HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CÔNG NGHÊ THÔNG TIN
MÃ SỐ:
XÂY DỰNG WEBSITE GIỚI THIỆUBÁN HÀNG NỘI THẤT
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
NĂM-2012
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đem lại những bước tiến nhảy vọt
trong nhiều ngành kinh tế cũng như mọi mặt của đời sống xã hội. Ở nước ta, công
nghệ thông tin đang có những bước phát triển đáng kể từng bước khẳng định vị trí
của mình là một ngành kinh tế công nghệ mũi nhọn. Cùng với việc ứng dụng rộng
rãi của công nghệ thông tin trong các ngành kinh tế, xã hội thì nó cũng đang trở
thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho công tác quản lý của các đơn vị trong mọi
cấp, mọi ngành.
Hệ thống thông tin, cũng như các hệ thóng khác, có một chu trình sống, từ
khi được hình thành, trải qua giai đoạn khai thác và sử dụng, cho đến khi được thay
thế bằng một hệ thống thông tin khác, mạnh hơn và đầy đủ hơn. Quá trình xây dựng
là một trong các giai đoạn của vòng đời hệ thống thông tin. Quá trình này gồm
nhiều bước: nghiên cứu hiện trạng, phân tích thiết kế, cài đặt và thử nghiệm.
Đối với website giới thiệu và bán đồ nội thất, nhằm giúp phần nào cho khách
hàng tiết kiếm đc thời gian và công sức mà có thể ngồi ở một chỗ có thể mua và
tìm kiếm sản phẩm nội thất mình cần.
Trong quá trình vận hành và sử dụng website không thể thiếu những sai sót
mong nhận đc ý kiến góp ý để website được hoàn thiện hơn, xin cảm ơn.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ASP.NET
I. GIỚI THIỆU VỀ ASP.NET
ASP.NET là viết tắt của Active Server Pages .NET – Công nghệ phát triển
ứng dụng Web được phát triển bởi Micrsoft. Nếu đã từng nghe qua ASP thì chắc
hẳn bạn sẽ nghĩ đây là bản nâng cấp hay có thể là thế hệ tiếp theo của ASP. Điều
- Mô hình Page cũng như việc lập trình trang ASP.NET không phức tạp.
- Độc lập ngôn ngữ (Language Independence): ASP.NET cho phép bạn biên dịch
không phụ thuộc vào ngôn ngữ, thực hiện tối ưu việc kết hợp các ngôn ngữ khác
với nhau, bạn có thể dùng VB.NET, C# hay C++ để phát triển trang ASP.NET.
- Tách nội dung thành hai phần khác nhau nhằm dần tách rời người thiết kế giao diện
với người viết mã cho chương trình.
- Hỗ trợ nhiều trình khách. ASP.NET tự động nhận dạng trình khách để thể hiện ứng
dụng Web sao cho tốt nhất. Do đó khi lập trình với ASP.NET bạn không cần phải
quan tâm nhiều tới vấn đề viếc mã như thế nào để nhận dạng cũng như hiển thị cho
phù hợp với trình duyệt.
- Các điều khiển của Web Form là những điều khiển có thể được xuất ra mã HTML
3.2 trên trình duyệt. Ngoài ra chúng còn cho phép xuất ra các điều khiển của các
nền (platform) khác như wriless phone, palm, pilots… và các thiết bị khác.
- Xử lý phía trình chủ (server side processing): ASP.NET thay đổi trang web như một
đối tượng trên server. Nghĩa là trang web sẽ được bao gồm nhiều phương thức,
thuộc tính, đối tượng và biến cố, thông qua việc sử dụng thuộc tính: “runat=server”.
II. CƠ BẢN VỀ ASP.NET
1. Quy trình biên dịch Code .NET
Một ứng dụng ASP để có thể thực thi cần trải qua 2 giai đoạn biên dịch:
Giai đoạn đầu: Các ngôn ngữ .NET (Csharp, VB.NET…) sẽ được MSIL
(Microsoft Intermediate Language) biên dịch thành mã IL. Với mỗi loại ngôn ngữ
ngữ khác nhau sẽ có công cụ biên dịch tương ứng, tất cả đều được đưa về 1 loại mã
là IL.
Giai đoạn hai: Mã IL được biên dịch thành mã máy để thực thi. Mã máy (Native
Machine Code) là loại mã duy nhất máy tính có thể trực tiếp hiểu được.
Ứng dụng ASP.Net nói riêng và ứng dụng .NET nói chung sau khi biên dịch đều
có thể chạy trên mọi máy tính có cài đặt .NET Framework. (Tương tự máy ảo trong
Java – JVM) Để triển khai ứng dụng ASP.NET chúng ta chỉ cần sao chép các tập tin
vào thư mục ảo trên máy chủ (server) và máy chỉ chỉ cần có .NET Framework. Việc
cấu hình dễ dàng đơn giản không phụ thuộc vào IIS (Internet Information Services).
<form method=”get” action =”gioithieu.aspx”>
<input type=”text” name=”tacgia” value=”Tran Van A”>
<input type=”submit” name=”submit” value=”Nhan vao day de sang trang
gioi thieu”>
</form>
Request.Form
Cho phép server lấy về các giá trị được gửi từ người dùng qua form (method
POST).
Chẳng hạn file form.aspx:
<form method=”POST” action =”xulyform.aspx”>
<input type=”text” name=”User”>
<input type=”submit” name=”submit” value=”Nhan vao day de sang trang
gioi thieu”>
</form>
File xulyform.aspx làm nhiệm vụ xử lý thông tin từ Form này sẽ dùng câu lệnh
request.form để nhận lại thông tin người dùng đã gõ vào:
x=Request.form(“User”)
response.write “Tên người dùng là: “+ x.tostring();
Response
Đối tượng Response dùng để gửi các đáp ứng của server cho client.
Chúng ta thường dùng một số lệnh Response sau:
Response.Write
Đưa thông tin ra màn hình trang web
Ví dụ để đưa câu chào Hello ra màn hình ta dùng lệnh sau:
response.write (“Hello”);
Hiển thị thời gian trên server ra màn hình:
response.write( now);
hoặc <%=now%>
now là hàm lấy ngày giờ hệ thống trên server
Response.Redirect
(refresh) lại thông tin của trang trong một thời gian nhất định. Khi một session hết
thời gian hiệu lực nó sẽ được xem như hết hạn sử dụng ,tất cả các biến lưu trong
session và bản thân session sẽ bị hủy bỏ. Có thể kiểm tra và tăng giảm thời gian
Timeout của Session tính bằng giây như sau:
<%
Session.Timeout = 500
%>
- Trang ASP gọi đến phương thức Abandon của Session .
<%
Session.Abandon
%>
Việc khởi tạo và kết thúc 1 biến session có thể viết trong các hàm sự kiện
Session_OnStart và Session_OnEnd được định nghĩa trong file global.asa
Đối tượng Application
Application đại diện cho toàn bộ ứng dụng, bao gồm tất cả các trang web
trong website. Để lưu trữ những thông tin có tác dụng trong toàn ứng dụng, tức là
có giá trị trong tất cả các trang asp.net và tất cả các phiên, người ta dùng đối tượng
Application
Điểm khác của biến application so với biến session là session chỉ có tác dụng
đối với mỗi phiên, còn biến application có tác dụng với mọi phiên.
Ví dụ, để đếm xem có bao nhiêu người truy cập vào website, chúng ta có thể dùng
một biến Application. Mỗi khi một người dùng mới truy cập vào website ta tăng
biến này lên 1 đơn vị để chỉ rằng đã có thêm 1 người truy cập.
<% application(“x”)=application(“x”)+1 %>
Trang home.aspx muốn hiển thị số người truy cập chỉ cần in giá trị của biến này
response.write( “Số người đã truy cập vào website là:”+ application(“x”));
Với 2 phiên khác nhau thì giá trị application(“x”) là như nhau. Thật vậy , A
và B khi truy cập vào trang home.aspx đều thấy: “Số người đã truy cập vào website
là 3″ (trong trường hợp application(“x”) =3)
Việc khởi tạo và kết thúc 1 biến application có thể viết trong các hàm sự kiện
‘………
Application(“x”)=Application(“x”)+1
End sub
Sub Session_OnEnd
‘…………
End Sub
</script>
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ WEBSITE BÁN HÀNG
I. MÔ TẢ HỆ THỐNG:
1. Mục đích đặt ra khi xây dựng hệ thống website
Xây dựng hệ thống bán hàng trên mạng với mục đích là giới thiệu các sản
phẩm nội thất của công ty đến với khách hàng. Khách hàng có thể xem, tìm kiếm
các thông tin về những mặt hàng nội thất một cách trực quan và có thể đặt mua trực
tiếp trên mạng mà không cần phải tốn thời gian, công sức đến cửa hàng. Thật đơn
giản khi chỉ cần vài thao tác click chuột là có thể lựa chọn cho mình một bộ sản
phẩm phù hợp mà tiết kiệm được thời gian và công sức. Các mặt hàng của công ty
đã được phân loại theo chuẩn phân loại giúp khách hàng có thể tìm kiếm một cách
tiện lợi.
Ngoài ra chúng tôi còn tư vấn miễn phí online, hay tại nhà để giúp quý khách
lựa chọn được các sản phẩm tốt nhất, đẹp nhất, phù hợp nhất
2. Đặc tả yêu cầu của hệ thống:
Truy cập vào website khách hàng có thể tìm hiểu được thông tin về công ty,
chức năng các bộ phận, các sản phẩm và dịch vụ công ty cung cấp. Các tin tức mới
nhất về công ty.
Tra cứu tất cả các thông tin về sản phẩm các dịch vụ mà công ty cung cấp (lắp đặt
đến nơi yêu cầu,tư vấn trực tiếp cho khách hàng … ). Khách hàng có thể đặt mua
các sản phẩm của công ty nếu cảm thấy vừa lòng. Trong quá trình làm việc khách
hàng có thể gửi các yêu cầu, ý kiến phản hồi, đại diện của công ty sẽ trả lời trực tiếp
thông qua nhiều hình thức để làm vừa lòng khách hàng. Do vậy yêu cầu của website
đặt ra yêu cầu:
tồn kho , bảo quản kho, có thống kê thường xuyên trong từng ngày và báo cáo cho
phòng quản lý biết tình trạng hàng trong kho như thế nào. Căn cứ vào lượng hàng
tồn kho và nhu cầu từ bộ phận bán hàng để lập phiếu dự trù mua hàng và tiến hành
mua hàng. Bộ phận quản lý kho phải chịu trách nhiệm sự an toàn của hàng hoá cả
về số lượng ,chủng loại. Việc nhập xuất hàng theo quy tắc hàng nhập trước thì xuất
trước(hàng cùng chủng loại).
- Bộ phận thứ ba: Bộ phận tài chính.
Bộ phận này có nhiệm vụ quản lý về tài chính, nhận tiền trả của khách hàng
mua hàng và nhận tiền trả của khách hàng mua theo đơn đặt hàng thanh toán bằng
hoá đơn ,trả tiền cho nhà cung cấp khi mua hàng hoá .Làm thống kê về tình hình tài
chính của cửa hàng , doanh thu ,lãi ,các khoản chi,….
-Bộ phận quản trị hệ thống: Quản trị thông tin trên website, cập nhật
thông tin thay đổi, tiếp nhận đơn đặt hàng.
- Bộ phận điều hành.
Bộ phận này điều hành chung, xét duyệt các dự trù những thứ cần mua, kiểm
tra chứng từ mua bán, xuất nhập hàng thường xuyên. Từ đó đưa ra sự trù cho Bộ
phận kho
5. Quy trình quản lý và quy tắc quản lý:
Qui trình quản lý:
Khi khách hàng tìm kiếm và có nhu cầu mua hàng trên mạng, họ sẽ vào hệ thống
website xem các thông tin như là sản phẩm, tin tức, các chương trình khuyến mãi
Sau khi tìm hiểu thông tin về các sản phẩm và có quyết định mua một hay nhiều
mặt hàng nào đó thì khách hàng tiến hành đặt hàng trên website Khi tiến hành giao
dịch mua hàng khách hàng sẽ thực hiện các bước sau:
- Truy cập vào mục sản phẩm bạn cần.
- Cho sản phẩm vào giỏ hàng.
- Vào giỏ hàng để điều chỉnh số lượng của các mục hàng đã chọn.
- Gửi yêu cầu đặt hàng.
- Ghi thông tin khách hàng đăng kí mua hàng( họ tên, số điện thoại , địa chỉ ,
email…)
Hóa đơn nhập hàng:
PHIẾU NHẬP KHO
Số hóa đơn…………………….
Mã nhà cung cấp : …………………………………………
Địa chỉ : ………………………………………….
Mã Số Kho Nhập : ………………………………………….
Lý do nhập : ………………………………………….
STT
Mã số
Tên hàng
ĐVT
Hóa đơn xuất hàng:
PHIẾU XUẤT KHO
Số hóa đơn…………………….
Tên khách hàng : ……………………Mã số :……………………
Địa chỉ : ………………………Điện thoại :…………………
STT
Mã Số xuất
Tên Hàng
ĐVT
Phiếu bảo hành:
PHIẾUBẢO HÀNH
Số …………………….
Tên khách hàng: …………………………………………
Điện thoại : …………………………………………
Địa chỉ :………………………………………….
Ngày mua hàng :………………………………………….
Địa chỉ bảo hành :………………………………………
STT
Tên hàng
- Các chức năng của khách hàng(người truy cập) khi truy cập Website
Khách hàng có quyền xem thông tin về các sản phẩm mình quan tâm, các
thông tin về công ty, sau khi tìm lựa chọn được sản phẩm phù hợp, khách hàng có
thể đặt mua sản phẩm mình đã chọn. Khách hàng phải điền đầy đủ các thông tin cá
nhân của khách hàng vào một Form có sẵn rồi gửi thông tin đó tới công ty. Tất cả
yêu cầu về đặt mua của khách hàng sẽ được công ty trả lời và tiến hành việc bán
hàng. Nếu có gì không vừa lòng khách hàng có thể gửi góp ý về công ty.
- Đối với người quản trị hệ thống
Người quản trị có tất cả các quyền thay đổi hệ thống và cập nhật hệ thống.
Người quản trị có thể: Cập nhật dữ liệu,quản lý nội dung, tài nguyên web như: tin
tức, giới thiệu công ty, quản trị các sản phẩm, cập nhật các thông tin giá cả cung
như các dịch vụ hậu mãi…Ngoài ra người quản trị còn tiếp nhận tất cả khiếu nại,
góp ý từ phía khách hàng. Theo dõi báo cáo, thống kê, tình hình hoạt động, tốc độ
bán hàng để từ đó đưa ra các chiến lược kinh doanh cho phù hợp.
Sơ đồ luồng dữ liêuk(DFD):
- Các bước xây dựng
Xây dựng DFD mức 0 xác định giới hạn của hệ thống. DFD mức 0 có 1 chức năng
duy nhất biểu thị toàn bộ hệ thống đang nghiên cứu là “Quản lý bán hàng”. Hệ
thống có 2 tác nhân ngoài có thực hiện trao đổi thông tin với hệ thống là “Khách
hàng” và “Nhà cung cấp”. Khách hàng chuyển cho hệ thống thông tin về yêu cầu
của mình, cùng các thông tin giao dịch. Hệ thống trả lại cho khách đơn hàng, hàng,
các phiếu nhập/xuất cùng thẻ khách hàng cho khách hàng.
Xây dựng DFD mức 1 với các tác nhân ngoài của hệ thống ở mức 0 được giữ
nguyên với các luồng thông tin vào và ra. Hệ thống được phân rã thành các tiến
trình mức 1 là 4 chức năng chính bên trong hệ thống theo biểu đồ phân cấp chức
năng mức 1. Xuất hiện thêm các kho dữ liệu và luồng thông tin trao đổi giữa các
chức năng.
Xây dựng DFD mức 2 và dưới mức 2 thực hiện phân rã đối với 4 tiến trình của
mức 1. Khi thực hiện phân rã ở mức này vẫn phải căn cứ vào biểu đồ phân cấp
chức năng để xác định các tiến trình con sẽ xuất hiện trong sơ đồ luồng dữ liệu.