MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VẬT TƯ KỸ THUẬT TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 66

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VẬT TƯ KỸ THUẬT
TRONG DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ, PHÂN LOẠI, YÊU CẦU VÀ NHIỆM VỤ CỦA
CÔNG TÁC VẬT TƯ- KỸ THUẬT.
1.Khái niệm, đặc điểm của vật tư kỹ thuật
Vật tư kỹ thuật hay còn gọi là vật tư đó là những sản phẩm của lao động
bao gồm nguyên vật liệu, năng lượng, thiết bị máy móc, dụng cụ, phụ tùng thay
thế nó đang vận động từ nơi sản xuất ra nó đến nơi tiêu thụ nó.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm mới, vật tư được
tiêu dùng toàn bộ, tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, giá trị của nó
được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm mới.
2. Vai trò của vật tư kỹ thuật
Nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cấu thành nên quá trình sản xuất.
Nguyên vật liệu là nhân tố cấu thành nên thực thể sản phẩm, quyết định trực
tiếp đến chất lượng sản phẩm do chúng có đặc điểm chỉ dùng một lần và giá trị
chuyển hết sang giá trị thành phẩm.
Nguyên vật liệu bao gồm cả nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ đều ảnh
hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất, nếu xét về mặt vật chất thì nguyên
vật liệu trực tiếp cấu thành thực thể của sản phẩm, chất lượng nguyên vật liệu
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm. Do đó cũng có thể nói, đảm
bảo chất lượng của nguyên vật liệu cho sản xuất còn là một biện pháp quan
trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm. Nếu xét về mặt giá trị thì tỷ trọng của
yếu tố nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành. Xét về mặt tài
chính ta còn thấy vốn bỏ ra mua nguyên vật liệu thường chiếm một tỷ lệ lớn
trong vốn lưu động của doanh nghiệp( khoảng từ 40%-60% trong tổng số vốn
lưu động). Nếu xét về chi phí quản lý thì quản lý nguyên vật liệu cần một lượng
chi phí tương đối lớn trong tổng chi phí quản lý. Đứng trên góc độ này ta có thể
rút ra kết luận: nguyên vật liệu không những giữ vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất mà nó còn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực quản lý giá
thành và tài chính trong các doanh nghiệp.
3. Phân loại vật tư kỹ thuật

xuất bị gián đoạn hoặc không thể tiến hành được. Chất lượng nguyên vật liệu
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết
kiệm nguyên vật liệu, đến hiệu quả của việc sử dụng vốn. Vấn đề đặt ra với yếu
tố này là phải thực hiện các nhiệm vụ sau trong công tác quản lý vật tư:
- Phải đảm bảo việc cung ứng vật tư kĩ thuật đúng tiến độ, số lượng ,
chủng loại, quy cách và đúng yêu cầu cho sản xuất.
- Ghi chép phản ánh đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển vật
tư cả về giá trị và hiện vật.tính toán đúng đắn giá trị vốnthực tế của vật tư,
nhập, xuất kho,nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác phục vụ cho việc
lập báo cáo tài chính và quản lý doanh nghiệp.
- Giám sát chặt chẽ việc sử dụng vật tư .
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua vật tư , kế
hoạch sử dụng vật tư, kế hoạch sử dụng vật tư cho sản xuất, tình hình kho tàng
để kịp thời báo cáo cho bộ phận thu mua có biện pháp khấc phục kịp thời.
- Chấp hành tốt chế đọ quản lý vật tư và triệt để thực hành tiết kiệm vật tư
ảnh hưởnglớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp,ảnh hưởng đến việc
giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận.
- Phát hiện, ngăn chặn, đề xuất các biện pháp xử lý tình trạng thừa, thiếu, ứ
đọng kém chất lượng của vật tư .
- Phân tích tình hình thu mua, bảo quả và sử dụng vật tư nhằm hạ giá
thành sản phẩm.
- Phân tích bảo vận chuyển, tình hình xuất dùng vật tư .
- Tham gia kiểm kê và đánh giá vật tư theo chế độ
quy định, lập báo cáo về vật tư phục vụ cho công tác quản lý.
5.Yêu cầu của công tác tổ chức quản lý vật tư kĩ thuật
Để đúng vững trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt thì các
doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ các chi phí quản lý của mình nhằm tối
thiểu hóagiá thành sản xuất. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải đặt nhiệm vụ
hàng đầu là tiết kiệm chi phí sản xuất, cụ thể là các chi phí liên quan đến
nguyên vật liệu.Sử dụng nguyên vật liệu tiết kiệm, hợp lý, hiệu quả là việc làm

xuất ra chính sản phẩm đó( phế liệu dùng lại) và loại để sản xuất ra sản phẩm
khác.
+ Phế liệu bỏ đi: là những phế liệu không sử dụng lại được.
Lượng vật tư hao tổn trong quá trình quản lý: là phần hao phí cần thiết cho
việc sản xuất sản phẩm.
Để tính mức tiêu dùng nguyên vật liệu chính người ta căn cứ vào công thức
sau:
H = H
1
+ H
2
Trong đó: H
1
: là lượng nguyên vật liệu tiêu dùng
thuần túy có ích
H
2
là mức phế liệu nguyên vật liệu sinh ra do có
tính chất công nghệ
H là mức tiêu dùng nguyên vật liệu chính
Nghiên cứu cơ cấu tiêu dùng nguyên vật liệu chính nhằm hạn chế mức tổn
thất của chúng trong quá trình sản xuất sản phẩm.
c. Ý nghĩa
Định mức tiêu dùng vật tư là cơ sở để xây dựng kế hoạch mua nguyên vật
liệu, điều hòa, cân đối lượng vật tư cần dùng trong doanh nghiệp. Từ đó xác
định đúng đắn các mối quan hệ mua bán và ký kết hợp đồng giữa các doanh
nghiệp với nhau và giữa các doanh nghiệp với các đơn vị kinh doanh vật tư.
Định mức tiêu dùng nguyên vật liệu là căn cứ trực tiếp để tiến hành kế
hoạch cung ứng và sử dụng vật tư tạo tiền đề cho việc thực hiện chế độ hạch
toán trong doanh nghiệp.

trường. Sau đó tiến hành nghiên cứu các điều kiện sản xuất nhất định để kiểm
tra sửa đổi các kết quả đã tính toán hoặc tiến hành sản xuất thử trong một
thời gian. Phương pháp này có ưu điểm là chính xác, khoa học hơn. Tuy nhiên
có nhược điểm là chưa tiến hành phân tích toàn diện các nhân tố ảnh hưởng
đến mức trong chừng mực nhất định, phương pháp này còn phụ thuộc vào các
điều kiện thí nghiệm chưa phù hợp với điều kiện sản xuất. Phương pháp này
áp dụng cho các xí nghiệp hóa chất, luyện kim, thực phẩm...
c. Phương pháp phân tích
Là phương pháp khoa học nhất có đầy đủ căn cứ kỹ thuật do đó được coi là
phương pháp chủ yếu để xây dựng định mức tiêu dùng nguyên vật liệu. Thực
chất của phương pháp này là kết hợp việc tính toán về kinh tế và kỹ thuật với
việc phân tích toàn diện các điều kiện sản xuất, các nhân tố ảnh hưởng đến
lượng tiêu hao nguyên vật liệu, quản lý tiên tiến và kết hợp với các biện pháp
hoàn thiện tổ chức sản xuất.
Về nội dung tiến hành, phương pháp phân tích được tiến hành qua ba
bước:
- Bước 1: Thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến mức, trong đó
đặc biệt chú ý tới các tài liệu về thiết kế sản phẩm, quy trình công nghệ chế tạo
sản phẩm, đặc tính kinh tế, kỹ thuật của nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm,
chất lượng máy móc, thiết bị, trình độ kỹ thuật của công nhân và các số liệu
thống kê về tình hình thực hiện mức của kỳ báo cáo.
- Bước 2: Phân tích từng thành phần trong cơ cấu định mức và các nhân tố
ảnh hưởng tới nó để tìm giải pháp xóa bỏ mọi lãng phí, khắc phục các khuyết
tật về công nghệ, cải tiến thiết kế sản phẩm để tiết kiệm mức tiêu dùng nguyên
vật liệu.
- Bước 3: Tổng hợp các thành phần trong cơ cấu của mức, tính hệ số sử
dụng và đề ra biện pháp phấn đấu giảm mức trong kỳ kế hoạch.
2. Xác định nhu cầu nguyên vật liệu
Muốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tiến
hành được đều đặn, liên tục thường xuyên đảm bảo cho nó các loại nguyên vật

])()[(
Trong đó:
V
cd
lượng nguyên vật liệu cần dùng
S
i
số lượng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch
D
vi
định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm loại i
P
i
số lượng phế phẩm cho phép của loại sản phẩm i kỳ kế hoạch
Vcd =
P
di
lượng phế liệu dùng lại của loại sản phẩm i
K
pi
tỷ lệ phế phẩm cho phép loại sản phẩm i kỳ kế hoạch
K
di
tỷ lệ phế liệu dùng lại loại sản phẩm i kỳ kế hoạch
2.1.2. Tính lượng nhiên liệu cần dùng
Để xác định lượng nhiên liệu thực tế mà doanh nghiệp sử dụng cần phải
xác định hệ số tính đổi( K)
K = N
700
0

D
m
định mức sử dụng xăng (dầu) cho một đơn vị công suất
trong một giờ
G
hd
số giờ hoạt động của máy
S
m
số máy hoạt động trong năm
H
n
hệ số sử dụng nhiên liệu có ích
- Lượng nhiên liệu cần dùng để sản xuất hơi nước được tính
theo công thức
NLcd = Sh (N
1
– N
2
)
7000h
dn
Trong đó:
NL
cd
lượng nhiên liệu( than) cần dùng ( tấn)
S
h
sản lượng hơi nước doanh nghiệp cần sản xuất( m
3

Lượng nguyên vật liệu dự trữ là lượng hàng tồn kho hợp lý được quy định
trong kế hoạch để đảm bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục, bình
thường. Căn cứ vào công dụng, tính chất của nguyên vật liệu , nguyên vật liệu dự
trữ được chia làm ba loại: dự trữ thường xuyên, dự trữ bảo hiểm và dự trữ theo
mùa.
a.Tính lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên.
Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên là bộ phận dự trữ chủ yếu của
doanh nghiệp, nó đảm bảo cho sản xuất tiến hành liên tục giữa hai đợt cung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status