Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản cố định (TSCĐ) là cơ sở vật chất không thể thiếu được trên bình
diện cả nền kinh tế nói chung và đối với một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
nói riêng. TSCĐ là cở sở để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc
biệt trong các doanh nghiệp sản xuất TSCĐ phản ánh năng lực tạo ra sản phẩm
để cung cấp ra thị trường của đơn vị, khoản mục TSCĐ chiếm một tỷ lệ lớn
trong tổng tài sản của đơn vị. Do thực tiễn đó kiểm toán khoản mục TSCĐ là
một phần quan trọng trong kiểm toán báo cáo tài chính. Kiểm toán TSCĐ một
mặt góp phần phát hiện những sai phạm và gian lận làm cơ sở cho việc đưa ra ý
kiến kiểm toán, một mặt còn góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý
TSCĐ trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán khoản mục TSCĐ trong
kiểm toán báo cáo tài chính, trên cơ sở những kiến thức được trang bị trong nhà
trường và kiến thức thực tế thu nhận được sau một thời gian thực tập tại Công ty
Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn thuế em đã hoàn thành luận văn : “Hoàn thiện
quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán Báo cáo tài
chính do Công ty Cổ phần Kiểm toán - Tư vấn thuế (ATC) thực hiện”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn bao gồm các phần chính sau:
Phần I: Cơ sở lí luận về kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo
cáo tài chính
Phần II: Quy trình thực hiện kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong
kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Cổ phần Kiểm toán - Tư vấn thuế
(ATC) thực hiện
Phần III: Những nhận định và giải pháp hoàn thiện kiểm toán tài sản
cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Cổ phần Kiểm toán - Tư
vấn thuế thực hiện.
Trong quá trình thực hiện luận văn của mình em đã cố gắng kết hợp vận
dụng kiến thức thực tế và lí luận, phương pháp tổng hợp và phân tích cũng như
phương pháp biện chứng để làm rõ những vấn đề nghiên cứu. Tuy nhiên, do
1
• Giá trị ban đầu của tài sản được xác định một cách đáng tin cậy
• Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên
• Có có giá trị từ mười triệu đồng trở lên
Như vậy có thể thấy theo qui định hiện hành khái niệm về TSCĐ đã có
một số thay đổi, theo qui định cũ Quyết định 166/199/BTC của Bộ tài chính tiêu
chuẩn nhận biết về TSCĐ chỉ bao gồm hai tiêu chuẩn sau: có thời gian sử dụng
từ một năm trở lên và có giá trị từ năm triệu đồng trở lên. Sự thay đổi này là một
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
minh chứng cho quá trình dần hoàn thiện hơn công tác kế toán của Việt Nam,
đáp ứng sự thay đổi của thực tiễn, tiến gần hơn tới Chuẩn mực kế toán quốc tế.
1.1.2 Phân loại TSCĐ
Để đáp ứng nhu cầu trong quản lý TSCĐ được phân loại theo nhiều tiêu
thức khác nhau như: theo hình thái biểu hiện, theo quyền sở hữu, theo tình hình
sử dụng và theo nguồn hình thành:
• Căn cứ vào hình thái biểu hiện: TSCĐ bao gồm hai loại TSCĐ hữu hình
và TSCĐ vô hình:
TSCĐ hữu hình:
Theo quyết định số 206 /2003/QD – BTC về ban hành Chế độ quản lý, sử
dụng và trích khấu hao TSCĐ: TSCĐ hữu hình là những tư liệu lao động chủ
yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ
thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số
chức năng nhất định) thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban
đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc thiết bị.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 03: “TSCĐ hữu hình là những
tài sản do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh
phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình”.
TSCĐ hữu hình bao gồm các nhóm sau: Nhà cửa vật kiến trúc, máy móc
thiết bị, phương tiện vận tải thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý, vườn
o Tài sản cố định dùng cho kinh doanh
o Tài sản cố định dùng cho hành chính sự nghiệp
o Tài sản cố định cho mục đích phúc lợi
o Tài sản cố định chờ sử lý
• Căn cứ vào nguồn hình thành TSCĐ : bao gồm các loại sau:
o Tài sản cố định được hình thành từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước hoặc
cấp trên cấp
o Tài sản cố định được hình thành từ nguồn vốn vay
o Tài sản cố định hình thành từ nguồn vốn tự bổ sung
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
o Tài sản cố định hình thành từ nguồn vốn liên doanh liên kết với các đơn vị
khác (góp vốn bằng hiện vật).
Dưới góc độ hạch toán kế toán và căn cứ vào chuẩn mực kế toán Việt
Nam, TSCĐ được chia làm ba loại TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ
thuê tài chính.
1.1.3 Quản lý tài sản cố định
Do TSCĐ là cơ sở vật chất của doanh nghiệp, thường chiếm tỉ trọng lớn
trong tổng tài sản của đơn vị, TSCĐ đòi hỏi phải được quản lý một cách chặt
chẽ khoa học để đạt được hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó đặc điểm của TSCĐ là
có hình thái vật chất không thay đổi trong quá trính sử dụng, nhưng giá trị lại
hao mòn dần nên TSCĐ đòi hỏi phải được quản lý cả về mặt hiện vật và mặt giá
trị.
Quản lý về mặt hiện vật: việc quản lý về mặt hiện vật TSCĐ của doanh
nghiệp cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thực hiện việc theo dõi chặt chẽ về mặt số lượng, không để xảy ra tình
trạng mất mát, thiếu hụt.
Đảm bảo tất cả các TSCĐ đều được cất giữ ở nơi phù hợp cho sản xuất
đồng thời đáp ứng đầy đủ các yếu tố kỹ thuật, giảm thiểu tối đa sự hao mòn do
các yếu tố tự nhiên làm giảm giá trị của TSCĐ.
cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh từng kỳ
hạch toán, công việc này gọi là trích khấu hao TSCĐ. Tuy nhiên trên thực tế
việc tính toán chính xác giá trị hao mòn của mỗi TSCĐ trong một khoảng thời
gian là không thể, bởi vậy nguyên tắc hạch toán kế toán cho phép việc trích khấu
hao tài sản cố định căn cứ trên thời gian hữu dụng được ước đoán một cách
tương đối của TSCĐ. Như vậy trên thực tế việc trích khấu hao tài sản cố định là
một hoạt động mang tính chủ quan, giả định về lượng giá trị hao mòn của TSCĐ
trong một khoảng thời gian nhất định để phân bổ dần nguyên giá của TSCĐ vào
chi phí sản xuất kinh doanh.
Giá trị hao mòn của TSCĐ được tính bằng số khấu hao luỹ kế đến thời
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
điểm xác định.
Do việc tính khấu hao liên quan trực tiếp đến chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ dẫn đến ảnh hưởng đến nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của
các đơn vị sản xuất kinh doanh do đó các qui định hiện hành có qui định chặt
chẽ về các phương pháp tính khấu hao được áp dụng.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 03, 04 có 3 phương pháp khấu hao
được áp dụng cho TSCĐ bao gồm:
1) Phương pháp khấu hao theo đường thẳng
2) Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần
3) Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm.
Giá trị còn lại của TSCĐ
Giá trị còn lại của TSCĐ là giá thực tế của TSCĐ tại một thời điểm nhất
định. Trên góc độ kế toán giá trị còn lại của TSCĐ được xác định bằng hiệu số
giữa nguyên giá TSCĐ và giá trị hao mòn (số khấu hao luỹ kế tính đến thời
điểm xác định).
Giá trị còn lại TSCĐ = Nguyên giá TSCĐ - Giá trị hao mòn TSCĐ
Để thực hiện việc theo dõi giá trị của TSCĐ theo cả ba tiêu chí giá trị
doanh nghiệp cần phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định:
Nghiệp vụ tăng TSCĐ: Quyết định mua mới TSCĐ, Hoá đơn mua TSCĐ,
hợp đồng mua, Biên bản đấu thầu, Biên bản bàn giao TSCĐ, Bản sao các tài liệu
kỹ thuật, Biên bản nghiệm thu khối lượng công sửa chữa hoàn thành
Theo dõi trong kỳ: Thẻ TSCĐ, Biên bản kiểm kê TSCĐ, bảng tính và
phân bổ khấu hao TSCĐ, sổ chi tiết và sổ tổng hợp TSCĐ. Tùy thuộc vào hình
thức tổ chức hạch toán kế toán, đơn vị sẽ sử dụng các loại sổ sách phù hợp để
theo dõi các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Nghip v gim TSC: Biờn bn giao nhn TSC, Biờn bn thanh lý
TSC, Biờn bn ỏnh giỏ li TSC.
S 1.1: Quy trỡnh luõn chuyn chng t TSC
Hội đồng
giao nhận
Kế toán
tài sản
Chủ sở hửu
Quyết định
tăng, giảm
TSCĐ
Giao, nhận
tài sản
thẻ tài sản
Lập, huỷ
Lập biên
bản
Ghi sổ chi
tiết
Lập bảng
phân bố
Nợ gốc
phải trả
kỳ này
Nhận đ
Ư
ợc hoá đơn thanh toán
TK 111, 112
Mua lại TSCĐ thuê tài
chính thành TSCĐ thuộc
sở hữu đợn vị
TK 211
Trả lại TSCĐ thuê tài chính
cho bên cho thuê
trị hao mòn
Chi tiền trả thêm
khi mua lại
TSCĐ thuê tài
chính
tiền thuê và chi trả nợ ngay
TK 133
TK 635
Nhận HĐ
nh
Ư
ng ch
Ư
a
trả nợ ngay
Thuế GTGT
Thuế GTGT đ
TK 627, 641, 642
TK 242
TK 214
Giá trị còn lại lớn
Giảm TSCĐ do
Giảm TSCĐ do
thanh lý, nhƯợng bán
trả lại vốn góp liên doanh
TCSĐ còn mới, chƯa sử dụng
chuyển thành
TSCĐ giảm do
công cụ
dụng cụ
đã sử
dụng
ĐƯợc cấp, biếu, nhận
TSCĐ mua cần lắp dật, CDCB
vốn góp bằng TSCĐ
hoàn thành đƯa vào sử dụng
TSCĐ thừa trong
kiểm kê
phân bố nhiều lần
Giá trị hao mòn
TSCĐ
Chuyển quyền sở hữu
TSCĐ thuê tài chính
Chuyển công cụ dụng
cụ thành TSCĐ
Đánh giá tăng TSCĐ
Giá trị
TSCĐ mua ngoài đƯ
a ngay
vào sửu dụng
TK 133
TK 111,112, 331
TK 213
TK 331
TK 242
(theo giá mua trả ngay)
TSCĐ mua trả chậm
TK 133
TSCĐVH hình thành
trong giai đoạn triển khai
TK 241
TK 411
TSCĐVH tăng do nhận
lại vốn góp liên doanh
TK 128, 222
TK 711
TK 811
TK 214
Giá trị hao mòn
Ngyuên giá của TSCĐ
thanh lý, nhƯ
ợng bán
TK 128, 222
thiếu trong kiểm kê
Ngyuên giá của TSCĐ
Giá trị hao mòn
TK 1381
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2 KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.2.1 Vai trò của Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong kiểm toán Báo cáo
tài chính.
Mục tiêu của Kiểm toán Báo cáo tài chính là xác minh và bày tỏ ý kiến về
tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, thực trạng tài chính được phản ánh trên
hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
TSCĐ lại là một khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính do chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp đặc biệt trong những doanh
nghiệp sản xuất, TSCĐ phản ánh nguồn lực cho sản xuất kinh doanh của đơn vị
mặt khác chi phí khấu hao TSCĐ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tổng chi phí sản
xuất kinh doanh trong kỳ qua đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
và nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước.
Tại các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh với qui mô lớn, giá trị của
TSCĐ lớn, số lượng và chủng loại phong phú, công tác quản lý TSCĐ trở nên
rất phức tạp và khó khăn. Trong khi đó, nhu cầu quản lý tài chính đòi hỏi xác
định chính xác chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, khấu hao
TSCĐ, đánh giá tính kinh tế của việc mua sắm đầu tư TSCĐ…
Vì vậy kiểm toán khoản mục TSCĐ thường chiểm tỉ lệ quan trọng trong
kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán khoản mục TSCĐ không chỉ nhằm mục
đích phát hiện ra các sai sót gian lận tài chính liên quan đến các nghiệp vụ
TSCĐ mà còn nhằm mục đích nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý TSCĐ.
1.2.2 Các sai phạm liên quan đến TSCĐ
Đối với khoản mục TSCĐ nói riêng và toàn bộ báo cáo tài chính nói
chung luôn chứa đựng nhiều sai phạm tiềm tàng dẫn đến việc phản ánh sai lệch
các thông tin tài chính của đơn vị, trong thực tế liên quan đến khoản mục TSCĐ
có rất nhiều loại sai phạm có thể xảy ra trong đó có một số hình thức phổ biến
sau:
toán cố tình nhằm nhiều mục đích khác nhau. Xét về khía cạnh bản chất nghiệp
vụ các sai phạm do cố ý luôn có tính chất trọng yếu, các gian lận thường có sự
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
giàn xếp kĩ lưỡng do đó kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán khoản mục
TSCĐ cần đặc biệt chú ý. Một số gian lận thường xảy ra trong thực tế như:
Ghi chép các nghiệp vụ không có thật liên quan đến TSCĐ, khả năng này
đặc biệt dễ xảy ra trong trường hợp các TSCĐ hữu hình hình thành từ hoạt động
nghiên cứu triển khai, do các loại TSCĐ này thưòng mang đặc thù riêng và việc
đánh giá giá trị gặp nhiểu khó khăn nên các chi phí bị ghi khống nhằm mục đích
biển thủ công quĩ.
Các hành vi gian lận nhằm tham ô chiếm đoạt giá trị chênh lệch giữa hoá
đơn chứng từ và thực tế phát sinh như: ghi tăng nguyên giá TSCĐ bằng cách
làm giả hoá đơn khi mua sắm, ghi giảm giá trị khi thanh lý bằng cách thông
đồng với bên thứ ba.
Biển thủ công quĩ bằng cách cố tình không ghi nhận giá trị còn lại của
TSCĐ khi thanh lý.
Cố tình áp dụng sai chế độ kế toán như áp dụng tỷ lệ khấu hao nhanh hơn
qui định, trích khấu hao đối với những TSCĐ đã khấu hao hết nhằm mục đích
tăng chi phí phát sinh giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước,
ghi tăng nguyên giá TSCĐ chưa đưa vào sử dụng.
Nắm bắt được tầm quan trọng của TSCĐ trong báo cáo tài chính và các
sai phạm tiềm tàng có thể xảy ra liên quan đến TSCĐ sẽ giúp kiểm toán viên có
định hướng tốt trong quá trình kiểm toán, tiết kiệm thời gian và chi phí kiểm
toán nhờ việc xây dựng chương trình và thiết kế các thủ tục kiểm toán hợp lý,
khoa học.
1.3 QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.3.1 Mục tiêu kiểm toán khoản mục TSCĐ
Với tư cách là một hoạt động nghề nghiệp độc lập có chức năng “xác
Các TSCĐ được ghi chép đều có thật
Các nghiệp vụ tăng giảm TSCĐ được ghi chép đều phát
sinh trong thực tế
3 Tính đầy đủ
Các nghiệp vụ và số tiền phát sinh liên quan đến TSCĐ đều
được hạch toán đầy đủ
4
Quyền và nghĩa
vụ
Các TSCĐ được phản ánh trên bảng cân đối kế toán đều
thuộc quyến sở hữu của đơn vị hoặc đơn vị có quyền kiểm
soát lâu dài.
5
Tính định giá và
phân bổ
Nguyên giá và giá trị còn lại được đánh giá đúng theo chế
độ kế toán hiện hành
Khấu hao TSCĐ được tính toán đúng và nhất quán giữa các
kỳ và phân bổ hợp lý vào các chi phí sản xuất kinh doanh
trong kỳ phù hợp với qui định hiện hành
6
Tính chính xác
cơ học
Đảm bảo sự chính xác tuyệt đối của các con số trong quá
trình cộng sổ và chuyển sổ;
Các số liệu trên số dư tài khoản, trên sổ Chi tiết, sổ Cái và
bảng cân đối phải khớp đúng
7
Trình bày và
công bố
chất lượng của cuộc kiểm toán, chuẩn mực đầu tiên trong “mười chuẩn mực
kiểm toán được chấp nhận rộng rãi” có nêu rõ: “phải lập kế hoạch chu đáo cho
công việc kiểm toán”
Lập kế hoach kiểm toán một cách kỹ lưỡng là điều kiện cho phép kiểm
toán viên thu thập được đầy đủ bằng chứng có hiệu lực, giảm được chi phí kiểm
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
toán và giảm thiểu những bất đồng với khách thể kiểm toán trong quá trình tiến
hành công việc.
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 có quy định: “Kế hoạch kiểm
toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát được hết các
khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán, đảm bảơ phát hiện những vấn đề tiềm
ẩn và theo đó cuộc kiểm toán hoàn thành đúng hạn”.
Để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên cần thực hiện những bước
công việc sau:
Thu thập thông tin cơ sở: sự hiểu biết toàn diện về tình hình kinh doanh,
lĩnh vực hoạt động của khách hàng là rất cần thiết để thực hiện một cuộc kiểm
toán có hiệu quả. Dựa trên những hiểu biết thu thập được kiểm toán viên có thể
nhận diện được các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, xác định trọng tâm của cuộc
kiểm toán. Đây cũng là nội dung của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 310:
“Hiểu biết về tình hình kinh doanh”.
Riêng đối với khoản mục TSCĐ, những hiểu biết về tình hình hoạt động,
lĩnh vực ngành nghề kinh doanh của đơn vị được kiểm toán sẽ cho phép kiểm
toán viên xác định được mức độ trọng yếu của khoản mục TSCĐ đối với báo
cáo tài chính thông qua tỉ trọng hợp lý của khoản mục TSCĐ trên tổng tài sản
của đơn vị, xác định những rủi ro tiềm tàng có thể xảy ra đối với các nghiệp vụ
có thể liên quan đến TSCĐ thông qua việc thăm quan nhà xưởng, tìm hiểu vể cơ
cấu tổ chức, quản lý TSCĐ, việc phân công phân nhiệm trong đơn vị để thực
hiện các nghiệp vụ về TSCĐ. Kiểm toán viên cũng có thể tìm hiểu và đưa ra
được mức độ hợp lý đối với hoạt động đầu tư, mua sắm và thanh lý TSCĐ hàng
hệ trọng của các sai phạm, bao gồm cả sai sót và gian lận. Mọi nội dung được
trình bày trên báo cáo tài chính đều được xem xét trên khía cạnh trọng yếu do
vậy việc xác định mức độ trọng yếu đối với từng khoản mục trên báo cáo tài
chính là một yêu cầu bắt buộc để thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài
chính. Bản chất của việc đánh giá và phân bổ mức độ trọng yếu cho các khoản
mục TSCĐ và các khoản mục khác là việc kiểm toán viên dựa trên các thông tin
thu thập được và khả năng xét đoán nghề nghiệp để lượng hoá bằng đơn vị tiền
tệ mức độ nghiêm trọng của một sai phạm xảy ra. Do vậy trong những trường
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hợp cụ thể khác nhau, mức độ trọng yếu của khoản mục TSCĐ rất khác nhau tuỳ
thuộc vào nhận định và hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán.
Đánh giá rủi ro: rủi ro kiểm toán là khái niệm luôn đi kèm trong mọi
cuộc kiểm toán báo cáo tài chính bởi xét dưới góc độ kinh tế kiểm toán viên
không thể chắc chắn tuyệt đối báo cáo tài chính đã được kiểm toán không còn
chứa đựng những sai sót trọng yếu. Do vậy trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán kiểm toán viên phải xác định một mức rủi ro kiểm toán mong muốn trên cơ
sở hai yếu tố: mức độ người sử dụng tin tưởng vào báo cáo tài chính và khả
năng khách hàng gặp phải những khó khăn tài chính sau khi báo cáo kiểm toan
được công bố.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – “Đánh giá rủi ro và kiểm
soát nội bộ”: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do công ty kiểm toán và kiểm toán viên
đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán
còn có những sai sót trọng yếu”. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận rủi ro
tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán kiểm toán viên phải tiến hành đánh giá rủi ro tiềm tàng và đưa ra
những đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng: theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400
– “Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ”: “Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn
có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa
viên cần thực hiện bao gồm nội dung, phạm vi, qui mô của các thử nghiệm kiểm
toán.
Chương trình kiểm toán được thiết kế cho mục đích kiểm toán khoản mục
TSCĐ bao gồm ba bộ phận: thử nghiệm kiểm soát, kiểm tra chi tiết và thủ tục
phân tích.
Thiết kế được chương trình kiểm toán phù hợp là điều kiện để kiểm toán
viên thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán có hiệu lực, đảm bảo được
cuộc kiểm toán được thực hiện đúng thời gian có chi phí hợp lý.
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.2.2 Thực hiện kiểm toán
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên tiến hành thực hiện
chương trình kiểm toán đã đề ra theo đúng kế hoạch. Bao gồm việc thực hiện
các thử nghiệm kiểm soát và các thử nghiệm cơ bản:
Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát: đối với TSCĐ, các thử nghiệm
kiểm soát thực hiện nhằm mục đích chứng minh sự hữu hiệu của hệ thông kiểm
soát nội bộ trong viêc ngăn chặn các sai phạm xảy ra đối với TSCĐ, như vậy các
thử nghiệm kiểm soát chỉ được thực hiện khi đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm
soát đối với khoản mục là không cao.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt nam số 500- “Bằng chứng kiểm toán”:
“Thử nghiệm kiếm soát là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự
thiết kế và vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ”.
Kiểm toán viên sẽ căn cứ trên các mục tiêu kiểm soát để tiến hành các thử
nghiệm kiểm soát như trong bảng sau:
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Bảng 1.2: Các thử nghiệm kiểm soát đối với TSCĐ
Các
mục
giao nhận TSCĐ, biên bản thanh
lý TSCĐ, công văn đề nghị
mua...
- Kiểm tra dấu hiệu của sự huỷ
bỏ
Tính
trọn
vẹn
- Tất cả các TSCĐ tồn tại trong
đơn vị phải được quản lý bằng
một bộ hồ sơ riêng, có mã tài sản
gắn kèm
- Thường xuyên có sự đối chiếu
giữa thực tế và sổ sách kế toán
- Kiểm tra dấu hiệu của việc đối
chiếu giữa sổ sách và thực tế tại
đơn vị
- Kiểm tra một mẫu các hoá đơn
được đánh số liên tục và đối
chiếu với TSCĐ hiện hữu thực tế
Quyền
và
nghĩa
vụ
- Trong mỗi hồ sơ TSCĐ phải
phân định rõ TSCĐ thuộc quyền
sở hữu của đơn vị và TSCĐ đi
thuê, đảm bảo những TSCĐ
không thuộc quyền sở hữư của
đơn vị được ghi chép ngoài bảng