Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tư vấn tại Công ty cổ p - Pdf 23

Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi nền kinh tế thế giới bước vào xu thế toàn cầu hoá với tốc
độ tăng trưởng khá cao thì hoạt động xây dựng cũng tăng cao nhằm đáp ứng
nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nhà ở cho nhân dân. Theo đó
hoạt động xây dựng ở nước ta cũng phát triển mạnh mẽ có tốc độ tăng trưởng
khá cao. Việc thực hiện xây dựng các công trình nhà ở, các khu công nghiệp
hay các công trình giao thông có ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của
nền kinh tế đến chiến lược phát triển của Chính phủ. Do vậy, để thực hiện
một công trình xây dựng cần phải có dự án cụ thể và tính hợp lý. Tầm quan
trọng của hoạt động xây dựng là như vậy cho nên việc các tổ chức tư vấn về
đầu tư và xây dựng là phù hợp với thực tế.
Trên thế giới hiện nay, tư vấn đầu tư và xây dựng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế và đang phát triển rất mạnh. Ở nước ta, khi đang còn
trong chế độ nền kinh tế tập trung thì hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn
đầu tư và xây dựng là hoạt động còn xa lạ, không được nhận thức đầy đủ tầm
quan trọng của nó. Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn
đang phát triển rất mạnh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống, trong đó có
hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn đầu tư và xây dựng. Sự phát triển mạnh
mẽ của hoạt động kinh doanh này được đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt
các tổ chức tư vấn đầu tư và xây dựng ra đời.
Với những lý do quá trình như vậy mà trong đợt thực tập này, em đã
chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả kinh doanh dịch vụ tư vấn của Công Ty Cổ
Phẩn Tư Vấn – Đầu Tư – Công Nghệ Đại Hà ” là một ví dụ minh hoạ cho sự
phát triển của hoạt động kinh doanh dịch vụ tư vấn đầu tư và xây dựng ở nước
ta hiện nay.
1
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
Đề tài của em bao gồm 3 phần chính:
Chương I: Dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây dựng cơ bản.

dịch vụ, vấn đề chuyên môn hoá ngày càng cao, và sự ra đời của các Công ty
chuyên về tư vấn là một tất yếu khách quan.
- Đặc điểm dịch vụ tư vấn:
3
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
+ Quá trình tư vấn là một quá trình liên tục chia sẻ thông tin giữa các
nhà tư vấn và khách hàng.
+ Bối cảnh và mục tiêu của dịch vụ tư vấn luôn luôn cụ thể và xác
định “sản phẩm” của tư vấn cần có tính thích và có tính hiệu quả cao.
+ Yếu tố cơ bản được cấp trong quá trình tư vấn là thông tin, tri thức,
giải pháp xử lý các vấn đề.
- Kết quả của một dịch vụ tư vấn luôn là một kết quả kép đối với người
sử dụng, ngoài kết quả trực tiếp giúp giải quyết vấn đề đặt ra, người sử dụng
tư vấn còn được nâng cao năng lực do có cơ hội tiếp cận các thông tin, kiến
thức nhà tư vấn, đặc điểm này kiến cho hoạt động tư vấn đặc biệt hữu ích đối
với quá trình phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ chất lượng trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh.
1.1.2. Vai trò của dịch vụ tư vấn ở các doanh nghiệp xây dựng cơ bản
- Dịch vụ tư vấn đã xuất hiện rất sớm tại các nước phát triển. Ngay từ
khi ra đời nó đã gắn liền với sự phát triển của các doanh nghiệp. Dịch vụ tư
vấn giúp cho các doanh nghiệp phòng ngừa được các rủi ro có thể xảy ra đối
với doanh nghiệp. Mặt khác, khi các doanh nghiệp gặp sự cố, dịch vụ tư vấn
sẽ giúp cho các doanh nghiệp này khắc phục khó khăn, giải quyết sự cố. Các
nhà tư vấn thường được ví như là các bác sỹ của doanh nghiệp.
- Tư vấn cũng giúp đỡ kỹ thuật, tổ chức điều tra, khảo sát nghiên cứu
soạn thảo các văn kiện, dự án quy hoạch, thiết kế và quản lý các dự án xây
dựng cho khách hàng.
- Với vị trí độc lập và trên cơ sở kiến thức kinh nghiệm phong phú của
mình nhà tư vấn đóng vai trò cố vấn, hướng dẫn, xúc tác, đạo diễn và thực
hiện chức năng “tham mưu, đốc chiến” cho khách hàng theo từng lĩnh vực

5
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
1.2. Nội dung hoạt động dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây dựng cơ
bản
1.2.1. Nghiên cứu thị trường dịch vụ tư vấn
- Thị trường kinh doanh dịch vụ tư vấn hiện nay diễn ra sôi động để
phát triển thực sự và bền vững trong tương lai doanh nghiệp phải tiến hành
nghiên cứu toàn diện về tình hình bên ngoài tại thời điểm đó, nơi đó ở một
khoảng thời gian nhất định trong tương lai, nắm chắc những thay đổi của
nhân tố hoàn cảnh sẽ có ảnh hưởng tới ưu thế trong phục vụ những nhu cầu tư
vấn của các doanh nghiệp, đặc biệt là phải nghiên cứu tình hình và đối sách
của các đối thủ cạnh tranh như thay đổi về thực lực, biện pháp, sách lược kinh
doanh của họ, qua việc phân tích kỹ lưỡng, đúng lúc đúng cách những ảnh
hưởng có khả năng phát sinh của đối thủ đối với hoạt động kinh doanh của
ngành tư vấn, từ đó làm căn cứ để quyết định kế sách kinh doanh của Công ty
mình. Từ đó tìm kiếm cơ hội trong những thay đổi của thị trường, đồng thời
cố gắng biến những cơ hội thị trường thành cơ hội của Công ty mình, thông
qua việc đánh giá những cơ hội và nguy cơ để xác định những cơ hội mà
doanh nghiệp có thể khai thác và sử dụng. Như vậy nghiên cứu thị trường
giúp doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh đúng đắn.
- Nội dung nghiên cứu thị trường: Là nghiên cứu các yếu tố cấu thành
nên thị trường của doanh nghiệp. Cung, cầu, giá cả và sự cạnh tranh về dịch
vụ tư vấn. Thông qua nghiên cứu thị trường mới giúp doanh nghiệp làm chủ
đồng vốn, làm chủ diễn biến của thị trường để kinh doanh có lãi.
- Trên cơ sở những thông tin đầy đủ về thị trường giúp cho doanh
nghiệp có được cách nhìn tổng quát về thị trường như tổng cung, tổng cầu, giá
cả thị trường các chính sách của Nhà Nước về dịch vụ tư vấn, hiểu biết chi
tiết về các đối thủ cạnh tranh từ đó tìm ra được những cơ hội cũng như đe doạ
của thị trường. Kết hợp với phân tích khả năng của doanh nghiệp để lựa chọn
6

ra loại hàng hóa phù hợp với yêu cầu khách hàng, có chất lượng hàng hoá tốt,
cung ứng đầy đủ kịp thời và đúng địa bàn mà khách hàng yêu cầu.
1.2.3. Giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng kinh doanh
- Công tác giao dịch là một giai đoạn đầu tiên trong bất kỳ quá trình tư
vấn nào, quá trình tư vấn có thể được coi là hoàn toàn thành công nếu nhà tư
vấn có khách hàng đi đến một hợp đồng mà nhờ đó họ nhất trí làm việc cùng
nhau về việc hay một dự án.
- Trong thời gian nhập cuộc này nhà tư vấn và khách hàng phải gặp
nhau, cố gắng tìm hiểu về nhau càng nhiều càng tốt, thảo luận và xác định vấn
đề mà nhà tư vấn sắp đảm nhận, và trên cơ sở thoả thuận với nhau về phạm vi
công việc được giao dịch và phương pháp tiếp cận các kết quả của những tiếp
xúc ban đầu, những cuộc thảo luận, kiểm soát, và vạch kế hoạch thực hiện
được phản ánh sau đó trong bản hợp đồng tư vấn, chữ ký và bản hợp đồng có
thể được xem như là phần kết của giai đoạn ban đầu này.
- Để có được một cuộc giao dịch đàm phán hiệu quả và đi đến bản hợp
đồng công tác giao dịch đàm phán bao gồm các bước sau:
+ Bước 1: Phân tích tình huống đàm phán.
+ Bước 2: Lập kế hoạch cho các cuộc đàm phán sắp tới. Thiết lập
các mục tiêu chung cho đàm phán, các mục tiêu này đề ra cơ sở để đạt được
thoả thuận với bên đối phương.
+ Bước 3: Tổ chức để đàm phán có hiệu quả.
+ Bước 4: Giành và giữ quyền kiểm soát.
+ Bước 5: Kết thúc đàm phán.
+ Bước 6: Cải tiến liên tục.
- Công tác ký kết hợp đồng cũng là một khâu rất được chú trọng. Các thủ
tục ký kết hợp đồng được coi là bình thường và nên làm phụ thuộc rất nhiều vào
hệ thống luật pháp của từng nước và các thói quen kinh doanh của từng nước.
8
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
- Hình thức hợp đồng được xác lập bằng văn bản phù hợp với quy định

nghiệp muốn kinh doanh dịch vụ cần phải làm cho người tiêu dùng biết đến
sản phẩm dịch vụ của mình muốn vậy họ cần phải có kế hoạch tuyên truyền
quảng bá sản phẩm dịch vụ của mình đến với người tiêu dùng. Xúc tiến kinh
doanh trở nên vô cùng quan trọng không thể thiếu được đối với một doanh
nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Doanh nghiệp muốn
kinh doanh của mình diễn ra một cách thuận lợi thì phải có kế hoạch xúc tiến
phù hợp và đem lại hiệu quả cao. Đây là một lĩnh vực quan trọng trong hoạt
động marketing mọi giá trị của hàng hoá dịch vụ thậm chí cả những lợi ích
đạt được khi tiêu dùng sản phẩm cũng phải được thông tin đến tất cả các
khách hàng, kể cả khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng, cũng như
những người có ảnh hưởng đến việc mua sắm. Để hoạt động kinh doanh dịch
vụ đem lại hiệu quả xúc tiến kinh doanh bao gồm các hoạt động chính như:
- Quảng cáo và giới thiệu dịch vụ là để thu hút, lôi cuốn khách hàng
biết đến dịch vụ của Công ty bằng các biện pháp giới thiệu, truyền tin thích
hợp. Để lôi cuốn khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ thì Công ty phải chú
ý những yêu cầu quan trọng nhất cần đặt ra cho công tác quảng cáo.
+ Thứ nhất: Dung lượng thông tin phải cao là phải ngắn gọn, cụ thể
rõ ràng tập trung những thông tin mà khách hàng quan tâm như chất lượng
của dịch dụ, giá cả và tính có thể so sánh.
+ Thứ hai: Phải đảm bảo tính nghệ thuật nhằm thu hút sự quan tâm
của khách hàng, thông tin truyền đạt phải hấp dẫn gây được sự chú ý nhất đối
với người nhận tin.
+ Thứ ba: Độ tin cậy của thông tin, thông tin phải chính xác đảm bảo
tính trung thực đặc biệt về chất lượng sản phẩm.
10
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
- Qua việc quảng cáo Công ty biết được phản ứng của khách hàng
trước những biện pháp quảng cáo các phản ứng của đối thủ cạnh tranh trước
các chính sách bán hàng mới của Công ty.
- Hội chợ triển lãm thương mại giúp Công ty nhằm mục đích thúc đẩy

thiệu về văn hoá kinh doanh, phát tán công bố thông tin dịch vụ tư vấn.... của
Công ty làm tăng lượng khách hàng và tăng lợi nhuận cho Công ty.
- Ngoài ra Công ty tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư về nguồn
nhân lực, tài chính, công nghệ kỹ thuật, tổ chức tốt công tác quản lý dự trữ và
bảo quản thiết bị để hạn chế được những hao hụt, hư hỏng, biến chất mất
mát…để hoạt động xúc tiến kinh doanh đạt hiệu quả cao.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh dịch vụ tư vấn
- Ngày nay sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường ngày
càng trở nên gay gắt. Trong bối cảnh đó để tồn tại và phát triển bền vững
doanh nghiệp phải tổ chức tốt các hoạt động dịch vụ cả nước, trong và sau khi
bán hàng. Để thực hiện các dịch vụ trong sản xuất, kinh doanh người ta
thường tổ chức các bộ phận thực hiện dịch vụ hoặc là các doanh nghiệp độc
lập chuyên thực hiện các dịch vụ cho khách hàng. Dịch vụ được coi là vũ khí
sắc bén giúp cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.
việc thực hiện các hoạt động dịch vụ suy cho cùng hướng vào mục tiêu doanh
lợi của doanh nghiệp. Bởi thế cần phải đánh giá, phân tích hiệu quả của các
hoạt động dịch vụ. Đánh giá hiệu quả hoạt động dịch vụ là rất phức tạp và nó
có phần định lượng, song có phần không địng lượng. Do vậy tuỳ theo đặc
điểm của từng lĩnh vực dịch vụ và các hình thức dịch vụ khác nhau mà người
ta áp dụng những chỉ tiêu thích hợp để đánh giá hoạt động kinh doanh.
- Trong kinh doanh dịch vụ tư vấn, chi phí trực tiếp là chi phí sử dụng
máy móc, thiết bị và công nhân, còn chi phí gián tiếp là chi phí để cho mọi
12
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
hoạt động khác trong kinh doanh như: tiền thuế, chi phí quản lý, chi phí văn
phòng, bảo hiểm, điện thoại…
Tiền thu được trong dịch vụ phải bù đắp được các chi phí sau:
+ Chi phí trực tiếp;
+ Chi phí gián tiếp;
+ Lợi nhuận hợp lý;

phản ánh tiềm năng cạnh tranh mà còn thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất
kinh doanh. Nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ cạnh tranh trên thị trường này là
rất gay gắt, ngược lại nếu chỉ tiêu này cao thì điều đó có nghĩa là kinh doanh
đang rất thuận lợi.
- Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí kinh doanh là chỉ tiêu
phản ánh con số thực tế mà doanh nghiệp thu được sau một thời gian kinh
doanh nhất định. Để làm tăng lợi nhuận Công ty phải có những biện pháp
thích hợp thu hút được nhiều khách hàng từ đó tăng số lượng các dự án, hợp
đồng kinh doanh và làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Lợi nhuận tăng ảnh
hưởng trực tiếp đến tái đầu tư, mở rộng cải tiến tiền lương và tăng đóng góp
cho ngân sách Nhà Nước.
- Tốc độ tăng lợi nhuận phản ánh tốc độ tăng lợi nhuận của doanh
nghiệp thời kỳ này so với thời kỳ trước, con số này lớn hơn 100% thì lợi
nhuận của doanh nghiệp đã tăng so với kỳ trước và ngược lại.
Tốc độ tăng lợi nhuận =
Lợi nhuận thực hiện năm nay
x 100%
Lợi nhuận thực hiện năm trước
- Mức đóng góp cho ngân sách: Các doanh nghiệp thường đóng góp
vào ngân sách Nhà Nước dưới hình thức đóng thuế trong đó thuế mà Công ty
phải nộp bao gồm có thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp.
VAT phải nộp = VAT đầu vào – VAT đầu ra
Thuế thu nhập doanh nghiệp = Thuế suất * Lợi nhuận trước thuế
Chỉ tiêu này nói lên múc độ phát triển và quy mô kinh doanh của doanh
14
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
nghiệp. Mức đóng góp này cao cho thấy doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu
quả cao, chỉ tiêu này không những là sự quan tâm của các doanh nghiệp mà
còn là sự quan tâm lớn đối với Nhà Nước.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới dịch vụ tư vấn tại các doanh nghiệp xây

và từ đó thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển. Như vậy tiềm lực
tài chính và chất lượng kinh doanh dịch vụ tư vấn có mối quan hệ hữu cơ với
nhau và phụ thuộc vào nhau cùng thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
16
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ TƯ VẤN TẠI CÔNG TY CỔ
PHẦN TƯ VẤN – ĐẦU TƯ – CÔNG NGHỆ ĐẠI HÀ
2.1. Khái quát về Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
- Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà Là một công ty
cổ phần hoạt động trên nhiều lĩnh vực. Được thành lập và hoạt động tuân theo
luật doanh nghiệp được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VIỆT
Nam khoá X thông qua ngày 12/9/1999. Công ty cổ phần tư vấn–đầu tư –
công nghệ Đại Hà Chính thức đi vào hoạt động ngày 10/07/2007 và được
thành lập theo giấy phép đăng ký kinh doanh số 41.03.007157 do Phòng đăng
ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư – TP Hồ Chí Minh cấp ngày 29/06/2007.
Sau đây là một vài nét chính về Công ty.
- Tên đầy đủ công ty: Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ
Đại Hà.
+ Tên giao dịch: Dai Ha Technology – Invertment – Consusltancy
corporation.
+ Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần.
- Trụ sở chính của Công ty : 19A Cộng Hòa ( Scetpa Bldg Lầu 4 ), P.12,
Q.Tân Bình, TP.HCM
+ Điện thoại : (08) 6296 6705
+ Số đăng ký kinh doanh: 41.03.007157
+ Mã số thuế: 0305047933
+ Vốn điều lệ: 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng Việt Nam)
- Từ khi thành lập với nỗ lực vươn lên của mình, sự đầu tư đúng
hướng, một tập thể đoàn kết. Công ty đang mở rộng thêm nhiều lĩnh vực kinh

chế độ chính sách của Đảng và Nhà Nước.
18
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
+ Bảo vệ tài sản của Công ty, bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp, tuân
thủ pháp luật, hạch toán và báo cáo trung thực theo chế độ chính sách của
Nhà Nước quy định.
2.1.2. Hệ thống tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban của
Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
2.1.2.1. Hệ thống tổ chức của công ty
Bộ máy của công ty được tổ chức theo sơ đồ 2.1. ( Trang 20 )
2.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong Công ty
- Do đặc điểm của mỗi ngành là khác nhau nên cơ cấu tổ chức bộ máy
mỗi Công ty cũng khác nhau. Để tăng cường bộ máy quản lý và điều hành có
hiệu quả, đảm bảo quản lý trên tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư – công nghệ Đại Hà
như sau:
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý của Công ty, có toàn quyền
nhân danh Công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền
lợi của Công ty.
- Tổng giám đốc: Là đại diện pháp nhân của Công ty chịu trách nhiệm
trước pháp luật về quá trình hoạt động và quản trị mọi mặt của Công ty theo
đúng đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, phát triển sản phẩm, hoàn
thành các nghĩa vụ của một doanh nghiệp Nhà Nước, bảo toàn vốn, xây dựng
Công ty ngày một lớn mạnh.
- Giám đốc tài chính: Có nhiệm vụ trực tiếp quản lý trong lĩnh vực
kinh doanh của Công ty, hạch toán tài vụ cũng như quá trình sản xuất kinh
doanh trong Công ty.
19
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

phát luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao. Thường xuyên
trao đổi công việc với các Phó giám đốc Công ty trong hoạt động của mình,
và đồng thời giữ mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo Công ty, đảng uỷ và
công đoàn Công ty. Giám đốc có trách nhiệm sắp xếp các phòng ban, các đơn
vị sản xuất phù hợp với chức năng nhiệm vụ được giao.
- Giám đốc TT tư vấn thiết kế hoạch: Là người trực tiếp tham gia điều
hành hoạt động trong việc chỉ huy về các lĩnh vực: lĩnh vực lịch trình thực
hiện kế hoạch, các thiết bị kỹ thuật và hướng phát triển của công ty về các
mặt kỹ thuật ….được phân công, thay mặt Công ty và chịu trách nhiệm trước
tổng giám đốc và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
được giao. Có trách nhiệm sắp xếp các phòng ban, các đơn vị sản xuất phù
hợp với chức năng nhiệm vụ được giao.
Để giúp ban giám đốc quản lý công việc có các phòng ban chức năng
được tổ chức theo yêu cầu của công việc quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý
kỹ thuật bao gồm: Ban quản lý dự án, phòng tư vấn thiết kế, phòng đầu tư,
phòng kế toán, phòng hành chính. Chức năng nhiệm vụ của các phòng như
sau:
- Ban quản lý dự án:
+ xây dựng kế hoạch sản xuất, giá thành kế hoạch của sản phẩm, ký
kết hợp đồng sản xuất, quyết toán sản lượng, tham gia đề xuất với Ban Tổng
giám đốc các quy chế quản lý kinh tế áp dụng nội bộ, những kế hoạch thực
hiện phù hợp với diễn biến thị trường.
+ Phân tích hoạch động sản xuất kinh doanh trước, trong và sau khi
sản xuất, thiết lập mối quan hệ với các cấp, lập toàn bộ hồ sơ dự toán công
trình, định giá và lập phiếu giá thanh toán.
21
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
+ Xây dựng kế hoạch kinh doanh hàng năm, dài hạn, ngắn hạn cho
Công ty. Nắm bắt tình hình thực hiện các dự án của Công ty. Đề xuất với Ban
Tổng giám đốc Công ty.

mô hình như vậy thì trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các nhóm được
xác định rất rõ ràng. Điều đó đã giúp nâng cao hiệu quả sử dụng lao động của
Công ty. Tuy nhiên việc hoạt động của toàn bộ hệ thống có được tốt hay
không, hiệu quả đến đâu còn phụ thuộc vào sự phối hợp của các phòng ban,
bộ phận, các nhóm trong tổ chức.
2.2. Thực trạng dịch vụ tư vấn tại Công ty cổ phần tư vấn – đầu tư –
công nghệ Đại Hà
2.2.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần tư vấn –
đầu tư – công nghệ Đại Hà
2.2.1.1. Đặc điểm về nguồn nhân lực
- Yếu tố con người luôn được Công ty coi trọng và được bổ sung, đào
tạo nâng cao nghiệp vụ một cách thường xuyên. Công ty hoạt động có hiệu
quả hay không phụ thuộc rất lớn vào bộ phận này. Kế thừa và phát huy truyền
thống đó hàng năm Công ty rất quan tâm đến việc xây dựng đội ngũ kỹ sư, kỹ
thuật, cán bộ quản lý giỏi và đội ngũ công nhân có tay nghề cao, kỹ thuật
chuyên sâu.
- Trong nhiều năm nay tính đến tháng 12/2010 tổng số cán bộ công
nhân viên của Công ty lên đến 45 người tăng lên 30 người so với tháng
7/2007. Trong những năm qua cùng với sự tăng trưởng về sản xuất kinh
doanh đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty không ngừng lớn mạnh.
Hiện Công ty có đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm với chuyên môn vững vàng
có khả năng khai thác ứng dụng hiệu quả những tiến độ kỹ thuật. Ngoài ra,
Công ty còn đầu tư, đào tạo và tuyển chọn đội ngũ công nhân lành nghề luôn
23
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
sẵn sàng mọi nhiệm vụ được giao. Số người tăng lên như vậy có thể do Công
ty tăng thêm nhiều hợp đồng, các công trình đi vào thi công, quy mô hoạt
động kinh doanh của Công ty được mở rộng.
Bảng 2.1. Trình độ học vấn của cán bộ nhân viên
STT

doanh, tránh cho Công ty không bị lạc hậu về công nghệ mà còn phù hợp với
công nghệ mới mà vẫn tiết kiện được chi phí sản xuất kinh doanh. Đó là cơ sở
giúp tăng tỷ trọng cơ giới hoá trong ngành xây dựng, nâng cao năng suất lao
24
Báo cáo khóa luận tốt nghiệp GVHD:TS. Trương Quang Dũng
động, năng lực sản xuất, tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của Công ty.
2.2.1.3. Đặc điểm về tài chính
- Tài chính là yếu tố mang tính quyết định đến tiến độ, chất lượng và
hiệu quả của dự án. Một nền tài chính chắc chắn đủ để đáp ứng hoàn thành kế
hoạch sẽ được Công ty huy động từ các nguồn vốn tự có, vốn vay, ký các hợp
đồng tín dụng với các Công ty tài chính, các ngân hàng… với tổng giá trị từ 5
đến 15 tỷ đồng.
- Qua 4 năm đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính
của Công ty đã có rất nhiều thay đổi. Năm 2007, khi mới thành lập tổng số
vốn góp của các thành viên sáng lập nên Công ty chỉ có 15.000.000.000
VNĐ. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tổng số vốn kinh doanh của
Công ty không ngừng tăng lên, vốn kinh doanh của Công ty được trích từ lợi
nhuận qua từng năm tài chính và được bổ sung thêm bởi chính các thành viên
sáng lập của Công ty .
- Tổng doanh thu thực hiện trong 4 năm từ 2008 đến năm 20010 được
cụ thể như sau ( số liệu được tính trên tổng sản lượng toàn Công ty ):
Bảng 2.2. Doanh thu của Công ty qua những năm hoạt động
Đơn vị: VNĐ
Năm Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Doanh số
11.874.289.86
4
15.368.468.974 20.267.764.851
(Nguồn: Phòng tài chinh-kế toán Công ty )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status