BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CAO XUÂN THỎA
NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH DỊCH VỤ
THÔNG TIN DI ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH
VIỄN THÔNG VIỆT NAM - VNPT
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS,TS HOÀNG VĂN CHÂU
HÀ NỘI- 2011
Danh mục từ viết tắt
arpu
Tiền cớc phát sinh trên một thuê bao di động
ATM
Máy rút tiền tự động
AMR
Bộ thích ứng đa luồng
bts
Trạm thu phát gốc
bsc
Bộ điều khiển trạm gốc
bcvt
Bu chính viễn thông
CBCNV
Cán bộ công nhân viên
cdma
Công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã
CNTT
Công nghệ thông tin
cskh
Chăm sóc khách hng
dn
doanh nghiệp
đtdđ
điện thoại di động
edge
Công nghệ số liệu tốc độ cao cải tiến từ gprs
Công ty trách nhiệm hữu hạn
sms
dịch vụ bản tin ngắn
SP
Sản phẩm
SXKD
Sản xuất kinh doanh
vms
Công ty thông tin di động (MobiFone)
vnpt
Tập đon Bu chính Viễn thông Việt Nam
wcdma
Công nghệ đa truy nhập theo mã băng rộng
wto
Tổ chức thơng mại thế giới
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hội nhập như ngày nay, tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế
nước ta đã và đang đối mặt với rất nhiều nguy cơ và thách thức mới. Ngày càng nhiều
doanh nghiệp nước ngoài với công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quả lý và tiềm lực tài
chính mạnh xuất hiện làm cho quá trính cạnh tranh diễn ra ngày càng phức tạp h
ơn,
quyết liệt hơn. Viễn thông cũng không phải là một ngoại lệ, một số công ty liên doanh
với nước ngoài đã có mặt trên thị trường, các doanh nghiệp trong nước cũng ngày càng
lớn mạnh hơn, hoạt động hiệu quả hơn do đó sự cạnh tranh trong lĩnh vực này thể hiện
rất rõ qua cước phí ngày càng giảm, tần suất xuất hiện trên các phương tiện thông tin
thông tin di động trong phạm vi tập đoàn Bưu chính Viễn thông - VNPT mà đặc biệt là
ở hai công ty Vinaphone và Mobifone.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định cho mình những nhiệm
vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý lu
ận về dịch vụ thông tin di động, và hiệu quả kinh doanh.
- Đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông – VNPT.
- Đề xuất một số giải pháp phát triển dịch vụ, phát triển khách hàng, sử dụng
nguồn nhân lực, nâng cao công tác quản lý nhằm nâng cao thị phần, doanh thu và hiệu
quả kinh doanh dịch vụ thông tin của Tập đoàn Bưu chính Viễn Thông – VNPT.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luậ
n văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và tổng hợp để nghiên cứu lý
giải những vấn đề đặt ra. Dùng các số liệu báo cáo kinh doanh của MobiFone và
VinaPhone để chứng minh, đồng thời cho thấy vị trí của hai doanh nghiệp trên thị trường ở mức nào, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thu hút khách hàng, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
6. Giời hạn của đề tải
Đề tài tập trung vào nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
dịch vụ thông tin di động của VNPT trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
7. Cấu trúc luận văn.
Để thực hiện mục đích của Luận v
ăn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo; nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương:
Chương I
1.1.2. Đặc tính kỹ thuật của dịch vụ thông tin di động
1
1.1.3. Đặc tính kinh tế của dịch vụ thông tin di động
. 7
1.1.4. Các loại hình dịch vụ thông tin di động
.
9
1.2. Hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động
9
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
. 9
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh
12
1.3. Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin
di động của một số công ty, tập đoàn viễn thông trên thế giới
16
1.3.1. Kinh nghiệm của Docomo tại Nhật Bản
16
1.3.2. Kinh nghiệm của Korea Telecom tại Hn Quốc
17
1.3.3. Kinh nghiệm của China Telecom tại Trung Quốc
20
1.3.4. Kinh nghiệm của China Mobile Communication tại Trung Quốc
22
1.3.5. Những bi học kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu kinh
nghiệm của một số nh khai thác dịch vụ thông tin di động
23
2.2.3. Hiệu quả đối với dịch thông tin di động của VNPT.
36
2.3. Đánh giá về hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin di động
của Tập đoàn Bu chính Viễn thông Việt Nam
..
39
2.3.1. Những thnh tựu đã đạt đợc
39
2.3.2. Nguyên nhân v những tồn tại cần khắc phục
.
45
Chơng 3: một số giảI pháp nâng cao hiệu quả
kinh doanh dịch vụ thông tin di động của tập
đon bu chính viễn thông việt nam (vnpt)
50
3.1. định hớng kinh doanh dịch vụ thông tin di động của Tập
đoàn Bu chính Viễn thông Việt Nam
..
50 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ thông tin
di động của Tập đoàn Bu chính Viễn thông Việt Nam
.
52
3.2.1. Các giải pháp về phát triển sản phẩm
. 52
3.2.2. Các giải pháp về giá cớc v khuyến mại
53
3.2.6. Giải pháp về sử dụng nguồn lực, nguồn vốn v bộ máy quản lý. 81
3.3. Một số kiến nghị
.
81
Kết luận
Danh mục ti liệu tham khảo
1
CHƯƠNG I: DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ KINH
DOANH DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG
1.1. Tổng quan về dịch vụ thông tin di động
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ thông tin di động
Dịch vụ thông tin di động là dịch vụ thông tin vô tuyến hai chiều cung cấp cho
người sử dụng môi trường và phương tiện kết nối với nhau để sử dụng nhiều loại
hình dịch vụ (thoại và dịch vụ
số liệu) trong phạm vi phủ sóng của nhà cung cấp
dịch vụ. Dịch vụ thông tin di động gọi một cách đơn giản là dịch vụ điện thoại trong
đó người sử dụng có thể kết nối, liên lạc với nhau ngay cả khi đang di chuyển trong
vùng phục vụ.
Dịch vụ thông tin di động có đặc trưng là sử dụng công nghệ không dây vì vậy
người sử dụng có thể di chuyển trong khi
đàm thoại và phạm vi di chuyển rất rộng
bằng toàn bộ vùng phục vụ của mạng. Phạm vi này có thể là quốc tế, quốc gia hay
tối thiếu cũng là một vài tỉnh, thành phố lớn. Chỉ với một máy điện thoại di động,
Mỗi BTS sẽ được phủ sóng ở một vài ô tổ ong (cell) có bán kính tùy vào công suất
phát tuy nhiên thường khoảng 1,5 - 2km. Số lượng trạm BTS càng nhiều thì diện
tích vùng phủ sóng càng lớn, vùng phục vụ của dịch vụ thông tin di động càng rộng.
3
BSC - Base Stations Controller: Bộ điều khiển trạm gốc
Mỗi BSC thực hiện chức năng điều khiển một nhóm các trạm BTS và kết nối
BTS đến các trung tâm chuyển mạch MSC.
MSC - Mobile Services Switching Center: Trung tâm chuyển mạch các dịch vụ
di động.
MSC thực hiện chức năng chuyển mạch, kêt nối người gọi đến người được gọi
và quản lý cuộc gọi.
Như vậy, về c
ơ bản mạng thông tin di động gồm có 4 thành phần chính. Xét từ
quan điểm khách hàng, điện thoại di động có đặc điểm nổi bật là có thể di chuyển
khi đang liên lạc. Điện thoại di động ngoài ra còn đảm bảo tính bảo mật cao hơn các
hình thức liên lạc trước đó vì thông tin trước khi truyền và phát dưới dạng sóng
điện từ đã được mã hóa nên hạn chế được tình trạng nghe lén cuộc g
ọi.
Chất lượng dịch vụ thông tin di động phụ thuộc vào một số chỉ tiêu chính sau:
- Độ rộng của vùng phủ sóng và chất lượng vùng phủ sóng (tức là sóng phủ có
phủ khắp hay không, và sóng có ổn định hay không). Vùng phủ sóng hẹp thì hạn
chế phạm vi hoạt động của thuê bao, có những nơi không có sóng và khách hàng đi
vào vùng này dịch vụ sẽ không được kích hoạt. Chất lượng sóng ổn định sẽ hạn chế
tố
i ta tình trạng “rớt” cuộc gọi hoặc “âm thanh” không ổn định.
- “Dung lượng vô tuyến” lớn hay nhỏ. Mỗi BTS đều có dung lượng “vô tuyến”
nhất định cho phép một số lượng nhất định các thuê bao thực hiện cuộc gọi cùng
một lúc. Nếu có quá nhiều thuê bao trong cell dùng gọi đi hoặc cùng nhận cuộc gọi
thì sẽ có một số thuê bao bị rớt mạng, không thể thực hiện cuộc gọi.
- Hệ thống truyền thông truy nhập tổng thể (TACS): được giới thiệu ở Anh vào
năm 1985, dựa trên công nghệ AMPS.
Thế hệ thứ ha (2G) – Hệ thống tế bào số
Hệ thống này được phát triển từ cuố
i thập niên 80 không chỉ số hoá vô tuyến
điều khiển mà còn số hoá ở tín hiệu thoại. Mục đích của việc số hoá là đưa ra được
các dịch vụ mới với chất lượng cao và tăng dung lượng thiết bị, giảm kích thước và
giá thành thiết bị. Trong thông tin số, trước khi truyền tín hiệu thoại và các thông tin
5
phi thoại như fax, dữ liệu, hình ảnh sẽ được chuyển thành tín hiệu số. Việc truyền
thông tin số đảm bảo độ tin cậy cao hơn và mức quản lý quy hoạch tốt hơn rất nhiều
so với công nghệ FDMA.
- Hệ thống thông tin di động toàn cầu (GSM): GSM là hệ thống tế bào só đầu
tiên. GSM được phát triển ở Châu Âu vào năm 1985. GSM sử dụng công nghệ
TDMA (Đa truy nhập phân chia theo thời gian). Công nghệ này đượ
c các nước
Châu Âu và rất nhiều quốc gia trên thế giới triển khai.
- TDMA IS-136: công nghệ này được Hiệp hội Công nghệ Viễn thông (ITA)
nghiên cứu vào năm 1988. Hệ thống TDMA IS-136 được phát triển để cải thiện
chất lượng của hệ thống điện thoại di động thế hệ tương tự (AMPS) đang được triển
khai tại Mỹ.
- Hệ thống thông tin di động PDC: được RCR phát triển vào n
ăm 1990, do đặc
tính tương thích với hệ thống điện thoại di động thế hệ tương tự đang được triển
khai tại Nhật Bản nên nó nhanh chóng được chào đón và nay vẫn là hệ thống chính
phát triển tại Nhật.
- CDMA IS-95: vào những năm đầu của thập kỷ 90, khi nhu cầu thông tin di
động tế bào tăng cao (đặc biệt là ở Mỹ) đòi hỏi cần có một kỹ thuậ
t mới để có thể
nội dung video và multimedia đến các thiết bị cầm tay và điện thoại thông minh.
Hai chuẩn chính của 3G là CDMA 2000 và WCDMA.
- Hệ thống CDMA: hệ thống này ra đời đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của
dịch vụ thông tin di động tế
bào. Hệ thống CDMA có nhiều ưu điểm như chất lượng
thoại cao hơn, dung lượng hệ thống tăng cao và tính bảo mật rất cao. CDMA đưa ra
các giải pháp kỹ thuật cải thiện được chất lượng dịch vụ, đặc biệt là khả năng kiểm
soát chất lượng thông tin kênh truyền, giảm ảnh hưởng của can nhiều đến chất
lượng thông tin.
- WCDMA - Phương thức đ
a truy nhập phân chia theo mã băng rộng: hệ
thống này là một trong nhiều công nghệ chủ đạo của mạng thông tin di động. Nó
cũng được biết đến là một công nghệ truy nhập. Giao diện vô tuyến WCDMA hình
thành kết nối giữa thiết bị di động của người dùng với mạng lõi. Công nghệ CDMA
tạo nên mạng lưới có hiệu quả cao với công suất lớn, trong khi vẫn đảm bảo tiêu
chuẩn chất lượng tho
ại cao. 7
1.1.3. Đặc tính kinh tế của dịch vụ thông tin di động
Dịch vụ thông tin di động ngoài việc là một dịch vụ thông thường nó còn là
một dịch vụ gắn liền với viễn thông do đó nó có một số đặc điểm kinh tế riêng, khác
với một loại sản phẩm hàng hoá thông thường.
Nằm trong danh mục các dịch vụ viễn thông, hiện nay dịch vụ thông tin di
động được coi là một dịch vụ thiết y
ếu. Hàng ngày, trên thế giới có khoảng 5 tỷ
người sử dụng điện thoại di động. Hầu hết các tầng lớp xã hội đều có cơ hội sử
dụng loại hình dịch vụ này. Hơn nữa, dịch vụ thông tin di động là một phần quan
trọng trong cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc của xã hội nên dịch vụ này đã trở thành
đời thuê bao trả trước), có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán và có
tính cạnh tranh cao nhất.
Dịch vụ thông tin di động có hệ số co giãn cầu theo giá dạng bậc thang giống
như đa số các dịch vụ viễ
n thông khác: Hệ số co giãn của cầu theo giá của dịch vụ
thông tin di động có đặc điểm là một sự giảm giá nhỏ sẻ không có ảnh hưởng đến sự
thay đổi về cầu. Hay nói theo ngôn ngữ kinh doanh dịch vụ di động là “mức giảm
giá nhỏ sẽ không làm tăng tốc độ phát triển thuê bao cũng như lưu lượng đàm thoại
của các thuê bao”. Khi thực hiện một mức giảm giá đủ lớn (mức ngưỡng) thì cầu
dịch vụ thông tin di động đột ngột tăng hay còn gọi là bùng nổ. Trong thực tế, mỗi
đợt giảm giá của nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động đều kéo theo số lượng thuê
bao tăng ồ ạt. Để duy trí số lượng thuê bao, trước mỗi đợt giảm giá, nhà cung cấp
phải đầu tư mở rộng mạng lưới, phát triển hệ thống phân phối để chiế
m lĩnh thị
trường. Một công việc quan trọng khác đó là các dịch vụ sau bán hàng (nâng cao
chất lượng dịch vụ, đa dạng hoá sản phẩm, phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng )
để thu hút và giữ khách hàng sử dụng dịch vụ của mình, tránh trường hợp khách
hàng sẽ rời mạng khi có nhà cung cấp dịch vụ khác tung ra các đợt giảm giá mới với
mức giảm giá hay khuyến mại cao hơn.
Ngoài ra, dịch vụ
thông tin di động còn mang một tính chất nữa của dịch vụ
viễn thông đó là tính chất kinh tế mạng. Kinh doanh dịch vụ thông tin di động gắn
liền với quá trình thông tin liên lạc giữa các thuê bao với nhau. Mỗi thuê bao có thể
được coi là một nút trong một mạng liên kết gồm nhiều thuê bao khác nhau. Khi có
nhiều “nút” thì mối liên hệ giữa các nút tăng lên và cơ hội để xuất hiện một cuộc
liên lạc giữa các nút trong mạng tăng lên. Nói cách khác, càng nhiều thuê bao thì
9
mỗi thuê bao sử dụng càng nhiều, lưu lượng đàm thoại tăng nhanh hơn cấp số cộng.
Thêm một thuê bao sẽ bán được không phải một mà nhiều đơn vị sản phẩm. Đây là
quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của
hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Bản chất đó là phản ánh mặt
chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực
(lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục
tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu
tối đa hóa lợi nhuận.
Để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh
doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của ho
ạt
động sản xuất kinh doanh. Hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh
doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp. Kết
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể là những đại lượng
cân đong đo đếm đượ
c như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị
phần, và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có
tính chất định tính như uy tín của doanh nghiệp, là chất lượng sản phẩm,
Như vậy theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối
tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra c
ủa một quá trình.
Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra / Chi phí đầu vào
Điều này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu được kết quả cao
hơn tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H>1, H càng lớn
càng chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả càng cao.
Để tăng hiệu quả (H), chúng ta có
thể sử dụng những biện pháp như: giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giữ đầu
vào không đổi, tăng đầu ra; hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra,
Chúng ta có thể cải tiến quản lý điều hành nhằm sử dụng hợp lý hơn các
nguồn lực, giảm tổn thất, để tăng cường giá trị đầu ra. Nhưng nếu quá trình sả
phí mà là sử dụng những chi phí như thế nào, có những chi phí không cần thiết ta
phải giảm đi, nhưng lại có nhữ
ng chi phí ta cần phải tăng lên vì chính việc tăng chi
phí này sẽ giúp cho DN hoàn thành mục tiêu tốt hơn, giúp cho DN ngày càng giữ
được vị trí trên thương trường.
12
Muốn đạt hiệu quả kinh doanh, DN không những chỉ có những biện pháp sử
dụng nguồn lực bên trong hiệu quả mà còn phải thường xuyên phân tích sự biến
động của môi trường kinh doanh của DN, qua đó phát hiện và tìm kiếm các cơ hội
trong kinh doanh của mình.
Xét về mặt hiệu quả chính trị xã hội: là một phạm trù phản ánh trình độ lợi
dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhằm đạt đượ
c các mục tiêu xã hội nhất định.
Đứng trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội thì hiệu quả chính trị xã hội
là chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh đối với việc giải quyết
những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện bằng các chỉ tiêu đặc
trư
ng kinh tế kỹ thuật, xác định trên cơ sở so sánh chỉ tiêu đầu ra và đầu vào của
doanh nghiệp. Nó phản ánh trình độ sử dụng nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu
kinh tế xã hội. Sau đây là một số nhóm chỉ tiêu bản đánh giá hiệu quả kinh doanh
của một doan nghiệp:
a, Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
- Chỉ tiêu năng suất lao đông:
Chỉ tiêu năng suất lao đông = (Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ / Tổng số
lao động trong kỳ) x 100%.
- Chỉ tiêu lợi nhuận bình quân cho một lao đông:
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động = (Lợi nhuận trong kỳ / Vốn lưu động
bình quân trong kỳ) x 100%.
Chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận trong kỳ. Chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả cao trong việc sử dụng vốn
lưu động.
- Tốc
độ luân chuyển vốn:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động thường xuyên vận
động không ngừng, nó tồn tại các dạng khác nhau. Có khi là tiền, có khi là hàng
hóa, vật tư, bán thành phẩm, … đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục.
14
Do đó việc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vố lưu động sẽ góp phần giải quyết việc
ách tắc, đình trệ của vốn, giải quyết nhanh nhu cầu về vốn nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp. Thông
thường người ta sử dụng đánh giá tốc độ luân chuyển vốn luân chuyển vốn qua số
vòng quay vốn lưu đông.
Số vòng quay vốn lưu động = (Doanh thu trong kỳ / Vốn lưu động bình
quân trong kỳ) x 100%.
Chỉ tiêu này cho biết vòng quay của vốn lưu động bình quân trong kỳ. Chỉ tiêu
này càng lớn chứng tỏ vòng quay của vốn tăng nhanh, điều này thể hiện việc sử
dụng vốn lưu động có hiệu quả và ngược lại.
c, Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp
Nhóm chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả kinh doanh của toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, được dùng để phản ánh chính xác hoạt động
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp và được dùng để so sánh giữa các doanh nghiệp
với nhau và so sánh giữa các doanh nghiệp qua các thời kỳ để xem xét các thời kỳ
doanh nghiệp hoạt động có đạt hiệu quả cao hay không.
- Doanh lợi của doanh thu bán hàng:
- Doanh thu trên một đồng vốn:
Doanh thu trên một đồng vốn = (Doanh thu tiêu thụ SP trong kỳ / Vốn
kinh doanh bình quân trong kỳ) x 100%.
Chỉ tiêu này cho thấy với một đồng vốn kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu.
Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế xã hội
:
Để đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Các doanh nghiệp ngoài
việc hoạt động kinh doanh phải đạt hiệu quả để tồn tại và phát triển còn phải đạt
được về hiệu qủa về kinh tế xã hội. Bao gồm các chỉ tiêu như: tăng thu ngân sách,