục
đích của mình thì họ lại có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Trường hợp
người đó thực hiện hành vi làm chết người do lỗi vô ý thì người đó sẽ phải
chịu TNHS về tội vô ý làm chết người chứ không phải là tội giết người.
12
Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự
Tính trái pháp luật hình sự được hiểu là: “Làm trái những quy định của
pháp luật hình sự, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự
bảo vệ”.
Có thể nói, tính trái pháp luật hình sự là một trong những thuộc tính bắt
buộc phải có trong các thuộc tính của tội phạm. Giữa tính trái pháp luật và
tính nguy hiểm cho xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức. Trong đó, tính trái pháp luật là dấu hiệu về mặt
hình thức còn tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu về mặt nội dung. Tuy
nhiên tính trái pháp luật vẫn có tính độc lập tương đối so với tính nguy hiểm
cho xã hội và là cơ sở quan trọng bảo đảm cho đường lối đấu tranh phòng
chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm quyền dân chủ của công dân cũng
như thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời sửa đổi, bổ sung luật cho phù hợp với
những biến đổi của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó cũng
không được quá coi trọng thuộc tính tính nguy hiểm cho xã hội hoặc thuộc
tính trái pháp luật. Nếu quá coi trọng tính nguy hiểm cho xã hội mà bỏ qua
Như vậy với tư cách là một tội phạm cụ thể trong các tội xâm phạm tính
mạng, tội giết người cũng mang bốn đặc điểm của tội phạm. Từ bốn đặc điểm
của tội phạm giúp ta hiểu hơn bản chất của tội giết người cũng như đặc điểm
khác biệt giữa tội giết người và các tội xâm phạm tính mạng khác.
1.2. Dấu hiệu pháp lí
Dấu hiệu pháp lí của tội phạm: Là tập hợp các yếu tố để cấu thành nên
một loại tội phạm nào đó. Để một hành vi bị coi là một tội phạm nào đó và
khác với hành vi không phải là tội phạm thì nó phải thỏa mãn các dấu hiệu
pháp lí của tội phạm đó.
Cũng như các loại tội phạm cụ thể khác, khi nói đến dấu hiệu pháp lí sẽ
bao gồm các yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, khách
thể của tội phạm.
14
1.2.1. Mặt khách quan của tội giết người
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm bao
gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới
khách quan.
Mặt khách quan của tội giết người: Là mặt bên ngoài, những biểu hiện
của tội giết người diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Mặt
khách quan của tội giết người bao gồm các yếu cấu thành: Hành vi khách
quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả.
a) Hành vi khách quan của tội giết người
Hành vi khách quan tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp
luật tính mạng của người khác. Hành vi tước đoạt tính mạng của người
khác được hiểu là: Hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người,
chấm dứt sự sống của họ. Hành vi khách quan của tội giết người có những
đặc điểm sau:
Thứ nhất, hành vi khách quan của tội giết người được thể hiện dưới
dạng hành động hoặc không hành động. Cụ thể:
Hành động: hành động đâm, chém, vật, bắn…
hiện trực tiếp như dùng tay chân để đấm, bóp cổ, đè lên người nạn nhân hoặc
thực hiện gián tiếp thông qua các phương tiện vật chất như dùng súng để bắn,
dùng dao để chém hoặc đâm nạn nhân…
Ví dụ: A và B là sinh viên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội, lại
trọ cùng phòng. Vì B hay nói xấu A với mọi người trong xóm nên A rất bức
xúc. Tối chờ cho B ngủ say, A đè lên người B bóp cổ B cho đến khi B không
còn giãy giụa nữa thì A mới bỏ ra. B tử vong vì ngạt thở.
Dưới hình thức không dùng vũ lực: Không dùng vũ lực có nghĩa là
người phạm tội thực hiện hành vi giết người của mình bằng cách dùng các
thủ đoạn chứ không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên thân thể của
nạn nhân.
Ví dụ như: dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, giăng bẫy điện để nạn
nhân bị điện giật chết.
Thứ tư, hành vi giết người có hoặc không có sử dụng vũ khí, hung khí.
16
Trường hợp không sử dụng vũ khí, hung khí: Trong trường hợp này
người phạm tội không sử dụng vũ khí, hung khí mà sử dụng sức mạnh của cơ
thể mình để tác động lên cơ thể nạn nhân hoặc dùng các thủ đoạn để đẩy nạn
nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng như là đẩy nạn nhân xuống
nước mà nạn nhân không biết bơi, đẩy nạn nhân từ trên cao xuống
Trường hợp sử dụng vũ khí, hung khí: Trong trường hợp này người
phạm tội sử dụng các vũ khí, hung khí để tước đoạt đi tính mạng của nạn
nhân. Đó có thể là hành vi dùng dao để giết nạn nhân, dùng điện để chích lên
cơ thể nạn nhân cho đến khi nạn nhân chết.
Như vậy, hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái
pháp luật tính mạng của người khác được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực
hoặc không dùng vũ lực, hành động hoặc không hành động, có sử dụng vũ
khí, hung khí hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí… Hành vi khách quan của
tội giết người là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng trong mặt
khách quan của tội giết người.
nhân quả với hành vi khách quan.Tức là hành vi khách quan không phải là
nguyên trực tiếp gây ra hậu quả chết người mà hậu quả chết người là do các
nguyên nhân khác thì người đó sẽ không thể bị truy cứu TNHS về tội giết
người. Trong trường hợp này, người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội danh khác
như tội cố ý gây thương tích…
Ví dụ: Anh An và chị Ba xảy ra mâu thuẫn, anh An bị chị Ba dùng dao
chém 1 nhát vào chân nhưng không nguy hiểm đến tính mạng. Do anh An
không cẩn thận nên vết thương bị nhiễm trùng dẫn đến hậu quả anh An bị tử
vong. Trong trường hợp này, chị Ba không thể bị truy cứu TNHS về tội giết
người vì giữa hành vi chém 1 nhát dao vào chân anh An của chị Ba và hậu
quả anh An bị tử vong không có mối quan hệ với nhau.Nguyên nhân anh An
tử vong là do anh An không cẩn thận nên vết thương bị nhiễm trùng. Tóm lại,
giữa hành vi khách quan mà chị Ba thực hiện với hậu quả anh An chết không
có mối quan hệ nhân quả với nhau. Do đó chị Ba không thể bị truy cứu TNHS
về tội giết người.
18
Như vậy, mặt khách quan là một trong bốn yếu tố cơ bản cấu thành tội
phạm giết người nói riêng và tội phạm nói chung. Không có mặt khách quan
thì sẽ không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy sẽ khoongc ó tội
phạm. Việc xác định chính xác mặt khách quan có ý nghĩa quan trọng trong
việc định tội, định khung hình phạt trong các trường hợp phạm tội cụ thể.
1.2.2. Mặt chủ quan của tội giết người
Mặt chủ quan được hiểu là là trạng thái tâm lý bên trong của người
phạm tội bao gồm lỗi, mục đích và động cơ.
a) Lỗi
Lỗi: Là thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình và đối với hậu quả cho hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới
hình thức cố ý hoặc vô ý.
Trong tội giết người chỉ có lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp mà
không có lỗi vô ý. Bởi theo định nghĩa về tội giết nguời thì đó là hành vi cố ý
chết người mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục
đích của họ.
Ví dụ: Anh X và anh Y là hai anh em cùng cha khác mẹ.Để độc chiếm
tài sản của cha mình anh X đã lập kế hoạch để giết B. Biết B không biết bơi
nên A đã rủ B ra sông tắm. Trong lúc tắm, lợi dụng B không để ý A đẩy chiếc
phao của B ra xa dẫn hậu quả B bị chết đuối.Như vậy, trong trường hợp này,
lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp vì A nhận thức rõ được rằng hành vi đẩy chiếc
phao của B ra xa có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của B vì B không biết
bơi.Hơn nữa hậu quả B chết hoàn toàn phù hợp với mục đích của A muốn B
chết để độc chiếm tài sản của cha.
Lỗi cố ý gián tiếp: Là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội thấy trước
hậu quả của hành vi tuy không mong muốn cho hậu quả xảy ra nhưng có ý
thức để mặc cho hậu quả xảy ra (Điều 9 BLHS).
Lỗi cố ý gián tiếp trong tội giết người là trường hợp người phạm tội
nhận thức được hành vi của mình có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng
của người khác, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra nhưng để đạt
20
được mục đích phạm tội của mình thì người pham tội lại có ý thức để mặc cho
hậu quả đó xảy ra.
Dấu hiệu của lỗi cố ý gián tiếp bao gồm:
Yếu tố lý chí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã
hội của hành vi mà mình thực hiện, thấy trước hành vi đó có thể gây nguy
hiểm cho xã hội.
Yếu tố ý chí: Người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người
xảy ra, hậu quả chết người không phù hợp với mục đích mà họ đã đặt ra trước
khi thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng để đạt được mục đích đã đặt ra thì họ
lại chấp nhận hậu quả chết người xảy ra.
Như vậy, trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi giết
người của mình với lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp thì về cơ bản yếu tố
buộc phải có trong cấu thành tội giết người song trong một số trường hợp nó
lại là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mặt chủ quan để làm căn cứ phân biệt
với một số trường hợp sau:
Thứ nhất, trường hợp gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người.
Trong trường hợp này, nếu người phạm đó thực hiện hành vi với mục đích
giết người thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội giết người. Nhưng nếu
người đố thực hiện hành vi đó nhưng không có mục đích giết người thì người
đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội cố ý gây thương tích.
Thứ hai, trường hợp nạn nhân bị tấn công bằng hung khí nguy hiểm vào
các vị trí hiểm yếu như ngực, bụng, đầu… nhưng chỉ bị thương tích. Trong
trường hợp này nếu người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với mục đích
giết người thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội giết người nhưng thuộc trường hợp
phạm tội chưa đạt. Còn nếu không có mục đích giết người thì sẽ bị truy cứu
TNHS về tội cố ý gây thương tích.
Thứ ba, trường hợp nạn nhân bị vướng bẫy điện dẫn đến tử vong.
Trong trường hợp này, nếu người phạm tội thực hiện việc bẫy điện với
mục đích là chống trộm thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội giết
người. Còn nếu người đó bẫy điện với mục đích chống sự phá hoại của
22
các con vật như của chuột thì người đó sẽ bị truy cứu TNHS về tội vô ý
làm chết người.
Động cơ thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội có thể là
vì động cơ đê hèn, do muốn cướp tài sản của nạn nhân, giết người để thực
hiện hoặc che giấu tội phạm khác.
Động cơ và mục đích của tội giết người là căn cứ để định khung hình
phạt. Trong tội giết người có một số động cơ là tình tiết định khung tăng nặng
hình phạt như giết người vì động cơ đê hèn, giết người để lấy bộ phận cơ thể
của nạn nhân, giết người vì lí do công vụ…
Ví dụ: A và B cùng học tại trường đại học X. Hai người yêu nhau chưa
được bao lâu thì dọn về sống chung. Sau một thời gian, A và B thường xuyên
đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đã đạt độ tuổi luật
định và B cũng là người đã thực hiện hành vi giết người.
1.2.4. Khách thể của tội giết người
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự
bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu
tố cấu thành tội phạm, có vị trí đặc biệt với ý nghĩa là những quan hệ xã hội bị
tội phạm gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.
Khách thể của tội giết người là quyền sống, quyền được tôn trọng và
bảo vệ tính mạng của con người - đó là quyền cơ bản nhất của con người
được quy định trong Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam và được pháp luật hình sự bảo vệ.
Đối tượng tác động của người phạm tội giết người là con người còn
sống. Thời gian người đó có thể bị hành vi phạm tội xâm hại bắt đầu từ khi
người đó được sinh ra và kết thúc khi người đó chết đi. Trước thời điểm sinh
ra người đó chưa tồn tại về mặt pháp lí do đó hành vi phạm tội chưa thể xâm
hại người đó được. Ngược lại khi người đó chết đi thì sẽ chấm dứt về mặt
pháp lí cũng như về mặt thực tế. Như vậy, đối tượng tác động của tội giết
người là con người còn sống. Các hành vi xâm hại bào thai, xâm hại thi thể,
hài cốt… sẽ bị truy cứu về tội khác chứ không phải tội giết người.
24
1.3. Hình phạt
Theo Điều 26 BLHS quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền lợi ích
hợp pháp của người phạm tội”.
Đối với tội giết người, người phạm tội có thể bị áp dụng các hình
phạt chính là tù hoặc tử hình và các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, phạt quản chế hoặc
cấm cư trú.
1.3.1. Hình phạt chính
a) Khung tăng nặng (Khoản 1 Điều 93 BLHS)