HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC TỪ XA
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH 1
__________***__________
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Tên chuyên đề: Văn Hóa Doanh Nghiệp
Thực hiện: Trần Thị Tuyết Mai
Lớp : QT106A2
Mã SV: 106303491
Giáo viên hướng dẫn: Bùi Xuân Phong
MỤC LỤC
Mở đầu - Vai trò của văn hóa doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay.
Phần 1 - Tổng quan về đơn vị
1.1. Chức năng và nhiệm vụ
1.2. Cơ cấu tổ chức
Phần 2 - Tình hình văn hóa doanh nghiệp và một số đề xuất
2.1. Tình hình một số khía cạnh văn hóa doanh nghiệp
1. Các biểu trưng trực quan
2. Các biểu trưng phi trực quan
2.2. Đánh giá văn hóa doanh nghiệp tại đơn vị
1. Những kết quả đạt được
2. Những tồn tại
2.3. Một số đề xuất về văn hóa doanh nghiệp cho đơn vị
1. Phương hướng (định hướng) phát triển
2. Một số đề xuất
Phần 3 - Kết luận
Thực hiện văn hóa doanh nghiệp đạt được lợi ích gì cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của đơn vị?
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
2
3
này gồm: giá trị tồn tại khách quan, hình thành tự phát và giá trị mà lãnh đạo
mong muốn, phải xây dựng từng bước.
- Cấp thứ 3 là các ngầm định. Nó chính là niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và
xúc cảm được coi là đương nhiên ăn sâu trong tiềm thức mỗi cá nhân trong
doanh nghiệp. Các ngầm định này là nền tảng cho các giá trị và hành động của
mỗi doanh nghiệp.
Với cách hiểu đúng đắn tổng thể về văn hoá doanh nghiệp, mỗi
doanh nghiệp cần đưa ra mô hình cụ thể và cách thức để đưa giá trị văn hoá vào
doanh nghiệp mình và phải có một nền văn hoá của riêng mình thì mới tồn tại
vững chắc, đạt hiệu quả kinh doanh cao.
Có thể nói rằng, văn hoá doanh nghiệp là cái còn thiếu khi doanh nghiệp
đã có tất cả và là cái còn lại khi doanh nghiệp không còn gì nữa. Nếu doanh
nghiệp có văn hoá thì sẽ rất thuận lợi để phát triển kinh doanh và làm ăn thịnh
vượng, nếu gặp khó khăn hay đi xuống thì vẫn có thể vực lại được. Nhưng
không có văn hóa thì không thể cứu vãn.
Như vậy, văn hoá doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng. Nó luôn tạo
ra niềm tin cho mỗi người làm việc trong môi trường đó. Nó là sợi dây gắn kết
giữa những con người trong cùng doanh nghiệp, tạo ra tiếng nói chung giữa các
thành viên, và nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong điều
kiện Việt Nam gia nhập WTO. Hơn nữa, xây dựng văn hoá doanh nghiệp thích
hợp với đặc điểm của doanh nghiệp thì việc quản lý chính là dùng nền văn hoá
nhất định để tạo dựng con người. Văn hoá doanh nghiệp là một cơ chế quan
trọng trong quản lý nguồn nhân lực. Chỉ khi văn hoá doanh nghiệp thực sự hoà
vào giá trị quan của mỗi nhân viên thì họ mới có thể coi mục tiêu của doanh
nghiệp là mục tiêu phấn đấu của mình. Vì vậy, quản lý bằng nền văn hoá mà
nhân viên thừa nhận có thể tạo ra động lực cho sự phát triển lâu dài của doanh
nghiệp.
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
· Dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng;
· Dịch vụ quảng cáo, tổ chức sự kiện;
· Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng.
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
6
1.2. Cơ cấu tổ chức
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
7
Phần 2 - Tình hình văn hóa doanh nghiệp và một số đề xuất
2.1. Tình hình một số khía cạnh văn hóa doanh nghiệp
1. Các biểu trưng trực quan
- Đặc điểm kiến trúc
- Nghi lễ
- Giai thoại
- Biểu tượng
- Ngôn ngữ
- Ấn phẩm điển hình
*) Kiến trúc đặc trưng: gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công
sở.
Phần lớn những doanh nghiệp thành đạt hoặc đang phát triển muốn gây ấn
tượng đối với mọi người về sự khác biệt, thành công và sức mạnh của họ bằng
những công trình kiến trúc đặc biệt và đồ sộ. Những công trình này được sử
dụng như biểu tượng và hình ảnh về doanh nghiệp.
Những thiết kế nội thất cũng được các doanh nghiệp quan tâm. Từ những
vấn đề rất lớn như tiêu chuẩn hóa về mầu sắc, kiểu dáng đặc trưng, thiết kế nội
thất như mặt bằng, quầy bàn, loại dịch vụ, trang phục… đến những chi tiết nhỏ
như vị trí công tắc điện… tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen,
thiện chí và được quan tâm.
nghĩa cụ thể đến nhân viên của mình và những người hữu quan.
Khẩu hiệu là hình thức dễ nhập tâm và được không chỉ nhân viên mà cả
khách hàng và nhiều người khác luôn nhắc đến. Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô
đọng nhất của triết lý hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.
*) Ấn phẩm điển hình: là những tư liệu chính thức có thể giúp những
người hữu quan có thể nhận thấy rõ hơn về cấu trúc văn hóa của một doanh
nghiệp.
2. Các biểu trưng phi trực quan
Cơ bản có thể phân các biểu trưng phi trực quan của văn hóa doanh
nghiệp thành 3 nhóm:
- Lý tưởng
- Niềm tin, giá trị chủ đạo và thái độ
- Lịch sử phát triển và truyền thống văn hóa
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
9
*) Lý tưởng: với ý nghĩa là sự vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Cách định
nghĩa này muốn nhấn mạnh những động lực, ý nghĩa, giá trị cao cả, căn bản, sâu
sắc giúp con người cảm thông, chia sẻ và dẫn dắt con người trong nhận thức,
cảm nhận và xúc động trước sự vật, hiện tượng. Lý tưởng khác với niềm tin
thông thường trên ba phương diện sau:
+) Niềm tin được hình thành một cách có ý thức và có thể xác minh tương
đối dễ dàng, trong khi lý tưởng được hình thành một cách tự nhiên và khó giải
thích được một cách dễ dàng.
+) Niềm tin có thể được đưa ra diễn giải, tranh luận, đối chứng, trong khi
không thể làm như vậy được với lý tưởng, vì vậy niềm tin có thể thay đổi dễ
dàng hơn so với lý tưởng.
+) Niềm tin chỉ là trình độ nhận thức ở mức độ đơn giản, trong khi lý
tưởng được hình thành không chỉ từ niềm tin hay đức tin mà còn gồm cả những
giá trị và cảm xúc của con người. Như vậy lý tưởng đã nảy mầm trong tư duy,
khác nhau giữa các nước phương Tây và phương Đông. Văn hóa phương Tây
coi trọng sự chuyên cần, nỗ lực hết mình, năng lực hoàn thành nhiệm vụ và lối
sống “định hướng hành động” (doing-orientation) hay “cố chứng tỏ bằng cái gì
đó”. Trong khi đó nhiều nền văn hóa khác, lối sống “định hướng vị thế” (being-
orientation) hay “cố chứng tỏ mình là ai đó” là chủ đạo. Một lối sống nữa cũng
thấy xuất hiện ở nhiều nền văn hóa là lối sống “định hướng địa vị xã hội”
(being-in-becoming orientation) hay “cố để trở thành ai đó”.
. Bản chất mối quan hệ con người. Có những doanh nghiệp coi trọng
thành tích và sự nỗ lực cá nhân; trong khi những doanh nghiệp khác lại coi trọng
tính tập thể và tinh thần hợp tác. Triết lý quản lý của nhiều doanh nghiệp có thể
rất coi trọng tính tự lập, tự chủ (tự quyết và tự hành động); nhưng cũng có thể
nhấn mạnh vai trò tiên phong, gương mẫu của một số nhân cách điển hình, hoặc
ngược lại, tôn trọng cơ chế dân chủ. Bằng cách nghiên cứu về vai trò của các cá
nhân trong mối quan hệ với đồng nghiệp có thể dễ dàng xác minh triết lý và tư
tưởng chủ đạo trong mối quan hệ con người.
*) Niềm tin, giá trị chủ đạo và thái độ
Về bản chất, giá trị là khái niệm liên quan đến chuẩn mực đạo đức và cho
biết con người cho rằng họ cần phải làm gì. Những cá nhân và doanh nghiệp
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
11
đánh giá cao tính trung thực, nhất quán và sự cởi mở cho rằng họ cần hành động
một cách thật thà, kiên định và thẳng thắn.
Niềm tin là khái niệm đề cập đến việc mọi người cho rằng thế nào là
đúng, thế nào là sai. Trong thực tế, khó tách rời được hai khái niệm này bởi
trong niềm tin luôn chứa đựng những giá trị. Giá trị còn được coi là những niềm
tin vững chắc về một cách thức hành động hay trạng thái nhất định.
Niềm tin của những người lãnh đạo dần được chuyển hóa thành niềm tin
của tập thể thông qua giá trị.
Thái độ là chất gắn kết niềm tin với giá trị thông qua tình cảm. Thái độ
& Telecommunications)
b) Sứ mệnh – tầm nhìn
- Sứ mệnh: VNPT luôn là Tập đoàn giữ vị trí số 1 tại Việt Nam về phát
triển bưu chính, viễn thông. Có khả năng vươn ra thị trường thế giới, có đủ sức
cạnh tranh với các tập đoàn viễn thông lớn.
- Tầm nhìn: VNPT luôn nỗ lực trong việc ứng dụng có hiệu quả công
nghệ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin tiên tiến để mang lại cho người
tiêu dùng nhân dân Việt Nam những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống.
c) Giá trị cốt lõi
- Giá trị mang tính Việt Nam: VNPT đã đi cùng hơn 60 năm lịch sử của
đất nước, với vai trò là doanh nghiệp chủ lực, VNPT luôn gánh vác trọng trách
vừa là kinh doanh, vừa phục vụ Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
13
- Giá trị mang tính nhân văn: Giá trị tốt đẹp mà VNPT cam kết hướng tới
là phục vụ khách hàng một cách tốt nhất; nâng cao đời sống tinh thần và vật chất
của nhân viên; mang lại lợi ích cho đối tác; đóng góp vì lợi ích của cộng đồng.
Tất cả là: “Vì con người, hướng đến con người và giữa những con người”.
d) Khẩu hiệu của VNPT
- Tiếng Việt: "Cuộc sống đích thực"
- Tiếng Anh: "Real life".
Đồ họa: Ý nghĩa việc thể hiện đôi mắt trong thương hiệu:
- Đôi mắt thể hiện sự quan tâm, chia sẻ, minh họa cho giá trị nhân văn của
VNPT.
- Cụm đồ họa VNPT - cánh sóng cách điệu - đôi mắt: thể hiện VNPT luôn
vì khách hàng, quan tâm chăm sóc khách hàng.
- Sử dụng hình ảnh đôi mắt nam, nữ thể hiện sự cân bằng tự nhiên, sự đa
dạng của khách hàng trong nước và quốc tế của VNPT, tạo sự thuận tiện về tính
đối xứng với mỗi hạng mục thiết kế.
- Bưu chính ủy thác trong nước
- Phát hàng, thu gom trong nước COD
- Phát hành báo chí
+) Các dịch vụ viễn thông bao gồm:
- Điện thoại cố định, Fax, Telex trong và ngoài nước
- Điện thoại di động: Vinaphone, MobiFone (hòa mạng, thẻ trả trước…)
- Điện thoại thẻ Phonecard, 1717, 1719, …
- Gọi 171 liên tỉnh và quốc tế
- Internet, truyền số liệu (mạng DSN, ADSL), Mega VNN, Mytivi….
- Các dịch vụ tiện ích của tổng đài kỹ thuật số
+) Các dịch vụ khác bao gồm:
- Bảo hiểm nhân thọ bưu chính
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
16
- Cung cấp vật tư, thiết bị ngành bưu chính – viễn thông và các dịch vụ
mới khác triển khai băng thông rộng trên nền MPLS/2
*) VNPT lắng nghe những ý kiến đóng góp của khách hàng
Những năm qua, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã
không ngừng hiện đại hóa mạng lưới, đa dạng hóa dịch vụ và hiện đang tiến
hành đổi mới tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh, tiếp tục nâng cao chất lượng
dịch vụ tới khách hàng. Góp phần vào sự phát triển đó, không thể không nói đến
những thông tin, ý kiến đóng góp, xây dựng của khách hàng nói riêng và công
luận nói chung.
Nhận thức sớm được những cơ hội và thách thức trong thời kỳ mới,
VNPT đã thực hiện tiếp tục đổi mới quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh, tăng
cường chăm sóc khách hàng nhằm mục tiêu “năng xuất, chất lượng, hiệu quả”,
theo hướng xây dựng một tập đoàn kinh tế vững mạnh trên lĩnh vực Bưu chính –
Viễn thông. Năm 2002 – năm đầu tiên VNPT đặt mục tiêu cho một năm là “năm
khách hàng”, chứng tỏ sự mong muốn hướng về khách hàng, vì khách hàng cao
Trên cơ sở ý kiến đóng góp xây dựng và đề xuất của khách hàng trên mọi
miền cả nước, bằng các hình thức viết thư, gọi điện, hay đến gặp phản ánh trực
tiếp với các cấp quản lý, VNPT đã kịp thời tiếp thu, rút kinh nghiệm và triển
khai ngay những việc làm cần thiết để chấn chỉnh thái độ phục vụ, nâng cao chất
lượng dịch vụ. Tinh thần này được quán triệt thường xuyên tới tất cả các đơn vị
trực thuộc đang quản lý mạng lưới cung cấp dịch vụ bưu chính, viễn thông,
internet trên toàn quốc.
Như vậy, trong cuộc tranh đua ngôi vị thương hiệu, càng là những tập đoàn
lớn càng cần phải có những bước đột phá nhằm gìn giữ, phát triển hình ảnh
thương hiệu của mình.
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
18
Với slogan “VNPT – cuộc sống đích thực”, VNPT đã định vị là một tập đoàn
kinh tế đem lại cho người dân những giá trị đích thực của cuộc sống. Hình ảnh
VNPT gắn liền với “dòng sông”, một dòng sông lớn đem lại sức sống lan tỏa
khắp nơi, mang lại những giá trị sống dọc theo dòng chảy của mình. Hình ảnh
dòng sông chảy ra biển lớn đại diện cho khát vọng lớn của VNPT là hội nhập
với thế giới, hình ảnh còn được nhân hóa thành những đôi vai luôn xuất hiện
đúng lúc để sẻ chia những khó khăn, nhọc nhằn của cuộc sống, sát cánh cùng
cộng đồng, vì sự phát triển của cộng đồng. Hành động đi cùng với những cam
kết của VNPT đã thay đổi hình ảnh của mình, tạo sự thân thiện và gần gũi như
“cuộc sống đích thực” vậy.
Vệ tinh VINASAT 1 sẽ phủ sóng vệ tinh cho
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam cũng như khu vực
Đông Nam Á, các nước Trung Quốc,
Triều Tiên, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia
Hình ảnh vệ tinh VINASAT 1 bay lên như khát vọng muốn bay xa của
VNPT, mang mong ước của người dân Việt Nam phát triển ngang tầm với thế
giới. Với những đóng góp của mình cho cộng đồng và sự đi lên của xã hội,
tiên tiến điển hình đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ mới.
Trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, VNPT đã hoàn
thành các nội dung công việc có tính lịch sử quan trọng. Đầu tiên phải kể đến là
việc thành lập Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam, là tập đoàn kinh tế
hàng đầu của đất nước, với vai trò là doanh nghiệp chủ lực cung cấp các dịch vụ
viễn thông, CNTT và bưu chính, có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại,
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
20
chuyên môn hóa cao, kết hợp nghiên cứu, đào tạo và sản xuất kinh doanh. Thứ
hai, VNPT đã hoàn thành việc chia tách bưu cính, viễn thông trong năm 2007,
Tổng công ty bưu chính Việt Nam được thành lập và hoạt động từ 01/01/2008,
tạo tiền đề cho việc chuyên môn hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh.
Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2008 của Tổng công ty Bưu chính đã không
định tính đúng đắn của chủ trương chia tách này. Dấu ấn thứ ba là ngày
19/04/2008, VNPT đã phóng thành công vệ tinh viễn thông Việt Nam
VINASAT 1 lên quỹ đạo, thể hiện chủ quyền quốc gia trong không gian, góp
phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Kết quả của quá trình
đổi mới, đã hiện đại hóa và phát triển bưu chính, viễn thông Việt Nam ngang
tầm với các nước tiên tiến trong khu vực, xây dựng VNPT trở thành Tập đoàn
kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và
CNTT, đóng góp hiệu quả cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. VNPT luôn là doanh nghiệp có cơ sở hạ tầng rộng lớn nhất trong các
doanh nghiệp khai thác viễn thông (93% cơ sở hạ tầng của mạng điện thoại cố
định, gần 60% hạ tầng mạng điện thoại di động quốc gia, 75% thị phần internet,
100% số xã có điện thoại của VNPT). Hiện tại VNPT có 62.741,000 thuê bao
điện thoại (tăng 90 lần so với năm 1995), 1.941,000 thuê bao internet, Mega
VNN.
Bên cạnh việc đóng góp với cộng đồng bằng các hoạt động chuyên ngành
của mình, VNPT cũng chú trọng tham gia các hoạt động chính sách, xã hội. Thể
trường tiềm năng của VNPT. Trong thời gian qua, VNPT vẫn lúng túng về mô
hình tổ chức. Vấn đề phân phối tiền lương vẫn mang dáng dấp của thời kỳ kế
hoạch hóa tập trung cho dù đã trao quyền chủ động cho giám đốc của đơn vị
thành viên. Việc nghiên cứu, triển khai dịch vụ mới còn yếu, chậm chưa đáp ứng
được yêu cầu của thị trường.
Bên cạnh đó, việc chăm sóc khách hàng của các đơn vị còn hạn chế, chưa
quan tâm tiếp cận thị trường. Có một ví dụ điển hình là cán bộ của một đơn vị
thành viên chấp nhận thu nhập 5 triệu đồng/tháng chứ không chấp nhận lương 7
triệu đồng nhưng phải nhận thêm việc tiếp xúc với khách hàng. Đây là tồn tại
lớn mà VNPT phải giải quyết.
VNPT còn thiếu chủ động, thiếu tự tin và tự chủ trong tổ chức lại hoạt
động sản xuất kinh doanh. Chính điều này đang làm cho VNPT mất nhiều cơ hội
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
22
phát triển và sẽ đứng trước rất nhiều thách thức. Bởi trong thời đại cạnh tranh và
hội nhập, thời cơ là yếu tố quyết định, bỏ lỡ thời cơ thì sẽ không bao giờ có lại
được. Hướng đi của VNPT chưa rõ, vướng mắc và tồn đọng còn quá nhiều, cách
thức để tháo gỡ chưa quyết liệt. Hiện nay VNPT có đội ngũ lao động đông,
nhưng chất lượng và cơ cấu chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thời kỳ
mới. Điều này sẽ là lực cản cho việc xây dựng bộ máy năng động, hiệu quả và
rất khó tạo được động lực phát triển. Do vậy, VNPT cần phải sớm có giải pháp
đồng bộ, quyết liệt nhưng phải hợp lý, hợp tình để giải quyết vấn đề này, từng
bước trẻ hóa đi đôi với tri thức hóa nguồn nhân lực của mình tới tận cấp xã.
2.3. Một số đề xuất về văn hóa doanh nghiệp cho đơn vị
1. Phương hướng (định hướng) phát triển
Theo định hướng phát triển năm 2010 của VNPT, nhiều mục tiêu, nhiệm
vụ trọng tâm cụ thể được đặt ra như:
- Phấn đấu doanh thu phát sinh đạt 100 ngàn tỷ đồng, sản xuất kinh doanh
theo chiều sâu, phấn đấu giữ vững và phát huy truyền thống của đơn vị Anh
Thứ năm, trong công tác quản lý, cần quản lý tốt về con người, mà trước
hết là các cán bộ chủ trì ở các cấp, qua cơ chế đánh giá, bổ nhiệm, đề bạt, khen
chê, thưởng phạt nghiêm minh, quản lý các nguồn lực tài chính một cách chặt
chẽ, đầu tư phải hiệu quả, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị để kinh doanh với
hiệu quả cao và chất lượng tốt.
Thứ sáu, đồng thời phải tăng cường công tác Đảng, công tác Đoàn với Đoàn
thanh niên, làm cho các tổ chức này mạnh hơn, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả
công tác trong và ngoài nước, tăng cường đoàn kết và dân chủ nội bộ để làm tốt
vấn đề tư tưởng.
Có bốn trọng điểm đầu tư mà Tập đoàn VNPT cần chú trọng là:
- Đầu tư cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, đầu đàn, mạnh dạn trẻ hóa, mạnh
dạn cử đi đào tạo, kể cả ở nước ngoài.
- Đầu tư xây dựng cơ chế chính sách, trong đó có chính sách kích cầu và
xã hội hóa, đẩy mạnh huy động vốn đầu tư phát triển.
- Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng, nâng cao chất lượng dịch vụ.
Trần Thị Tuyết Mai
Lớp: QT106A2
24
- Đặc biệt chú trọng việc xây dựng và quảng bá thương hiệu. Một doanh
nghiệp muốn thành công trên thị trường cần phải hội tụ đủ ba yếu tố:
Thông tin - Trí tuệ - Thương hiệu.
Phần 3 - Kết luận
Thực hiện văn hóa doanh nghiệp đạt được lợi ích gì cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của đơn vị?
Văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển kinh tế xã hội. Ở góc độ nhà quản lý doanh nghiệp, có thể khẳng định:
văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò hết sức lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt
động, sức cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Văn hóa
doanh nghiệp tạo ra sự cố kết và tính thống nhất cao trong hành động của các
thành viên; tạo cho doanh nghiệp một phong cách, cá tính, bản sắc riêng; điều