114 Hoàn thiện quy trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn do Công ty AASC thực hiện - Pdf 21

Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đã biết nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế đó đang ngày càng phát triển và
hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Sự cạnh tranh sinh ra sự phát triển. Các
doanh nghiệp cạnh tranh nhau trên mẫu mã sản phẩm, trên giá cả sản phẩm,
chất lượng sản phẩm … Không chỉ vậy, việc nắm bắt thông tin tài chính của
nhau cũng là một sự cạnh tranh để phát triển công ty.
Bên cạnh việc nắm bắt rõ tình hình tài chính của đối thủ cạnh tranh, các
nhà quản lý cũng phải hiểu rõ tình hình tài chính của chính công ty mình để có
thể đề ra những chiến lược phát triển đúng đắn và kịp thời nhằm nâng cao
doanh thu và lợi nhuận.Vì thế hiện nay kiểm toán ngày càng có vai trò quan
trọng đối với nền kinh tế nói chung và từng thực thể kinh tế nói riêng.Nhu cầu
kiểm toán ngày càng cao trong đó đáng nói đến là kiểm toán báo cáo tài chính.
Và trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn
ngày càng thu hút được sự chú ý của những người quan tâm đến Báo cáo kiểm
toán.
Nền kinh tế phát triển là một yếu tố kích thích sự hợp tác giữa các
doanh nghiệp, nhằm tạo ra sự phong phú trong ngành nghề kinh doanh của
một doanh nghiệp, tăng doanh thu và lợi nhuận cho doanh nghiệp cũng như
gây dựng uy tín và mở rộng thương hiệu cho doanh nghiệp. Do ngày nay sự
liên doanh hợp tác giữa các doanh nghiệp các tập đoàn ngày càng phát triển và
lan rộng trong nền kinh tế nên khoản mục đầu tư tài chính đặc biệt là đầu tư
tài chính dài hạn trong Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp ngày càng
phức tạp. Đầu tư dài hạn bao gồm góp vốn liên doanh; đầu tư và công ty con;
đầu tư vào công ty khác và các khoản đầu tư tài chính dài hạn khác. Để đánh
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
1
Luận văn tốt nghiệp
giá một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hay không, ngoài việc đánh giá tỷ
suất sinh lời của doanh nghiệp đó, còn đánh giá việc đầu tư tài chính của

hai loại: Đầu tư tài chính dài hạn và đầu tư tài chính ngắn hạn.
Các khoản đầu tư dài hạn là một khoản mục thuộc Bên Tài sản trong
BCĐKT của một doanh nghiệp. Các khoản đầu tư dài hạn là các khoản đầu
tư với thời gian thu hồi vốn trên một năm, bao gồm đầu tư bằng tiền, bằng
hiện vật hoặc bằng các tài sản khác.
Doanh nghiệp có thể thực hiện đầu tư tài chính dài hạn dưới các hình
thức sau:
• Đầu tư vào công ty con (TK 221)
• Góp vốn liên doanh (TK 222)
• Đầu tư vào công ty liên kết (TK 223)
• Đầu tư dài hạn khác (TK 228)
• Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn (TK 229)
Công ty con: là một doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một công ty
khác gọi là công ty mẹ. Đầu tư vào công ty con bao gồm các khoản đầu tư cổ
phiếu và các khoản đầu tư vốn dưới hình thức góp vốn bằng tiền, tài sản
khác vào công ty con hoạt động theo loại hình Công ty Nhà nước, Công ty
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
3
Luận văn tốt nghiệp
TNHH một thành viên, Công ty cổ phần Nhà nước và các loại hình doanh
nghiệp khác. Nghiệp vụ đầu tư vào công ty con được ghi nhận khi nhà đầu tư
giữ trên 50% quyền biểu quyết và có quyền chi phối các chính sách tài chính
và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích từ các hoạt
động của doanh nghiệp đó
Vốn góp liên doanh phản ánh toàn bộ số vốn góp liên doanh dưới hình
thức thành lập cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát và tình hình thu hồi lại vốn
góp liên doanh khi kết thúc hợp đồng liên doanh. Vốn góp vào cơ sở liên
doanh đồng kiểm soát bao gồm tất cả các loại tài sản, vật tư, tiền vốn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp kể cả tiền vay dài hạn dùng vào việc góp vốn.
Công ty liên kết là công ty trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể

xem việc lập dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài hạn đã chính xác và tuân
thủ chuẩn mực cũng như quy định kế toán hiện hành hay chưa.
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn sẽ được lưu lại trong thời gian hơn
một năm. Do vậy trong các cuộc kiểm toán hàng năm, mức nguyên giá của các
khoản đầu tư này không cần kiểm tra lại nếu đó là khách hàng thường niên của
công ty kiểm toán. Tuy nhiên để đảm bảo các khoản đầu tư dài hạn được mua
trong các giai đoạn trước thì phải kiểm tra sự tồn tại của các khoản đầu tư
quan trọng tại thời điểm ghi trong BCĐ. Đối với năm kiểm toán đầu tiên thì
KTV phải kiểm tra tính phân loại và trình bày của các khoản mục đầu tư dài
hạn xem có đủ điều kiện ghi nhận đầu tư dài hạn ko và dưới hình thức nào.
Khi doanh nghiệp thực tế có các cổ phiếu, trái phiếu hoặc các khoản đầu tư dài
hạn khác thì kiểm toán viên phải kiểm tra thực tế các chứng khoán đó. Khi các
khoản đầu này được một bên thứ ba độc lập với doanh nghiệp nắm giữ trên
danh nghĩa của doanh nghiệp thì phải kiểm tra sự tồn tại của chúng bằng cách
lấy xác nhận của bên thứ ba.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
5
Luận văn tốt nghiệp
Các khoản tăng đầu tư dài hạn quan trọng thường được ghi trong biên
bản các cuộc họp quan trọng của doanh nghiệp do các khoản đầu tư đó không
được coi là các hoạt động thông thường của doanh nghiệp. Tài liệu về các
chứng nhận cổ phiếu hoặc hợp đồng liên doanh phải nằm trong hồ sơ của
doanh nghiệp.
Đối với các khoản đầu tư dài hạn bằng hình thức góp vốn liên doanh thì
Báo cáo tài chính đã kiểm toán của liên doanh phải được sử dụng để tính toán
lại thu nhập hoặc chi phí cho liên doanh trong năm của doanh nghiệp.
Việc cần thiết tạo ra một khoản dự phòng giảm giá các khoản đầu tư dài
hạn phải được kiểm toán viên xem xét một cách cụ thể với các khoản đầu tư
dài hạn quan trọng. Bằng chứng về việc cần thiết đó có thể được thu thập bằng
cách tham khảo các Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các bên hữu

đơn vị trên hai mặt chủ yếu: thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về qui
chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu
lực của kiểm soát nội bộ.
Kiểm toán viên phải thu thập thông tin về tính trung thực của Ban giám
đốc với bản chất và phạm vi của các sổ sách kế toán để xác minh các bằng
chứng đủ thích hợp và có sẵn để chứng minh cho các số dư trên BCTC.
Đối với khoản mục đầu tư tài chính dài hạn thường được xem là khoản
mục quan trọng trong Bảng Cân đối và là hoạt động kinh doanh ảnh hưởng
đáng kể đến nguồn vốn cũng như lợi nhuận của Doanh nghiệp. Vì thế hệ thống
kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp có hiệu quả hay không cũng ảnh hưởng tới
khoản mục đầu tư dài hạn có được phản ánh trung thực và hợp lý hay không.
Cũng như giai đoạn tìm hiểu và khảo sát khách hàng, các phương pháp KTV
áp dụng khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến khoản mục đầu
tư tài chính dài hạn là:
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
7
Luận văn tốt nghiệp
• Dựa vào kinh nghiệm trước đây của KTV với khách hàng: Hầu hết các
cuộc kiểm toán của một công ty được một công ty thực hiện hàng năm. Do
vậy KTV thường bắt đầu cuộc kiểm toán với một lượng thông tin đáng kể về
hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đã thu thập được từ các cuộc kiểm
toán trước như Biên bản các cuộc họp cổ đông và cuộc họp bất thường liên
quan đến chiến lược đầu tư cũng như các quyết định đầu tư dài hạn. Các tài
liệu này được lưu trong hồ sơ thường niên của khách hàng. KTV có thể dựa
vào tài liệu năm trước để kiểm tra kế hoạch đầu tư của khách hàng trong
năm nay. Ví dụ trong cuộc họp cổ đông cuối năm 2006 của Công ty ABC,
Đại hội đồng cổ đông muốn mở rộng hình thức đầu tư và ABC nhận thấy
Công ty XYZ là một công ty có tỷ suất lợi nhuận cao trong năm 2006 và XYZ
có khả năng phát triển hơn nữa trong tương lai nên chiến lược đầu tư dài
hạn của Công ty ABC trong năm 2007 là góp vốn đầu tư vào công ty XYZ

nghiệm lâu năm trong lĩnh vực kế toán đảm nhiệm còn trong kỳ kế toán
năm nay lại do một nhân viên kế toán non nớt thiếu kinh nghiệm phụ trách
thì rủi ro kiểm soát trong kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn năm
nay sẽ cao hơn năm trước
Bước 2: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho
khoản mục đầu tư tài chính dài hạn:
Về nguyên tắc, nếu trong thực tế doanh nghiệp có sở hữu các tài sản
thì các công cụ này phải mang tên doanh nghiệp và do doanh nghiệp kiểm
soát. Tuy nhiên vận dụng nguyên tắc trên trong các trái phiếu hoặc các giấy
chứng nhận cổ phiếu có đặc điểm riêng. Thực tế, doanh nghiệp có thể duy trì
một TK với đại lý hoặc nhà đầu tư chịu trách nhiệm về các công cụ tài chính
đó trên danh nghĩa của doanh nghiệp theo cách thức ngân hàng thường
dùng để theo dõi tiền gửi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải mở sổ phụ
theo dõi cho từng hạng mục đầu tư dài hạn. Sổ phụ đó phản ánh giá vốn đầu
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
9
Luận văn tốt nghiệp
tư và khi câầ thiết phải tồn trong quy luật “ngang giá” của các khoản đầu
tư, có tính đến lãi suất, ngày đáo hạn, các mức phí hoặc chiết khấu thanh
toán và tỷ lệ phần trăm vốn trong liên doanh.
Rủi ro tiềm tàng thường có là rủi ro ghi tăng tài sản thông qua việc
vào sổ sách các chứng khoán đầu tư dài hạn không thuộc quyền sở hữu của
doanh nghiệp hoặc bằng cách ghi tăng giá thực tế của tài sản đem đầu tư.
Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua những hiểu biết về hệ thống
KSNB. Nếu KTV đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng được vận hành
hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp và ngược lại. Ví dụ như công
ty khách hàng đầu tư vào một công ty liên kết mà qua phỏng vấn khách hàng,
KTV nhận thấy khách hàng am hiểu các chuẩn mực về đầu tư vào công ty liên
kết và phân biệt được với các khoản đầu tư dưới hình thức khác, đồng thời
khoản đầu tư này được ghi nhận đầy đủ trong các biên bản họp của Đại hội

được kiểm toán mà theo KTV có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc
kiểm tra của KTV hoặc đến báo cáo kiểm toán. KTV và các trợ lý kiểm toán
phải luôn xem xét, đánh giá, cập nhật và bổ sung thêm các thông tin mới để
hiểu biết đầy đủ hơn về hoạt động của đơn vị.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV thu thập hiểu biết về
ngành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu hệ thống kế toán,
KSNB và các bên hữu quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán cụ
thể. Trong giai đoạn này KTV đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu,
đưa ra đánh giá bước đầu về mức trọng yếu và thực hiện những thủ tục phân
tích để xác định thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán chung và việc quản
lý thời gian đối với từng khoản mục để công việc kiểm toán được thực hiện
theo đúng kế hoạch.
Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng là công
việc khá quan trọng đối với KTV. Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
11
Luận văn tốt nghiệp
của khách hàng giúp cho KTV nhận thức, xác định và đánh giá được mức
trọng yếu của các khoản mục trên BCTC. Đối với một khách hàng có ngành
nghề kinh doanh chủ yếu là các hoạt động đầu tư thì khoản mục đầu tư tài
chính dài hạn là một khoản mục trọng yếu trên BCTC, và ngược lại đối với
những công ty dịch vụ thì khoản mục này được xem là không trọng yếu.
Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm những hiểu biết chung về
nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn về tổ
chức và hoạt động của đơn vị kiểm toán. Hiểu biết rõ về ngành nghề kinh
doanh của khách hàng giúp KTV hiểu thêm và có những kiến thức cơ bản về
nội dung cũng như mục đích đầu tư của khách hàng nói chung và đầu tư dài
hạn nói riêng. Từ đó có thể hiểu được các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt
động đầu tư tác động đến BCTC của khách hàng. KTV cũng cần tìm hiểu
phương pháp ghi nhận các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, góp

quan với khách hàng. Đối với các khoản đầu tư dài hạn, KTV càng nên xác
định đối tượng đầu tư dài hạn của khách hàng, ví dụ khách hàng đầu tư vào
công ty con nào, công ty liên kết nào hoặc góp vốn liên doanh với cơ sở liên
doanh đồng kiểm soát nào … để có thể lập kế hoạch thu thập thông tin của các
bên hữu quan đó hoặc bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các
bên liên quan để có thể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
Kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn thông thường không cần
tham khảo ý kiến của các chuyên gia, tuy nhiên trong một số trường hợp đặc
biệt, KTV phải sử dụng ý kiến của chuyên gia như một bằng chứng kiểm toán
thu thập được để xác minh các khoản đầu tư dài hạn có được phản ánh trung
thực và hợp lý trên BCĐ hay không và các chuyên gia ở đây thông thường là
các chuyên viên về luật kinh tế, những người hiểu rõ về các thủ tục cần thiết
khi đầu tư vào công ty con hoặc công ty liên kết hoặc góp vốn liên doanh.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
13
Luận văn tốt nghiệp
Bước 2: Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng:
Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp KTV nắm bắt
được quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh
mà kiểm toán viên thu thập được trong quá trình thu thập các thông tin cơ sở.
Những thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng thường được thu thập
trong quá trình tiếp xúc với BGĐ công ty, bao gồm các loại sau:
• Giấy phép thành lập và điều lệ công ty:
Việc nghiên cứu tài liệu này giúp KTV hiểu được mục tiêu hoạt động và lĩnh
vực kinh doanh hợp pháp của công ty, dựa vào đó xác minh các khoản đầu tư
của công ty có tuân thủ những nội dung trong giấy đăng ký kinh doanh và điều
lệ của Công ty hay không.
• Các BCTC, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra, biên bản các
cuộc họp cổ đông, HĐQT và BGĐ của năm hiện hành hay trong năm trước:
Dựa vào các báo cáo này, KTV có thể nhận thức được xu hướng phát triển của

của Ban giám đốc.
Vì đầu tư tài chính dài hạn thường là một khoản mục quan trọng trong
BCTC nên rủi ro về khoản mục này thường không cao, rủi ro sai sót ở khoản
mục này thông thường chỉ là phân biệt và hạch toán sai tính chất và hình thức
đầu tư giữa các khoản đầu tư dài hạn và trình bày không đúng trên BCTC. Ví
dụ: một khoản đầu tư vào công ty con nhưng được hạch toán trên TK 223 và
được thuyết minh thành đầu tư vào công ty liên kết trên thuyết minh BCTC.
Bước 5: Thiết kế chương trình kiểm toán:
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm
toán cần thực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các
KTV cũng như dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và
thu thập. Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết
kế thành ba phần: trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
15
Luận văn tốt nghiệp
trực tiếp các số dư. Chương trình kiểm toán các khoản đầu tư tài chính dài hạn
chung được thiết kế như sau:
- Kiểm toán tổng quát:
Thực hiện kiểm tra các giấy chứng nhận cổ phiếu, trái phiếu hoặc các
khoản ĐTDH khác mà DN có và/hoặc xác nhận các số dư đó với người đầu tư
hoặc đại lý mà DN có quan hệ.
- Kiểm toán chính thức:
+ Thu thập hoặc chuẩn bị danh mục các khoản ĐTDH thể hiện giá trị mang
sang vào thời điểm trước cuối kỳ kế toán (31/12), các khoản tăng và khoản
giảm trong năm, thu nhập hoặc tổn thất từ liên doanh trong năm và số dư cuối
kỳ. Cộng các tổng số và đối chiếu chúng với Bảng Cân đối và kết quả công
việc thực hiện trong thời kỳ kiểm toán tạm thời để xác định sự tồn tại của các
khoản ĐTDH tại thời điểm cuối kỳ kế toán (31/12).
+ Kiểm tra giá của các khoản tăng ĐTDH có qui mô lớn như sau:

toán.
▪ Thu thập được văn bản của Ban lãnh đạo về việc các khoản ĐTDH
được phân loại và miêu tả chính xác
+ Đưa ra kết luận về việc các khoản ĐTDH trong Bảng Cân đối:
▪ Thể hiện các khoản ĐTDH thực tế thuộc quyền sở hữu của DN tại thời
điểm cuối kỳ kế toán.
▪ Được kê khai và đánh giá chính xác.
▪ Được phân loại và miêu tả chính xác.
+ Giám sát và kiểm tra
+ Các điểm kiểm tra cụ thể.
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
17
Luận văn tốt nghiệp
Sau khi thiết kế được một chương trình kiểm toán đầu tư dài hạn cụ thể,
KTV tiến hành thực hiện kiểm toán.
1.2.3. Thực hiện kiểm toán:
Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật
kiểm toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng
kiểm toán. Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn,
KTV tiến hành các thủ tục kiểm toán để đánh giá tính trung thực và hợp lý của
khoản mục này. Thủ tục kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn thường để xác
định xem đơn vị có khả năng và có ý định nắm giữ các khoản đầu tư này dài
hạn không và phải thu thập các bản giải trình về khoản đầu tư dài hạn.
Trường hợp các khoản đầu tư dài hạn được xác định là trọng yếu trong
báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm
toán thích hợp về việc đánh giá và trình bày các khoản đầu tư dài hạn.
Thủ tục kiểm toán các khoản đầu tư dài hạn thường để xác định xem
đơn vị có khả năng và có ý định nắm giữ các khoản đầu tư này dài hạn không
và phải thu thập các bản giải trình về khoản đầu tư dài hạn.
Thủ tục kiểm toán thường bao gồm việc kiểm tra báo cáo tài chính và

tra nghiệp vụ đầu tư dài hạn ngược lại theo thời gian, từ Sổ cái ngược lại đến
thời điểm bắt đầu nghiệp vụ đầu tư. Quá trình này cung cấp bằng chứng kiểm
toán về hiệu lực của hệ thống KSNB như quy trình hạch toán ghi sổ và tổ chức
bộ máy kế toán của khách hàng về sự phù hợp và tính tuân thủ chuẩn mực kế
toán hiện hành.
Các biện pháp kỹ thuật dùng để thu thập bằng chứng kiểm toán cần phải
được thực hiện đồng bộ. Một biện pháp kỹ thuật cụ thể riêng rẽ thường không
có hiệu quả và không đáp ứng yêu cầu đầy đủ và tin cậy của các bằng chứng
kiểm toán. Việc lựa chọn những biện pháp kỹ thuật kiểm tra chủ đạo phải
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
19
Luận văn tốt nghiệp
thích ứng với loại hình hoạt động cần kiểm tra: Ví dụ với một khách hàng mà
hệ thống KSNB được xây dựng trên nguyên tắc phân chia nhiệm vụ thì biện
pháp chủ đạo của KTV thường là thực hiện lại quy trình hạch toán một vài
nghiệp vụ (có thể thực hiện chọn mẫu một nghiệp vụ tăng và một nghiệp vụ
giảm các khoản đầu tư tài chính dài hạn nếu có). Bên cạnh đó, KTV cần bảo
đảm tính kế thừa và phát triển các biện pháp kỹ thuật kiểm tra hệ thống
KSNB, trước hết có thể xem xét bằng chứng đã thu được từ những cuộc kiểm
toán năm trước. Sau khi thực hiện các thủ tục kiểm soát, KTV chuyển sang
thực hiện thủ tục phân tích với khoản mục.
Bước 2: Thủ tục phân tích với kiểm toán đầu tư tài chính dài hạn:
Thủ tục phân tích chủ yếu đối với các khoản đầu tư tài chính dài hạn là
xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ. Tính độc
lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến
tính chính xác của dự đoán và tới bằng chứng kiểm toán thu được từ thủ tục
phân tích. Phân tích số dư các khoản đầu tư và xem xét các thay đổi bất
thường là ưu tiên hàng đầu trong thủ tục phân tích khoản mục này.
Để đánh giá tính tin cậy của dữ liệu cần xem xét trên nhiều mặt. Dữ liệu
có nguồn độc lập từ bên ngoài có độ tin cậy cao hơn nguồn này từ bên trong.

kiểm tra chi tiết, xác nhận và kiểm tra thực tế là hai kỹ thuật thường được áp
dụng rộng rãi trong kiểm toán tài chính nói chung và kiểm toán các khoản đầu
tư dài hạn nói riêng.
Xác nhận số dư và những nghiệp vụ bằng một nguồn bên ngoài thường
cung cấp bằng chứng có tính thuyết phục. Xác nhận thường là một thủ tục
kiểm toán có hiệu quả vì thủ tục này có thể xác nhận thời điểm bắt đầu của
nghiệp vụ và những hoạt động xử lý nghiệp vụ đó. Vì thế, với các khoản đầu
tư dài hạn, KTV thường gửi thư xác nhận tới bên nhận đầu tư của khách
hàng và thường là thư xác nhận mở để yêu cầu bên nhận đầu tư cung cấp
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
21
Luận văn tốt nghiệp
thông tin chứ không yêu cầu minh chứng cho những dữ liệu khách hàng
cung cấp. Khi xác nhận các khoản đầu tư là chính xác thì KTV cũng không
thể chỉ sử dụng kết quả xác nhận đó làm bằng chứng kiểm toán mà còn phải
tiến hành kiểm tra thực tế nghiệp vụ đầu tư phát sinh xem việc ghi nhận các
khoản đầu tư có tuân thủ đúng quy định và chuẩn mực kế toán hiện hành
không bằng cách kiểm tra các hợp đồng liên doanh và quyết định đầu tư.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh hoạt động
kinh doanh được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh. Hoạt động
kinh doanh được đồng kiểm soát là hoạt động của một số liên doanh được
thực hiện bằng cách sử dụng tài sản và nguồn lực khác của các bên góp vốn
liên doanh mà không thành lập một cơ sở kinh doanh mới. Mỗi bên góp vốn
liên doanh tự quản lý và sử dụng tài sản của mình và chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ tài chính và các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động.
Hoạt động của liên doanh có thể được nhân viên của mỗi bên góp vốn liên
doanh tiến hành song song với các hoạt động khác của bên góp vốn liên
doanh đó. Hợp đồng hợp tác kinh doanh thường quy định căn cứ phân chia
doanh thu và khoản chi phí chung phát sinh từ hoạt động liên doanh cho
các bên góp vốn liên doanh.

b) Các phương pháp được sử dụng để kế toán các khoản đầu tư vào công ty
liên kết.
Đối với các khoản đầu tư giảm trong kỳ, kiểm tra chi tiết bằng cách
kiểm tra các khoản nhận tiền hoặc nhận tài sản, kiểm tra việc hạch toán
giảm khoản đầu tư được thanh lý trong kỳ và các khoản lãi lỗ hoặc chi phí
cũng như thu nhập khác khi thanh lý khoản đầu tư này.
Kiểm tra chi tiết còn là kiểm tra việc phân chia các khoản lợi nhuận
thu được từ các hoạt động đầu tư bằng cách thu thập thông tin về tình hình
Bùi Thị Ngọc Anh - Kiểm toán 46B
23
Luận văn tốt nghiệp
kinh doanh của doanh nghiệp nhận đầu tư (công ty con, công ty liên kết) và
tính toán lại các khoản lãi được hưởng hoặc lỗ phải chịu trong kỳ.
Sau khi xác nhận và kiểm tra thực tế, KTV thấy có dấu hiệu vi phạm
hoặc chênh lệch tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của những vi phạm đó đến
BCTC mà đưa ra bút toán điều chỉnh hoặc thực hiện các thủ tục kiểm toán
khác để xác minh mức độ ảnh hưởng của khoản mục đó đến BCTC. Nếu có
những dấu hiệu vi phạm và thực hiện không đúng quy định pháp luật hoặc kế
toán hiện hành, KTV cần trình bày ngay ý kiến của mình với Ban Giám đốc và
tuỳ thuộc vào hoàn cảnh có thể thông tin cho HĐQT vì khoản mục đầu tư dài
hạn thường là một khoản mục quan trọng trên BCTC và là chiến lược kinh
doanh lâu dài của Doanh nghiệp, vì thế ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thu thập đủ bằng chứng để kết luận về khoản mục đầu tư tài chính dài
hạn của khách hàng, KTV đi đến kết thúc kiểm toán cho khoản mục đó.
1.2.4. Kết thúc kiểm toán:
Sau khi thu thập đủ bằng chứng kiểm toán, KTV có thể đi đến kết luận
kiểm toán về khoản mục đầu tư tài chính dài hạn.
Nếu có những vi phạm trong việc trình bày các khoản đầu tư tài chính
dài hạn trên BCTC, KTV cần xem xét sự cần thiết và mức độ đầy đủ của vị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status