91 Kiểm toán nội bộ - Công cụ hữu hiệu của hoạt động kiểm soát - Pdf 21

LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong giai đoạn mở cửa hội nhập với các nước trên thế giới
và trong khu vực, thêm vào đó nhiều vấn đề chưa được giải quyết đồng bộ như các
yếu tố về pháp luật, về luật định, về các chính sách kinh tế-xã hội… Do đó, việc
điều hành quản lý hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay ít nhiều bị ảnh hưởng.
Thực tế xảy ra ở nhiều doanh nghiệp có những biểu hiện không đồng bộ, khổn
thống nhất, cácvụ việc vi phạm quy chế, nghiệp vụ vẫn lặp đi lặp lại chưa được
giải quyết triệt để. Muốn uốn nắn và phát hiện sai sót kịp thời nhằm nâng cao hiệu
quả kkinhdoanh của doanh nghiệp đòi hỏi phải có một bộ phận kiểm toán nội bộ
hoạt động một cách có hiệu quả tại mỗi doanh nghiệp.
Việc hình thành một tổ chức kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp sẽ làm
chi phí quản lý tăng lên trong khi các doanh nghiệp chưa thấy được các lợi ích
mang lợi từ kiểm toán nội bộ. Đây là một trong những lý do làm cho các doanh
nghiệp nhất là các doanh nghiệp có quy mô hoạt động nhỏ chưa tổ chức bộ phận
kiểm toán. Các doanh nghiệp này thường kết hợp giữa bộ phận kế toán với bộ
phận kiểm toán. Điều này trái với nguyên tắc “bất kiêm nhiệm” và không đúng với
tính chất, nội dung của kiểm toán nội bộ. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp hiện
nay đã có bộ phận kiểm toán nội bộ nhưng hoạt động còn yếu kém, chỉ mang tính
hình thức nên tác dụng giám sát và kiểm tra còn yếu. Một phần do kiểm toán viên
chưa được đào tạo đầy đủ về chuyên môn kiểm toán, thiếu kinh nghiệm trong
kiểm toán. Mặt khác kiểm toán viên cũng chưa được giao đầy đủ “quyền hạn trách
nhiệm”. Vì vậy đôi khi công tác kiểm toán mất tính khách quan, chỉ kiểm toán và
đưa ra những kết luận tốt, những mặt ưu điểm còn sai sót thì bỏ qua.
Chính vì vậy, việc hình thành một hệ thống kiểm toán nội bộ là một tất yếu
đối với các doanh nghiệp hiện nay. Đồng thời việc hoàn thiện các công tác này là
một điều rất cần thiết không chỉ cho bản thân các doanh nghiệp mà còn cho cả hệ
thống nền kinh tế.
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp
và xuất phát từ mong muốn muốn tìm hiểu thêm nữa về công tác kiểm toán nội bộ
1
nên em đã chọn đề tài là: “Kiểm toán nội bộ - Công cụ hữu hiệu của hoạt động

bảo đảm hiệu quả của hoạt động.
Tuy nằm trong một thể thống nhất song bốn mục tiêu trên đôi khi cũng có
sự mâu thuẫn với nhau như tính hiệu quả của hoạt động với mục đích bảo vệ tài
sản, sổ sách hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy. Vì vậy nhiệm vụ của các
nhà quản lý là xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và kết hợp hài
hòa bốn mục tiêu trên.
Theo Chuẩn mực kiểm toán số 400 quy định: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là
các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vị được kiểm toán xây dựng và áp
dụng nhằm đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và các quy định, để kiểm tra,
kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót để lập báo cáo tài chính trung
thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của đơn vị”.
Về bản chất, có thể hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ như sau:
3
- Kiểm soát nội bộ là một quá trình, bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm
soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể
thống nhất.Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp đơn vị đạt được các mục
tiêu của mình.
- Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người. Kiểm soát nội
bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu … mà bao gồm cả
con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên
khác… Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và
vận hành chúng.
- Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ không bảo đảm
tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. Do trong khi vận hành hệ thống kiểm
soát các sai phạm có thể xảy ra làm cho các mục tiêu không thực hiện được, hệ
thống kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn các sai phạm nhưng không thể đảm bảo
chúng không bao giờ xảy ra.
2. Các yếu tố cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ
Mặc dù có sự khác biệt về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn
vị khác nhau song ở bất kỳ đơn vị nào hệ thống kiểm soát nội bộ cũng được cấu

- Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát
sinh.
- Sự đánh giá: bảo đảm không có sai phạm trong việc tính toán các khoản
giá và phí.
- Sự phân loại: bảo đảm các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài
khoản và ghi nhận đúng đắn ở các sổ sách kế toán.
- Tíng đúng kỳ: bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được ghi sổ
theo đúng quy định.
- Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán được ghhi vào
sổ phải được tổng cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các Báo
cáo tài chính của doanh nghiệp.
5
* Các thủ tục kiểm soát:
Các thủ tục kiểm soát do Ban giám đốc đơn vị thiết lập và thực hiện nhằm
đạt được mục đích quản lý cụ thể. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 quy
định: “Kiểm toán viên phải hiểu biết các thủ tục kiểm soát của đơn vị để xây dựng
kế hoạch và chưong trình kiểm toán”. Các thủ tục kiểm soát chủ yếu bao gồm:
- Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu liên quan đến đơn vị.
- Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán.
- Kiểm tra chưong trình ứng dụng và môi trường tin học.
- Kiểm tra và phê duyệt các tài liệu kế toán.
- Đối chiếu giữa số liệu nội bộ với bên ngoài.
- So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán.
- Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và các tài liệu kế toán.
- Phân tích, so sánh giữa số liệu thực tế với dự toán, kế hoạch.
Các thủ tục kiểm soát được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên
tắc phân công phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc ủy
quyền và phê chuẩn.

* Kiểm toán nội bộ:

- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn,đãng
trí hay ước lượng sai, hiếu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp
dưới…
- Khả năng đánh lừa, lẩn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với
nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị.
- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào cácnghiệp vụ thường xuyên
phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai
phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua.
- Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho
hoạt đọng kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại được tính do sai sót hay gian lận
gây ra.
- Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng
quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng.
7
- Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm
soát không còn phù hợp…
Chính những hạn chế nói trên đây của kiểm soát nội bộ là nguyên nhân
khiến cho kiểm soát nội bộ không thể bảo đảm tuyệt đối trong việc đạt được mục
tiêu của mình.
8
PHẦN II:
KIỂM TOÁN NỘI BỘ-CÔNG CỤ HỮU HIỆU CỦA HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT
1. Sự cần thiết của kiểm toán nội bộ
Hình thức kiểm toán nội bộ lần đầu tiên xuất hiện tại Mỹ vào những năm 30
của thế kỷ 20 và sau đó lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới. Tổ chức quốc tế
về kiểm toán nội bộ (IIA) đã thành lập năm 1941 tại Mỹ. Tổ chức này đã quy định
bản chất, mục tiêu, chức năng và phạm vi họat động của kiểm toán nội bộ. Tổ
chức kiểm toán nội bộ là thành viên của IFAC và INTOSAI. Từ những năm 60
cho đến nay, hoạt động kiểm toán nội bộ đã phát triển rộng rãi trên thế giới.

ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hoạt động và mục tiêu của đơn vị cúng sẽ tăng
lên. Lúc này, các nhà quản lý khó có thể trực tiếp tiến hành việc kiểm tra và đánh
giá sự tuân thủ các chính sách và thủ tục kiểm soát. Vì thế, cần phải có một bộ
phận chuyên môn để giúp họ thực hiện điều này, đó chính là bộ phận kiểm toán
nội bộ.
Ở nước ta, khả năng dự báo và phân tích của các doanh nghiệp là rất hạn
chế, còn nhiều dáng dấp của thời quản lý bao cấp. Doanh nghiệp quốc doanh vẫn
muốn ỷ lại, dựa dẫm vào nhà nước. Doanh nghiệp chưa có hệ thống phân tích chức
năng, do đó việc tổ chức một bộ phận kiểm toán nội bộ ở các doanh nghiệp là hết
sức đúng đắn. Kiểm toán nội bộ là tai mắt cho doanh nghiệp. Mục đích của kiểm
toán nội bộ là tạo ra công cụ để phân tích toàn bọ hoạt động chiến lược, để rút kinh
nghiệm trong quản lý, trong điều hành, đòng thời đề ra chiến lược phát triển của
riêng doanh nghiệp, đảm bảo chi tiêu có lợi, tiết kiệm, minh bạch về số liệu kế
toán.
Sau khi Nhà nước ban hành Quyết định 832-TC/QĐ/CĐKT ngày 28 tháng
10 năm 1997 về viẹc ban hành quy chế kiểm toán nội bộ, ởt nhiều Tổng công ty
bộ phận kiểm toán nội bộ đã được thành lập và đi vào hoạt động.
2. Bản chất, chức năng của kiểm toán nội bộ
2.1. Bản chất của kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là nhu cầu cần thiết khách quan cho việc kiểm soát chất
lượng hoạt động và bảo đảm chất lượng thông tin kinh tế, tài chính của bản thân
10
doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chất lượng
hoạt động của doanh nghiệp và không chỉ giới hạn ở phạm vi kiểm toán báo cáo
tài chính. ở phạm vi rộng hơn và quan trọng hơn, kiểm toán nội bộ phải kiểm toán
hoạt động và kiểm toán tính tuân thủ các quy định, các chế độ hiện hành của Nhà
nước và của doanh nghiệp… nhưng nhìn chung, kiểm toán nội bộ là vấn đề khá
phức tạp và còn mới mẻ ở nước ta.
Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (IIA) đã định nghĩa về kiểm toán nội bộ như
sau:

nhận định, phân tích, đánh giá, ghi chép và thông báo kết quả; đồng thời kiểm toán
viên nội bộ cũng phải tuân thủ những quy định về mặt đạo đức nghề nghiệp. Đánh
giá và cải thiện là chức năng chủ yếu của kiểm toán nội bộ, họ phải tìm hiểu, phận
tích sự việc để có những đánh giá thích hợp và đưa ra các đề xuất để cải thiện hoạt
động của tổ chức.
Mục đích của kiểm toán nội bộ là thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chất
lượng hoạt động và chất lượng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp, giúp
cho công tác điều hành của chủ sở hữu, nhà điều hành doanh nghiệp trong việc
giúp phát hiện và khắc phục khâu yếu, ngăn ngừa sai sót, gian lận trong hoạt động
kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, kết quả kiểm toán nội bộ sẽ góp
phần đắc lực và hiệu quả vào việc đảm bảo thông tin kinh tế, tài chính cung cấp
cho các đối tựong bên ngoài doanh nghiệp.
Mục tiêu của kiểm toán nội bộ :
- kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
- đảm bảo việc tuân thủ chủ trương chính sách, pháp luật của Nhà nước,
quy chế và quy trình nghiệp vụ của đơn vị, ngăn ngừa những hiện tượng vi phạm
hoặc không tuân thủ pháp luật, quy trình nghệp vụ dẫn đến rủi ro trong hoạt động.
- đảm bảo hoạt động của từng bộ phận trong đơn vị được triển khai đúng
định hướng các biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu lực và hiệu quả.
- xác định, đánh giá tính chính xác, đầy đủ, hợp lý của các thông tin trên
báo cáo tài chính và báo cáo nghiệp vụ của đơn vị.
- kiến nghị với các cơ quan chủ quản cấp trên trong việc sửa đổi, bổ sung,
kiến nghị hoặc ban hành mới các cơ chế, quy chế nhằm tăng cường biện pháp bảo
đảm an toàn tài sản, tăng hiệu quả hoạt động.
12
Đối tượng của kiểm toán nội bộ là các hoạt động kinh tế tài chính, kế toán,
kinh doanh của đơn vị, của các phòng ban, bộ phận trong tổ chức, doanh nghiệp.
Còn đối tượng phục vụ của kiểm toán nội bộ gồm:
- ban giám đốc: “ Khách hàng được ưu tiên của kiểm toán viên”.
- các bộ phận được kiểm toán với các yêu cầu thường là khác nhau, nhưng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status