PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ - Pdf 21


Barry Field & Nancy Olewiler
234
CHƯƠNG 7
PHÂN TÍCH LỢI ÍCH – CHI PHÍ: LỢI ÍCH Lợi ích của một vật nào đó bằng đúng với những gì mà người ta sẵn lòng trả để có nó, với
những giả định cho trước về phân phối thu nhập và thông tin sẵn có. Đường thiệt hại biên
(MD) trong mô hình MAC-MD thể hiện giá sẵn lòng trả của xã hội để giảm lượng phát
thải từ một chất ô nhiễm và do đó cải thiện chất lượng môi trường
1
. Đường MD lúc này
tương tự như đường cầu cho hàng hóa thông thường, nhưng dĩ nhiên sẽ dốc đứng bởi vì
hàng hóa được đo lường là hàng hóa không mong muốn và phúc lợi của chúng ta tăng khi
sử dụng ít hàng hóa này. Tổng lợi ích được đo lường bằng diện tích nằm dưới đường MD,
giới hạn bởi điểm thiệt hại biên bằng 0 và mức ô nhiễm mục tiêu như đã trình bày ở
chương 5. Đây là phần thiệt hại giảm được do giảm ô nhiễm/cải thiện chất lượng môi
trường (EQ). Chương này khảo sát các kỹ thuật nhằm đánh giá giá sẵn lòng trả (WTP) để
giảm ô nhiễm. Một thách thức mà chúng ta phải đối đầu là không có thị trường cho người
mua và bán chất lượng môi trường, do đó chúng ta không thể sử dụng những kỹ thuật trực
tiếp dùng thị trường để đánh giá lợi ích. Chúng ta phải sử dụng những kỹ thuật gián tiếp.
Một nhà kinh tế học môi trường từng nói: “Công việc ước lượng lợi ích thường gồm việc
thăm dò nhằm lắp ráp các giá trị mà cá nhân gán cho dịch vụ môi trường khi họ phản ứng
với các tín hiệu kinh tế khác”
2
.

Có nhiều mức độ trong việc đánh giá giá trị lợi ích. Đối với một nhà phân tích làm việc
cho một văn phòng môi trường thì đánh giá giá trị lợi ích là công việc thế số vào các công
thức. Diện tích đất ngập mặn nuôi nghêu bị giảm (do các nhà sinh học cung cấp) nhân với

235
Đánh giá thiệt hại của một loại hàng hóa phi thị trường do ô nhiễm cần phải có
phương pháp tính toán giá sẵn lòng trả biên cho việc giảm ô nhiễm/cải thiện
chất lượng môi trường bởi vì giá thị trường của hàng hóa này không hiện hữu.

Chương này cung cấp danh sách các kỹ thuật khác nhau để đánh giá WTP cho việc giảm ô
nhiễm/cải thiện chất lượng môi trường. Không có phương pháp nào áp dụng được cho mọi
trường hợp.

Có thể phân các kỹ thuật này thành 2 cách tiếp cận:

- Cách tiếp cận dùng giá thị trường để phản ánh WTP. Cách này đo lường thiệt hại
dưới dạng mất mát thu nhập hoặc sản lượng, năng suất bị giảm, và chi tiêu cần thiết
để bù đắp thiệt hại môi trường. Thuật ngữ thường được dùng là phương pháp đo
lường WTP trực tiếp.

- Cách tiếp cận tính WTP của cá nhân thông qua hành vi tiêu dùng của họ hoặc hỏi
trực tiếp. Cách này được sử dụng khi không có thị trường thực hoặc giá thị trường
phần nào phản ánh được giá trị môi trường. Thuật ngữ thường được dùng là
phương pháp đo lường WTP gián tiếp.

Bảng 7.1 liệt kê danh sách các kỹ thuật đánh giá cho các vấn đề môi trường tương ứng.
Chúng ta bắt đầu bằng việc trình bày các phương pháp thiệt hại kinh tế (economic damage
approaches), tập trung vào lĩnh vực giá trị sức khỏe.

ƯỚC LƯỢNG THIỆT HẠI KINH TẾ

Suy thoái môi trường gây ra thiệt hại; mô hình kiểm soát phát thải trong chương 5 dựa một
phần trên mối quan hệ giữa phát thải và thiệt hại biên – hàm số MD. Do đó ta có thể thấy
một cách trực tiếp là lợi ích của việc cải thiện chất lượng môi trường đến từ việc giảm thiệt

1. Chi tiêu bảo vệ/giảm thiệt hại Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí, nước,
tiếng ồn, tầm nhìn đến người tiêu dùng, các
ngành công nghiệp, hệ sinh thái
2. Đánh giá hưởng thụ
Giá trị tài sản Ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, bãi
chứa chất thải độc hại
Sự chênh lệch lương Ảnh hưởng ô nhiễm đến sức khỏe
3. Thị trường đại diện
Chi phí du hành Lợi ích giải trí từ việc nâng cao chất lượng
môi trường
“Hàng hóa xanh” Hàng hóa thân thiên môi trường thay thế
cho hàng hóa có hàm lượng ô nhiễm cao
(chẳng hạn giấy có thể tái chế)
4. Đánh giá ngẫu nhiên Chất lượng môi trường hiện tại và tương lai
Tất cả các loại ô nhiễm

Ba bước đầu tiên của quy trình là phần công việc của các nhà kỹ thuật. Mô hình trình bày
mối quan hệ giữa mức phát thải và chất lượng môi trường xung quanh thường được gọi là
mô hình khuếch tán (diffusion models). Nhà kinh tế học có thể tham gia vô bước thứ tư,
nhưng vẫn cần phối hợp với các nhà sinh vật học và các nhà dịch tễ học. Liên kết giữa
bước 3 và 4 thường được gọi là hàm số liều lượng - đáp ứng (dose – response function)
Nghĩa là hàm này ước lượng phản ứng dưới dạng tử vong hoặc bệnh tật của con người với
các mức phơi nhiễm khác nhau của chất gây ô nhiễm môi trường. Bước 5 là nơi nhà kinh
tế học thể hiện mạnh mẽ vai trò của mình bằng việc đánh giá giá trị của các mức ảnh
hưởng khác nhau được xác định từ các bước trước. Nói chung đây là bước có nhiều thách
thức như chúng ta sẽ thấy ở các phần tiếp theo.

Ước lượng trực tiếp thiệt hại kinh tế

Thiệt hại sức khỏe

nay càng khó để có số liệu chính xác về lượng tiếp xúc ô nhiễm của con người, bởi vì họ
có thể sống ở nhiều nơi trong suốt cuộc đời. Các nhà dịch tễ học đã có rất nhiều kinh
nghiệm với các loại dữ liệu chéo, thông tin từ các cuộc phỏng vấn kỹ lưỡng về cách sống,
thói quen tiêu dùng, các nơi đã sống v.v. Một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm ước
lượng tình trạng tử vong hoặc bệnh t
ật giảm bao nhiêu khi giảm ô nhiễm. Đo lường bệnh
tật thường quan sát các chỉ số như số ngày nghỉ làm việc hoặc số ngày ảnh hưởng bởi sức
khỏe kém. Không có kết quả chung về ước lượng ảnh hưởng của ô nhiễm không khí hay ô
nhiễm nước. Một kết luận chung có thể thấy là kết quả thường phụ thuộc nhiều vào dữ liệu
sử dụng trong mô hình và cách thứ
c xử lý số liệu này, nghĩa là chúng ta vẫn thực sự không
chắc chắn về mối liên kết chính xác giữa ô nhiễm không khí và tỷ lệ tử vong và bệnh tật.

Sau khi nghiên cứu mô hình liều lượng - đáp ứng, công việc chính của nhà kinh tế học là
tính toán giá trị của các ảnh hưởng sức khỏe. Chúng ta làm thế nào để tính giá trị cho một
cuộc sống bị rút ngắn hay tình trạng suy nhược sức khỏe do phơi nhiễm các chất ô nhiễm
môi trường? Phản ứng đầu tiên thường là phương pháp này không chấp nhận đuợc về mặt
đạo đức khi cố gắng gáo giá trị tiền tệ cho sinh mạng con người. Cuộc sống con người có
giá không? Ở một khía cạnh nào đó, câu trả lời là có. Nếu bạn hỏi một người đi đường
cuộc sống của anh ta đáng giá bao nhiêu, bạn có thể sẽ không có câu trả lời bởi vì câu hỏi
dường như đã vi phạm những tiêu chuẩn đạo đức thông thường. Tuy nhiên, xã hội như là
một tổng thể, nghĩa là chúng ta hành động tập thể, không ứng xử như vậy. Thật sự thông
qua cách chúng ta ra quyết định và hành xử tập thể, chúng ta ngầm gán giá trị cho cuộc
sống con người. Rõ ràng nhất là xem cách kiểm soát giao thông. Mỗi năm, hàng ngàn
người bị chết trên đường quốc lộ. Nhưng chúng ta đâu thấy một lượng tiền lớn đổ ra để
thiết kế lại quốc lộ, làm chậm giao thông lại hoặc sản xuất xe cộ an toàn hơn. Đó là vì
chúng ta đã ngầm đánh đổi giữa số người chết do tai nạn giao thông và các tác động giao
thông khác, đặc biệt là lợi ích đi lại nhanh chóng thuận tiện. Tương tự chúng ta có thể kể
đến những công nghệ hoặc hoạt động rủi ro khác mà chúng ta thường thấy. Do đó, có lý
khi chúng ta nghiên cứu giá trị mà xã hội thực sự gán cho cuộc sống và sức khỏe con


Ô nhiễm không khí có thể làm giảm sản lượng nông sản thu hoạch ở những nơi bị tác
động; nó cũng có thể làm giảm tốc độc tăng trưởng của rừng trồng lấy gỗ. Ô nhiễm nước
có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng nước trong sản xuất cũng như sinh hoạt của công ty
hoặc người dân. Chất lượng nước giảm cũng ảnh hưở
ng xấu đến ngành công nghiệp đánh
bắt thủy sản. Ô nhiễm đất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Ô nhiễm
nơi làm việc có thể làm giảm hiệu suất làm việc của công nhân và làm máy móc nhà xưởng
xuống cấp nhanh hơn. Trong những trường hợp này ta có thể nhận biết ảnh hưởng của ô
nhiễm lên sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Sở dĩ có thiệt hại là vì ô nhiễm bằng nhiều cách
can thiệp vào quá trình sản xuất, làm cho sản phẩm làm ra tốn nhiều chi phí hơn. Cách
chúng ta ước lượng lợi ích sản xuất liên quan đến việc giảm ô nhiễm phụ thuộc vào từng
hoàn cảnh khác nhau.

Ví dụ: Tăng sản lượng nông nghiệp do giảm ô nhiễm

Một nhóm nhỏ nhà sản xuất nông nghiệp ở thung lũng B.C.’s Fraser bị ảnh hưởng bởi khói
thải từ một nhà máy trong khu vực. Chất ô nhiễm của nhà máy làm giảm sản lượng thu
hoạch, do đó giảm phát thải sẽ làm tăng sản lượng. Sản phẩm thu hoạch được bán ở thị
trường trong nước, và giá sẽ không bị ảnh hưởng bởi sản lượng thay đổi trong vùng. Hình
7.1 minh họa tình huống này. Trong đồ thị, S
1
(= MC
1
) là đường cung (chi phí biên) của
các nhà sản xuất nông nghiệp này trước khi cải thiện chất lượng không khí. S
2
(= MC
2
) là
Hình 7.1: Lợi ích giảm chi phí sản xuất

Sử dụng thu nhập ròng của nông dân (tổng giá trị sản lượng trừ tổng chi phí sản xuất), thay
đổi tổng thể này được tính như sau.

Tính thu nhập ròng:
Trước khi thay đổi:
Tổng giá trị sản lượng: a + b + c
Tổng chi phí: b + c
Thu nhập ròng: a

Sau khi thay đổi:

Tổng giá trị sản lượng: a + b + c + d + e
Tổng chi phí: c + e
Thu nhập ròng: a + b + d

Do đó thu nhập ròng tăng (a + b + d) – a, bằng diện tích (b + d) trong hình 7.1. Diện tích
trên đuờng cung và dưới đường giá, giới hạn bởi sản lượng (nghĩa là từ 0 đến q
1
hoặc q
2
)
được gọi là thặng dư sản xuất. Thặng dư sản xuất được hiểu là thu nhập ròng (lợi ích ròng)
của nhà sản xuất. Với giá thị trường cố định và chi phí biên tăng (đường cung dốc lên), nhà
sản xuất có thu nhập ròng lớn hơn 0 đối với tất cả các đơn vị sản lượng cho đến đơn vị sản
lượng cuối cùng (q
1

=MC
1

S
2
=MC
2

Sản lượng
Đường cung dịch chuyển từ S
1
tới S
2
diễn tả lợi ích từ giảm chi phí sản xuất do chất lượng
môi trường tốt hơn. Giá trị sản lượng tăng thêm từ q
1
tới q
2
là diện tích d cộng e. Nếu
nông dân cũng tăng nhập lượng, tổng lợi ích sẽ là sự gia tăng thu nhập ròng do cải thiện
chất lượng môi trường. Đó là diện tích (a+b+d) trừ diện tích a, còn lại (b+d), gọi là thay
đổi thặng dư sản xuất.

Barry Field & Nancy Olewiler
240
lường thay đổi sản lượng chứ ít khi là thay đổi thặng dư sản xuất (thu nhập ròng của nhà
sản xuất). Có một số nghiên cứu làm theo cách này.
4
Moskowitz và cộng sự
5


Trong trường hợp này mối quan hệ liều lượng - đáp ứng cho thấy sự xuống cấp liên quan
đến việc phơi nhiễm thay đổi theo lượng chất ô nhiễm không khí. Có thể nghiên cứu mối
quan hệ vật lý căn bản trong phòng thí nghiệm, nhưng khi áp dụng cho một khu vực cụ thể
cần phải có dữ liệu số lượng vật liệu phơi nhiễm trong khu vực đó thay đổi như thế nào. Từ
đó có thể ước lượng tổng lượng vật liệu bị xuống cấp trung bình trong một năm phơi
nhiễm không khí trong khu vực, với lượng tiếp xúc “bình thường” các loại chất gây ô
nhiễm khác nhau. Sau đó ta có thể gán giá trị cho sự xuống cấp. Sử dụng chặt chẽ phương
pháp hàm thiệt hại, chúng ta có thể có thể ước lượng chi phí bảo dưỡng tăng (lao động,
sơn) cần thiết để ngăn chặn sự xuống cấp
8
. 4
Các nghiên cứu này được tóm lược trong cuốn Gardner M. Brown Jr. và Mark L. Plummer, “Market
Measures of User Benefits”, trong Acid Deposition: State of Science and Technology, Report 27, Methods for
Valuing Acidic Deposition and Air Pollution Effects (Washington, D.C., U.S. Superintendent of Document:
National Acid Precipitation Assessment Program, 1990) 27-35 to 27-73.
5
Paul D. Moskowitz et al., “Oxidant Air Pollution: A Model for Estimating Effects on U.S. Vegetation”,
Journal of Air Pollution Control Association 32(2)(February 1982): 155-160.
6
Walter P. Page et al., “Estimation fo Economic Losses to the Agricultural Sector from Airbone Residuals in
the Ohio River Basin”, Journal of Air Pollution Control Association, 32(2) (February 1982): 151-154.
7
Những nghiên cứu này được trích trong cuốn Environment Canada, Ground-Level Ozone in Canada, A
State of Environment Fact Sheet, No. 92-1, Catalogue No. EN1-12/92-1E (Ottawa: Ministry of Supply and
Services, 1992), 4.
8

chất không tính đến mất mát vẻ đẹp mỹ quan; giảm sản lượng nông nghiệp không đo lường
thiệt hại cho đa dạng sinh học hoặc cho cả hệ sinh thái. Điểm chính yếu là

Đo lường trực tiếp không hoàn toàn phản ánh giá sẵn lòng trả của con người
WTP cho việc cải thiện chất lượng môi trường.

GIÁ SẴN LÒNG TRẢ

Như đã đề cập ở trên, hàm thiệt hại biên chỉ ra thiệt hại cho con người hoặc các yếu tố
khác của hệ sinh thái thay đổi như thế nào khi tiếp xúc với ô nhiễm hoặc thay đổi môi
trường. Thiệt hại có thể xảy ra dưới nhiều hình thức, từ thiệt hại vật chất trực tiếp, chẳng
hạn thiệt hại sức khỏe, đến ảnh hưởng m
ỹ quan môi trường (ví dụ cản trở tầm nhìn, thiệt
hại tinh thần). Nói cách khác, thuật ngữ “thiệt hại” bao gồm tất cả các tác động bất lợi của
chất thải. Từ một quan điểm khác, hàm thiệt hại biên cho chật ô nhiễm tăng thêm tương tực
với hàm cầu/giá sẵn lòng trả cho việc giảm phát thải. Nếu chất thải tăng lên một lượng nhỏ
tạo ra thiệt hại có giá $10 cho một người, giá sẵng lòng trả của anh ta để giảm lượng phát
thải đó sẽ khoảng $10. Do đó chúng ta sẽ tập trung thảo luận giá sẵn lòng trả cho cải thiện
chất lượng môi trường
9
. 9
C hai cách để đo lường giá trị thiệt hại của môi trường đối với con người: giá sẵn lòng trả của họ để tránh
thiệt hại hoặc giá sẵn lòng chấp nhận (WTA) đề bù thiệt hại. Trên lý thuyết, cả 2 cách này đều cho kết quả
gần nhau, nhưng khác nhau bởi tác động của thu nhập. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực tế cho thấy kết quả
WTP và WTA rất khác nhau, trong đó WTA luông lớn hơn WTP. Xem Knetsch (1994) về vấn đề
này. Chúng
ta sẽ trở lại vấn đề này ở phần cuối chương này.

thứ 2 sẽ có lợi ích ròng là $1 và thứ 3 là $0.5 và thứ 4 bằng 0 do lợi ích ròng lúc này bằng
với giá. Do đó thặng dư tiêu dùng được tính là tổng cộng tất cả lợi ích ròng từ 0 cho tới
lượng táo tiêu thụ. Đó chính là diện tích nằm dưới đường cầu, trên đường giá, giới hạn bởi
lượng táo tiêu thụ từ 0 đến 4kg (diện tích a). Chúng ta có thể dễ dàng tính diện tích này, đó
là tam giác có đáy bằng 4 và đường cao bằng $2, kết quả là $4. Kết quả này là lợi ích ròng
của người tiêu dùng khi mua 4kg táo với giá là $3/kg. Nguyên tắc này luông đúng khi
chúng ta sử dụng được cầu cá nhân hay đường cầu thị trường. Tóm lại,

Thặng dư tiêu dùng từ tiêu thụ một hàng hóa tư nhân được đo bằng diện tích
nằm dưới đường cầu, trên đường giá, giới hạn bởi lượng hàng hóa từ 0 đơn vị
đến đơn vị được tiêu thụ.

Ví dụ sau đây sẹ minh họa thặng dư tiêu dùng được sử dụng như thế nào để đo lường
WTP.

Ví dụ: Sử dụng thặng dư tiêu dùng trong phân tích lợi ích chi phí

Phân tích lợi ích chi phí một chính sách hay dự án công sẽ đánh giá sự thay đổi. Người tiêu
dùng có thể ở trạng thái cân bằng ban đầu, sau đó di chuyển đến trạng thái cân bằng mới là
kết quả của chính sách hay dự án. Lợi ích ròng của họ do đó được tính bằng thay đổi thặng
dư tiêu dùng của có và không có dự án. Chẳng hạn có một chính sách trợ giá cho người
trồng táo, là một phần trong chương trình nông nghiệp bền vững. Trợ giá sẽ làm giá táo
giảm từ $3 xuống $2/kg. Hãy nhìn lại hình 7-2. Tại mức giá $2/kg, người tiêu dùng sẽ mua
6kg. Họ cũng có lợi ích ròng cao hơn từ mỗi kilogram táo mua được, bởi vì giá táo đã rẻ

10
Thặng dư tiêu dùng do đó tương đương với thặng dư sản xuất, là lợi ích ròng của tiêu thụ hoặc sản xuất do
đó tối đa hóa WTP cho giảm ô nhiễm hoặc cải thiện chất lượng môi trường.

Barry Field & Nancy Olewiler

đổi thặng dư tiêu dùng đo lường cho thị trường tư nhân (sử dụng cùng đường cầu và là
diện tích tô đậm trong hình 7-2).
Giá $
Kilo
g
ram táo1 2 3 4 5 6 10
1
2
3
5
4 a
0
Cầu
Thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa WTP của người tiêu dùng cho một hàng hóa, đại diện
bởi đường cầu, với giá thị trường của lượng hàng hóa được tiêu thụ. Nếu giá thị trường của táo là
$3/kg, người tịêu dùng mua 4kg và thặng dư tiêu dùng là diện tích a, bằng $4. Nếu giá thị trường
giảm xuống $2/kg, diện tích được tô đậm là thay đổi trong thặng dư tiêu dùng, bằng với chênh
lệch thặng dư tiêu dùng của đi
ểm cân bằng ban đầu giá $3/kg và lượng tiêu thụ 4kg với điểm cân
bằng sau có giá $2/kg và 6kg. Thặng dư tiêu dùng thay đổi $5.
Hình 7-2: Xác định thặng dư tiêu dùng cho hàng hóa tư nhân

Barry Field & Nancy Olewiler
244

Thay đổi thặng dư tiêu dùng do thay đổi chất lượng môi trường, một hàng hóa
công, có thể được đo lường giống như cách đo lường thay đổi thặng dư tiêu dùng
cho hàng hóa tư nhân.

CÁC PHƯƠNG PHÁP SUY RA GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CHO NHỮNG


11
Sẽ khó trình bày làm cách nào sử dụng phương pháp thị trường đại diện trong ví dụ này. Cuối chương sẽ
có phần minh họa phương pháp này.
Hình 7-3: Xác định thặng dư tiều dùng cho hàng hóa công

Chỉ số chất lư

n
g
môi t
r
ườn
g

$
1 2 3 4 5 6 10
1
2
3
5
4
a
0
Thay đổi thặng dư tiêu dùng do cải thiện chất lượng môi trường từ 4 đến 6 đơn
vị là diện tích dưới đường cầu, giới hạn bởi hai mức chất lượng môi trường, là (a
+ b) bằng $5.
b
sử dụng các phương pháp này để ước lượng lợi ích cải thiện chất lượng môi trường, cũng
như nêu ra các vấn đề, khó khăn mà phân tích lợi ích chi phí gặp phải.

Chi tiêu ngăn ngừa

Ô nhiễm nước và không khí có thể tác động nhiều đến sức khỏe, từ tức ngực nhẹ, đau đầu
đến những bệnh cấp tính cần chăm sóc tại bện viện. Con người thường chi tiêu để tránh,
ngăn ngừa các tác động này. Chi tiêu loại này là một cách thể hiện giá sẵn lòng trả của họ
để tránh các tác động. Xem xét ví dụ sau đây.

Ví dụ: Mua máy lọc không khí để giảm tác động của sương mù gây bện hen suyễn

Sương mù ở đô thị hình thành từ các chất ô nhiễm không khí (sulphur đioxyt, bụi, oxit
nitơ) vào ban ngày khi nhiệt độ cao và bị gió phân tán hoặc khi không khí lạnh bị dồn nén
trong một vùng có không khí nóng ở trên. Một số thành phố ở Canada (chẳng hạn Toronto,
Vancouver, Montreal) bị nhiễm loại sương mù này vì ở đây có lượng khói thải cao và điều
kiện thuận lợi để tạo sương mù. Các chất tạo nên sương (cùng với khí ozon ở tầng thấp tạo
ra bởi tương tác giữa các chất ô nhiễm và ánh sáng) đã gây ra bệnh suyễn và các vấn đề hô
hấp khác.

Giả sử bạn bị bệnh suyễn và muốn giảm tiếp xúc với sương mù. Khoản chi tiêu ngăn ngừa
của bạn sẽ là tiền mua thiết bị lọc không khí. Chi phí này bao gồm tiền mua lọc nước ban
đầu (chi phí đầu tư) và chi phí vận hành máy lọc vào những ngày có nhiều sương (điện, bộ
lọc không khí). Chúng ta giả sử bạn sẽ không mua thiết bị lọc không khí nếu sương mù
không phải là vấn đề lớn trong thành phố. Tuy nhiên, cũng có một số người (ví dụ người
hút thuốc) mua máy lọc không khí không phải để lọc sương mù.

Barry Field & Nancy Olewiler
246
Phân tích kinh tế có thể tính chi phí ngăn ngừa dựa trên dữ liệu thị trường máy lọc không

cả hai thành phố là $75. WTP phải được đo bằng sự thay đổi thặng dư tiêu dùng từ các
mức chất lượng không khí khác nhau. Đó chính là sự chênh lệch giữa diện tích trên mức
giá thị trường giữa 2 đường cầu, là diện tích phần tô đậm trong hình 7-4, bằng
$55,468.75.
13
Nhớ rằng chúng ta sử dụng thay đổi thăng dư tiêu dùng vì chúng ta muốn
loại bỏ chi tiêu. Nếu mọi người không chi tiêu cho hàng hóa chúng ta đang xét, họ sẽ chi
tiêu cho hàng hóa khá, do đó chúng ta chỉ đo lường WTP là nhưng khoản thặng dư. 12
Cuốn sách này không trình bày cách xây dựng đường cầu này. Muốn xây dựng đường cầu, cần các kỹ thuật
kinh tế lượng để hối quy.
13
Cách đơn giản nhất để tính thay đổi thặng dư tiêu dùng là tính thặng dư tiêu dùng trên đường giá $75 cho
mỗi thành phố. Đối với thành phố Hamilton, thặng dư tiêu dùng là fi($125 x 937.5) = $58.593,75. Đối với
Winnipeg, thặng dư tiêu dùng là ½($25 x 250) = $3.125. Chênh lệch $55.468,75.

Barry Field & Nancy Olewiler
247
Hình 7-4: Sử dụng Chi tiêu ngăn ngừa để tính WTP cho giảm sương mù Trong phân tích lợi ích chi phí, để sử dụng thay đổi thặng dư tiêu dùng tính WTP cho việc
cải thiện chất lượng không khí, cần phải chuyển thành giá trị từng năm. Đó là vì máy lọc
không khí là tài sản vốn được dùng trong thời gian dài có khấu hao. Giả sử máy được sử
dụng trong 10 năm và khấu hao đều hàng năm. Do đó giá trị/khấu hao của máy là 1/10 giá
trị ban đầu, bằng $5.547.
14
Giá trị này là lợi ích hàng năm do giảm sương mù của cư dân

g

y
l

c khôn
g
khí
$
Giá
250 1
,
000 1
,
500
75
100
200
0
Cầu ở Winni
p
e
g
Cầu ở Hamilton
Hình trên biểu diễn 2 đường cầu máy lọc nước đã được ước lượng sẵn. Hamilton là thành phố có nhiều
ngày có sương mù; Winnipeg là thành phố ít ngày có sương. Đường cầu của Hamilton nằm trên đường
cầu của Winnipeg vì cư dân ở đây phải chi tiêu ngăn ngừa để giảm thiệt hại từ sương mù. Sự chênh lệch
giữa 2 đường cầu cho thấy giá sẵn lòng trả của cư dân Hamilton để ngăn chặn sươ
ng mù. Giá sẵn lòng
trả để ngăn chặn sương mù là diện tích được tô đậm. Nếu sương mù ở Hamilton giảm tới mức của

chợ). Nhưng giả sử một nhà nằm trong khu vực bị ô nhiễm không khí nặng, còn nhà kia
nằm trong khu vực không khí khá trong lành. Chúng ta có thể dự đoán giá thị trường của 2
nhà này khác nhau do khác nhau về độ ô nhiễm không khí. Cũng có thể tổng quát hóa kết
luận này cho thị trường bất động sản vốn có rất nhiều đặc tính khác nhau. Chất lượng
không khí xung quanh là một đặc tính rất quan trọng của ngôi nhà, do đó vì nhà được mua
và bán trên thị trường, chất lượng không khí khác nhau sẽ được tiền tệ hóa vào trong giá
nhà.
16
Dĩ nhiên nhà khác nhau rất nhiều chứ không riêng gì đặc tính chất lượng không khí.
Do đó chúng ta phải thu thập rất nhiều dữ liệu về thị trường nhà để dùng cho phương pháp
ước lượng hưởng thụ.

Các nhà nghiên cứu dùng phương pháp thống kê để xây dựng các hàm số giá hưởng thụ.
Căn bản, các nhà nghiên cứu sẽ thu thập số liệu mẫu của các căn nhà được bán ra trên thị
trường trong một khoảng thời gian nhất định. Mối quan hệ giữa giá nhà và các đặc tính có
thể ảnh hưởng đến giá sẵn lòng trả của người mua nhà được ước lượng dùng các kỹ thuật
kinh tế lượng. Các đặc tính này có thể bao gồm diện tích nhà, số phòng ngủ, số phòng vệ
sinh, năm xây dựng, vị trí, đặc điểm khu vực xung quanh như có gần trường học, công
viên, và một biến số môi trường đo được, chẳng hạn chất lượng không khí. Nhà nghiên cứu
sẽ vẽ đồ thị hàm số giá hưởng thụ theo biến số chất lượng môi trường (đo bởi chỉ số chất
lượng không khí – AQI), giữ các biến số khác không đổi. Hình (a) trong hình 7-5 minh họa

15
Có thể dùng phương pháp ước lượng hưởng thụ cho các nghiên cứu về lương trong các ngành công nghiệp.
Công nhân có thể tiếp xúc với lượng ô nhiễm tích tụ cao. Rủi ro rất cao ở những ngành công nghiệp mà công
nhân phải làm việc hoặc tiếp xúc với các chất có nguy cơ gây hại cao, có thể qua công việc hàng ngày hoặc
tai nạn. Ví dụ có thể kể ra bao gồm bệnh phổi do làm việc trong các hầm mỏ và các nhà máy giấy, bệnh trong
nông nghiệp do tiếp xúc với thuốc tr
ừ sâu và thuốc diệt cả. Trong thị truờng hoàn hảo, lương sẽ phản ánh
mức độ tiếp xúc của công nhân với chất ô nhiễm. Lương sẽ cao hơn ở những ngành công nghiệp có rủi ro

việc cải thiện chất lượng không khí, tính được từ kỹ thuật đánh giá thay đổi thặng dư tiêu
dùng cho hành hóa công ở trên.

Sự thay đổi trong thặng dư tiêu dùng được diễn tả trong giá nhà. Người mua nhà mua một
tài sản tạo ra lợi ích trong một khoảng thời gian nào đó, như trường hợp máy lọc không
khí. Nhà nghiên cứu phải chuyển đổi giá nhà thành giá trị hàng năm để có thể tính lợi ích
hàng năm do tăng chất lượng môi trường. Một cách tính đơn giản là giả sử ngôi nhà sẽ
được dùng mãi mãi (nghĩa là không tính đến khấu hao và chi phí bảo dưỡng). Ví dụ, ngôi
nhà bán giá $200.000. Nghiên cứu hưởng thụ tìm ra rằng cứ 1 phần trăm ô nhiễm không
khí giảm thì có 2.5 phần trăm giá nhà tăng. Do đó một căn nhà trong khu vực giảm được 1
phần trăm ô nhiễm so với khu vực khác sẽ bán được cao giá hơn $5.000. Đây là cách tính
WTP. Giá trị $5.000 được chuyển thành giá trị hàng năm bằng cách sử dụng chiết khấu.
Giả sử nhà được sử dụng mãi mãi, nhà nghiên cứu có thể sử dụng công thức tính niên kim
PV cho dòng lợi ích kéo dài mãi mãi PV=m/r. $5.00 là giá trị hiện tại PV, và nếu ta biết r,
có thể tính ra lợi ích hàng năm m với m=$5.000 × r. Nếu r=5%, thì m=$250. Do đó 1%
giảm ô nhiễm không khí sẽ đem lại lợi ích hàng năm là $250. 17
Hàm cầu hưởng thụ cho chất lượng không khí là đạo hàm của hàm giá hưởng thụ theo chỉ số chất lượng
không khí.

Barry Field & Nancy Olewiler
250
Hình 7-5: Xây dựng đường cầu hưởng thụ cho chất lượng không khí
Phương pháp đánh giá hưởng thụ chỉ áp dụng được và có ý nghĩa khi có thị trường bất
động sản thật sự, nghĩa là có nhiều người mua và bán tạo nên thị trường cạnh tranh.

)
(
a
)
$
Giá
nhà
D
(
A
Q
I
;
z
)
A
Q
IA
Q
1
A
Q
0
$
WTP
cho
chất
lượng
không
khí


Bằng cách thu thập một số lượng lớn số liệu chi phí du hành, chúng ta có thể ước lượng giá
sẵn lòng trả tổ
ng cộng cho những cảnh quan môi trường cụ thể. Dĩ nhiên ngoài số liệu về
chi phí du hành, chúng ta phải thu thập thêm các số liệu khác. Các gia đình có thể có rất
nhiều yếu tố khác nhau chứ không chỉ chi phí du hành đến một công viên. Họ có thể có thu
nhập khác nhau, số lần đến thăm công viên khác nhau, và các kinh nghiệm giải trí khác
nhau. Do đó các cuộc khảo sát phải thu thập lượng lớn số liệu cho nhiều khách du lịch để
có thể nghiên cứu ả
nh hưởng của các yếu tố này lên tỷ lệ đến thăm công viên một cách có
ý nghĩa thống kê.

Chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để ước lượng lợi ích cải thiện chất lượng môi
trường ở những điểm có khách du lịch đến thăm; ví dụ, ước lượng lợi ích cải thiện chất
lượng nước tại một hồ nước dùng cho vui chơi giải trí sẽ làm câu cá dễ dàng hơn hoặc có
nhiều động vật hoang dã đến hơn. Để làm việc đó chúng ta không chỉ thu thập số liệu chi
phí du hành của du khách đến một địa điểm mà còn chi phí du hành đến các địa điểm khác
có các đặc điểm tự nhiên khác nhau. Từ đó chúng ta có thể xây dựng đường cầu và sử dụng
nó để tính WTP cho cải thiện chất lượng môi trường bằng cách đo sự thay đổi trong thặng
dư tiêu dùng.

Các bước thực hiện phương pháp Chi phí Du hành như sau.

1. Lấy mẫu khách du lịch đến các điểm khác nhau (công viên, khu vực vui chơi giải
trí, hoặc khu vực hoang dã). Các địa điểm có các biến số chất lượng môi trường có
thể đo được khác nhau. Chúng ta hỏi khách du lịch về:

 Họ tới từ đâu (thành phố nào, nước nào)
 Số khách trên một phương tiện chuyên chở tới
 Phương tiện chuyên chở (ô tô, máy bay, xe đò)

không có tảo biển ngoại lai do chính sách hạn chế tàu bè. Tỉnh Ontario muốn đánh giá giá
WTP cho cải thiện chất lượng nước hồ Ahmic. Họ thực hiện nghiên cứu chi phí du hành
cho cả 2 hồ; đường cầu được trình bày trong Hình 7-6.

Hình 7-6: Ước lượng chi phí du hành cho lợi ích giảm mật độ tảo biển

Đường cầu cho hồ Eagle nằm trên đường cầu hồ Ahmic. Nếu các hồ này tương tự nhau,
chỉ khác nhau chất lượng nước, nhà nghiên cứu có thể suy ra sự chênh lệch thặng dư tiêu
dùng (diện tích tô đậm) giữa 2 hồ là WTP của khách du lịch cho chất lượng nước tốt hơn.
Không có phí vào cổng ở các hồ này, do đó không cần tính thay đổi thặng dư tiêu dùng
trên bất cứ giá nào. (Câu hỏi: Tính toán thay đổi thế nào nếu có phí vào cửa?) Thay đổi 19
Đây là vấn đề thực có rất nhiều ở các con sông Hoa Kỳ và những người lái tàu đã quên lau chùi tàu bè so
đó phát tán đến Canada. Hồ Ahmic và hồ Eagle là những hồ có thực ở bắc Toronto, nhưng hồ Ahmic không
có vấn đề về tảo biển. Một trong những loài tảo biển có hại, loài hydrilla, có xuất xứ từ Ấn độ và Hàn Quốc
đã được nhập vào Hoa Kỳ để làm thực vật nuôi các cảnh. Tại Florida, hơn 70% hệ thố
ng mương dẫn nước
của bang bị tảo hydrilla tấn công, làm chính quyền bang tốn $14,5 triệu đô la hàng năm để mua thuốc trừ sâu
và hóa chất để diệt trừ (theo Environment, Vol. 42, No.4, May 2000, p.4).
Số lượng khách tới hồ Ahmic và Eagle
hàng năm
Hồ
Ahmic
Hồ
Eagle
$
Chi phí
du


 Thiên lệch lấy mẫu trong khảo sát: Vấn đề lớn nhất của phương pháp này là nó chỉ
lấy mẫu người sử dụng địa điểm đó. Điều này làm thiên lệch ước lượng giá sẵn lòng trả
bởi vì người không sử dụng có thể không sẵn lòng gánh chịu chi phí du hành.

 Lợi ích của người không sử dụng: Không có cách nào tính được lợi ích môi trường
của địa điểm mà người sử dụng không hưởng thụ được. Người ta có thể thấy vui khi
biết tảo biển ở hồ Ahmic được loại bỏ ngay cả khi họ không có ý định sử dụng nó. Ý
tưởng loại bỏ tảo biển ngoại lai này sẽ cải thiện đa dạng sinh học và bảo vệ lưu vực
sông, do đó đem lại giá trị cho con người. Tại các nước đang phát triển, các địa điểm
môi trường thiên nhiên có thể cung cấp nhiều loại hàng hóa và dịch vụ cho cư dân (củi,
thực phẩm, chỗ vui chơi, thuốc chữa bệnh). Các cư dân ở đây sẽ không được tính là
khách du lịch, do đó ta không tính được lợ
i ích của họ.

Đo lường sự thay đổi chất lượng môi trường là công việc khó khăn. Cái mà người ta muốn
đo lường là giá trị thay đổi chất lượng môi trường tại địa điểm. Phương pháp chi phí du
hành chỉ đại diện cho giá sẵn lòng trả cho một mức chất lượng môi trường. Với những khó
khăn này, phương pháp chi phí du hành được sử dụng hạn chế trong phân tích lợi ích chi
phí.

Phương pháp Đánh giá Ngẫu nhiên

Phương pháp trực tiếp để ước lượng giá sẵn lòng trả gọi là Phương pháp Đánh giá Ngẫu
nhiên (CVM). CVM dựa trên ý tưởng đơn giản là nếu bạn muốn biết giá sẵn lòng trả của
một người cho tính chất nào đó của môi trường, bạn hãy đơn giản hỏi họ. Từ “đơn giản” ở
đây hơi cực đoan bởi vì cuối cùng bạn sẽ thấy nó trở thành chẳng
đơn giản chút nào mặc
dù ý tưởng ban đầu dường như rất rõ ràng. Phương pháp gọi là đánh giá “ngẫu nhiên” bởi
vì nó cố làm người được hỏi nói họ hành động thế nào nếu họ được đặt trong một tình

4. Phân tích kết quả và tổng hợp các kết quả cá nhân để giá trị cho nhóm bị ảnh hưởng do
thay đổi chất lượng môi trường. Bước này có thể gồm trình bày các bảng tính đơn giản
hoặc phân tích kinh tế lượng.

5. Sử dụng ước lượng WTP trong phân tích lợi ích chi phí. Bởi vì giá trị WTP đo được sẽ
được sử dụng để ước lượng thay đổi thặng dư tiêu dùng, nên có thể coi như là lợi ích
ròng và đưa trực tiếp vào trong phân tích lợi ích chi phí.

Cách tốt nhất để chúng ta hiểu bản chất của CVM là xem xét các bước thiết kế bảng phỏng
vấn.

Bảng câu hỏi phỏng vấn Đánh giá Ngẫu nhiên

Bảng câu hỏi phỏng vấn đánh giá ngẫu nhiên được thiết kế để làm người được phỏng vấn
nghĩ về các đặc điểm môi trường và phát biểu giá sẵn lòng trả tối đa cho các đặc điểm môi
trường đó. Bảng phỏng vấn có 3 thành phần quan trọng:

 Một mô tả chính xác đặc điểm môi trường là gì để từ đó có thể hỏi người được phỏng
vấn.

 Các câu hỏi về người được phỏng vấn được đưa ra một cách ngắn gọn và thích thích
hợp, ví dụ thu nhập, nơi sinh sống, tuổi tác, việc sử dụng các hàng hóa liên quan. 20
Có rất nhiều ví dụ về đánh giá ngẫu nhiên trong lý thuyết kinh tế học. Xem phần tài liệu tham khảo của
chương này ở cuối cuốn sách để biết nhiều cách thực hiện CVM.

Barry Field & Nancy Olewiler
255

Vancouver. Nhà nghiên cứu thiết kế bảng phỏng vấn như trình bày ở trang bên.

Có 2.000 người được phỏng vấn và kết quả như sau. Đối với đánh thuế, WTP trung bình là
$5 trên 100kg phương tiện chuyên chở. Phưong tiện chuyên chở (xe khách và xe tải nhẹ)
có trọng lượng từ 1.500kg đến 2.500kg. Nhà nghiên cứu khảo sát loại xe ở British
Columbia và thu thập trọng lượng từng loại từ nhà sản xuất và sau đó tính tổng WTP mỗi
năm cho thuế phương tiện giao thông là $15 triệu.

Đối với lệ phí cầu, WTP trung bình là $1. Nhà nghiên cứu thu thập số liệu giao thông từ
phòng công trình TransLink và tính toán có trung bình 100,000 lượt quan cầu tiểu vùng
Vancouver mỗi ngày (ngày trong tuần có nhiều lượt qua lại hơn ngày cuối tuần). Doanh
thu do đó sẽ là $100,000 ngày hoặc $36.5 triệu năm.

Nhà nghiên cứu kết luận rằng dân cư trong cuộc khảo sát sẵn lòng trả phí qua cầu cao hơn
đánh thuế phương tiện giao thông. Các con số tính toán được này sau đó được dùng để
thiết kế các chính sách hiệu quả cho vùng. 21
Đây là vấn đề thực được một số nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên thực hiện. Ví dụ là
giả định nhưng có trình bày một số số liệu thực.

Barry Field & Nancy Olewiler
256
Bảng câu hỏi phỏng vấn CVM

Thiết lập tình huống

Khu vực tiểu vùng Vancouver chịu vấn đề ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Hàng năm, có
ít nhất 15 ngày chất lượng không khí xuống thấp hơn mức tiêu chuẩn quốc gia đặt ra cho


Ông/bà sẵn lòng trả bao nhiêu mỗi năm cho 100kg trọng lượng phương tiện (đánh dấu X
bên cạnh con số mà ông/bà cho rằng phù hợp với mình nhất
$ 0 ____________
$ 5 ____________
$ 10 ____________
$ 20 ____________
$ 30 ____________
$ 50 ____________
Trên $ 50 ____________

2. Phí cầu đường

Ông/bà có sẵn lòng trả $_________* cho phí cầu đường mỗi lần qua một cây cầu ở tiểu
vùng Vancouver? Yes No (khoanh tròn) Barry Field & Nancy Olewiler
257
* Nhà nghiên cứu sẽ đặt vào khoảng trống này một con số nào đó. Người được phỏng vấn khác nhau sẽ có
các con số khác nhau. Những giá trị này sẽ nằm trong phạm vi nhà nghiên cứu cho rằng thích hợp.

Phê bình phương pháp Đánh giá Ngẫu nhiên

Điểm mạnh chính của phương pháp CVM là linh động. Có thể thiết kế CVM cho bất cứ
tình huống nào và do đó có thể áp dụng cho rất nhiều hàng hóa môi trường, không chỉ áp
dụng cho những hàng hóa đo được chỉ khi có liên hệ với hàng hóa thị trường. Hầu như tất
cả những thứ gì mà con người có thể hiểu được đều có thể dùng phương pháp CVM này
nghiên cứu. Phương pháp này được dùng rộng rãi để đánh giá giá trị lợi ích môi trường.
Phương pháp có một số nhược điểm chính:

người có thể đưa ra mức giá sẵn lòng trả cao hơn mức thực và nghĩ rằng mọi người sẽ
làm tương tự, do cho rằng để làm cho món hàng hiện hữu, phần chia chi phí của mỗi
người sẽ rất nhỏ.

 Các vấn đề thực tiễn. Bao gồm những thiên lệch do người nghiên cứu gây ra (ví dụ,
chọn phương pháp trả tiền, ph
ạm vi chọn lựa WTP, thiết kế tình huống trong bảng
phỏng vấn v.v.), kích thước mẫu nhỏ, các vấn đề xảy ra trong cuộc phỏng vấn (chẳng
hạn chỉ hỏi được những người quan tâm thực sự đến môi trường), và nhiều vấn đề khác
nữa. Các nhà kinh tế học đang phát triển một số kỹ thuật để giúp nghiên cứu CVM tốt

Barry Field & Nancy Olewiler
258
hơn. Ví dụ, họ khảo sát những tình huống người trả lời bộc lộ sự ưa thích của học
thông qua bộc lộ hành vi (vi dụ mua giấy phép câu cá). Phương pháp này gọi là phương
pháp phát biểu sự ưa thích.

Trong khi có nhiều phê bình, phương pháp CVM vẫn được sử dụng rộng rãi và là công cụ
có thể áp dụng được để đánh giá lợi ích.

NHẬN XÉT CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ LỢI ÍCH
MÔI TRƯỜNG

Giá sẵn lòng trả và Giá sẵn lòng chấp nhận

Trong sách này chúng ta đã sử dụng khái niệm giá sẵn lòng trả để đo lường lợi ích cải thiện
chất lượng môi trường và do đó đo lường thay đổi trong tổng thiệt hại (diện tích dưới
đường MD). Giá sẵn lòng trả, bên cạnh việc phản ánh sở thích còn phản ánh thu nhập. Một
cách khác để giải quyết các vấn đề đánh giá giá trị cải thiện chất lượng môi trường là hỏi
người dân giá sẵn lòng chấp nhận từ bỏ sử dụng hàng hóa môi trường. Để đánh giá cải

cách đó là xem xét kỹ lưỡng bảng phỏng vấn và cách thức đặt câu hỏi trong bảng phỏng 22
Xem công trình của Jack Knetsch và cộng sự, ví dụ “Environmental Policy Implications of Disparities
between Willingness to Pay and Compensation Demanded Measures of Values”, Journal of Environmental
Economics and Management 18 (1990): 227-237, và tài liệu tham khảo trong bài này.

Trích đoạn Giá trị không sử dụng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status